Bản án số 16/2019/KDTM-ST ngày 20/09/2019 của TAND TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 16/2019/KDTM-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 16/2019/KDTM-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 16/2019/KDTM-ST ngày 20/09/2019 của TAND TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng tín dụng |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Buôn Ma Thuột (TAND tỉnh Đắk Lắk) |
| Số hiệu: | 16/2019/KDTM-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 20/09/2019 |
| Lĩnh vực: | Kinh doanh thương mại |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Ngân hàng nông nghiệp và phát triển NT Việt nam khởi kiện ông Võ Văn M và bà Đinh Thị Minh N |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HÔI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TP. BUÔN MA THUỘT Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 16/2019/KDTM-ST
Ngày 20/9/2019
“V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Viết Oanh và ông Hồ Xuân Giao
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố
Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Cường – Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 20/9/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh
Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 18/2018/KDTM-ST ngày
05/3/2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số: 02/2019/QĐXX-ST ngày 08/4/2019, Quyết định hoãn phiên tòa số
01/2019/QĐH-TA ngày 25/4/2019,Quyết định tạm ngừng phiên tòa số
02/2019/QĐST-KDTM ngày 13/5/2019 và Thông báo về việc tiếp tục tiến hành phiên
tòa ngày 19/8/2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
Địa chỉ: Số 18 đường T, phường M, qun T, thành phố Hà Nội.
+ Đại diện theo Pháp luật: Ông Trịnh Ngọc K - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng
thành viên Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
+ Đại diện k đơn khi kiện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc T - Chức vụ:
Giám đốc Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh B
Đắk Lắk.
2
+ Đại diện tham gia t tụng theo ủy quyền: Ông Nguyễn Cao H – Chức vụ:
Giám đốc phòng giao dịch T trực thuộc Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn Việt Nam - Chi nhánh B ( Có mặt).
Địa chỉ: 58 đường P, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
2. Bị đơn: Ông Võ Văn M – Sinh năm: 1976 ( Có mặt)
Bà Đinh Thị Minh N – Sinh năm: 1975 ( Vắng mặt)
Đều trú tại: 63/29 đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1 Hợp tác xã vn tải 1-5
Người đại diện theo pháp lut: Bà Hoàng Thị D ( Vắng mặt)
Trú tại: 247 đường L, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
3.2 Ông Trần Trọng H ( Vắng mặt)
Trú tại: 97 đường W, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai.
3.3 Bà Cao Thị L ( Vắng mặt)
Trú tại: Thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
3.4 Bà Hoàng Thị L ( Vắng mặt)
Trú tại: 14 liên gia 3, tổ dân phố 4, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
3.5 Ông Mai Quốc C ( Vắng mặt)
Trú tại: 302 đường L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*/ Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh B ông Nguyễn Cao H trình bày:
Ngày 24/12/2010 Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Đắk Lắk
nay là (Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam Chi nhánh B) –
Phòng giao dịch T cho vợ chồng ông Võ Văn M và bà Đinh Thị Minh N vay số tiền
500.000.000đ theo hợp đồng tín dụng số 5200LAV201013785, thời hạn vay 24 tháng,
lãi suất tại thời điểm ký hợp đồng là 20,4%/tháng. Lãi suất quá hạn là 150% lãi suất
trong hạn. Mục đích vay là kinh doanh xe khách.
Để đảm bảo cho khoản vay ông M và bà N đã thế chấp tài sản là cavec xe số
007020 của Hợp tác xã V biển số xe 47V-2447, xe khách nhãn hiệu Huyndai, màu
sơn trắng, đỏ, số máy D6CA2055568, số khung 18SP2C908288 do công an tỉnh Đắk
Lắk cấp ngày 21/12/2010. Toàn bộ tài sản đã ký hợp đồng thế chấp động sản số
3
15/HĐTC ngày 21/12/2010 giữa Ngân hàng và ông M, bà N. Được đăng ký giao dịch
bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch tại Đà Nẵng ngày 28/12/2010.
Quá trình vay vốn phía bà N và ông M chưa trả được khoản nợ gốc nào, đã trả
lãi đến ngày 03/3/2011 với số tiền 51.850.000đ.
Năm 2012 Ngân hàng có đơn đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh
Đắk Lắk xem xét hành vi làm thất thoát tài sản của nhà nước. Tuy nhiên, phía Cơ
quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột có văn bản trả lời không có
dấu hiệu tội phạm, Vì vy nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông M, bà N có nghĩa vụ
trả cho Ngân hàng 500.000.000đ nợ gốc và lãi suất tính đến ngày 25/3/2019 là
1.146.848.334đ và tiếp tục tính lãi từ ngày 26/3/2019 cho đến khi trả xong nợ.
Hiện nay, Ngân hàng không biết xe ô tô biển số xe 47V-2447 do ai đang quản
lý và cũng không biết xe ô tô này đang ở đâu. Vì vy, Ngân hàng đề nghị phía Hợp
tác xã V cho biết về hiện trạng xe thế chấp.
Trường hợp ông M, bà N không thanh toán được nợ thì Ngân hàng yêu cầu xử
lý tài sản thế chấp theo quy định.
*/ Bị đơn bà Đinh Thị Minh N trình bày: Ngày 20/5/2010 chồng tôi là ông Võ
Văn M có chạy xe thuê cho ông Mai Quốc C ( hiện nay chúng tôi không biết ông C
đang ở đâu, địa chỉ nào) với xe ô tô mang biển số xe 47V-2447, chạy tuyến Bắc -
Nam, chúng tôi không biết xe trên đứng tên Hợp tác xã v.
Khi chồng tôi chạy xe cho ông C được một thời gian thì ông C nhờ chồng tôi
lên Ngân hàng ký đáo hạn vì xe ô tô 47V-2447 đang thế chấp ở Ngân hàng chúng tôi
hoàn toàn không biết việc chúng tôi có ký hợp đồng thế chấp ngày 24/12/2010 giữa
Ngân hàng NN &PTNT Việt Nam – Phòng giao dịch T với vợ chồng tôi để vay số
tiền 500.000.000đ theo hợp đồng tín dụng số 5200LAV201013785, thực tế chúng tôi
cũng không nhn số tiền này.
Nay Ngân hàng khởi kiện vợ chồng tôi yêu cầu trả số nợ 500.000.000đ tiền nợ
gốc và lãi suất tính đến ngày 25/3/2019 là 1.146.848.334đ và tiếp tục tính lãi từ ngày
26/3/2019 cho đến khi trả xong nợ, chúng tôi đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định
của pháp lut.
*/ Đồng bị đơn ông Võ Văn M trình bày: Tôi đồng ý với ý kiến của vợ là bà
Đinh Thị Minh N và không có ý kiến gì khác.
*/ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
*/ Đại diện theo pháp luật của Hợp tác xã v bà Hoàng Thị D trình bày: Đối
với chiếc xe ô tô mang biển số 47V-2447 đứng tên Hợp tác xã v. Xe do bà Hoàng Thị
L là chủ sở hữu, ông M chỉ là lái xe thuê cho bà L. Sau khi bà L có đơn xin vào Hợp
tác xã v ngày 20/12/2010. Hợp tác xã có quyết định kết nạp xã viên, tiếp nhn ô tô
mang biển kiểm soát 47V-2447 vào hợp tác xã để tham gia kinh doanh vn tải, đồng
thời cùng ngày Hợp tác xã v đã cùng xã viên ký cam kết kinh tế. Xe 47V-2447 mang
4
tên Hợp tác xã nhưng chủ sở hữu là bà L, và chủ sở hữu tự quản lý xe, vì vy hiện
nay, xe ô tô trên đang ở đâu thì phía Hợp tác xã không biết và không có nghĩa vụ khai
báo cho Ngân hàng. Ngày 21/12/2010 đại diện Hợp tác xã v là ông Hoàng Danh K có
ký thế chấp tài sản trên cho Ngân hàng. Nay Ngân hàng khởi kiện phía Hợp tác xã thì
yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp lut.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột
phát biểu như sau:
- Về tố tụng: Quá trình Điều tra, thu thp chứng cứ của vụ án từ khi thụ lý đến
khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán đã giải quyết đúng trình tự của Bộ
lut tố tụng dân sự. Tuy nhiên hồ sơ thụ lý ngày 05/3/2018 nhưng ngày 08/4/2019 Tòa
án mới ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử là vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử. Tại
phiên tòa HĐXX và đương sự đã chấp hành đúng các quy định của pháp lut. Đối với
bị đơn ông Võ Văn M có mặt còn bà Đinh Thị Minh N vắng mặt tại phiên tòa là
không chấp hành pháp lut vi phạm Điều 70, Điều 71; Điều 72; Điều 227; Điều 238
của BLTTDS.
- Về nội dung: Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số 5200LAV201013785 ngày
24/12/2010 giữa Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Đắk Lắk nay là
(Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam C) – Phòng giao dịch T
với bị đơn ông Võ Văn M và bà Đinh Thị Minh N thì đề nghị HĐXX áp dụng Điều
471; Điều 474; Điều 476 BLDS năm 2005; Điều 91 Lut tổ chức tín dụng; Điều 30;
Điều 35; Điều 39; Điều 144; 147; Điều 220; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273
BLTTDS năm 2015 để chấp nhn đơn khởi kiện của Ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn Việt Nam buộc ông Võ Văn M và bà Đinh Thị Minh N có trách
nhiệm thanh toán cho Ngân hàng 1.722.781.666 đồng. Trong đó: tiền nợ gốc là
500.000.000 đồng và lãi suất 1.222.781.666 đồng. Trường hợp ông Võ Văn M và bà
Đinh Thị Minh N không thanh toán được khoản nợ trên thì yêu cầu xử lý tài sản thế
chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Bị đơn phải chịu án phí DSST theo quy định của
pháp lut.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng
tín dụng”thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột
theo quy định tại Điều 30; Điều 35; Điều 39 Bộ lut tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Đinh Thị Minh N và những người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tp tham gia phiên tòa hợp lệ nhiều lần mà vẫn
vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 BLTTDS Hội đồng xét xử, quyết
định xét xử vắng mặt bị đơn bà Nguyệt và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan.
[3] Về nội dung vụ án:
5
Ngày 24/12/2010 vợ chồng ông Võ Văn M và bà Đinh Thị Minh N vay của
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Đắk Lắk nay là (Ngân hàng nông
nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam C) – Phòng giao dịch T số tiền 500.000.000
đồng (Năm trăm triệu đồng chẵn) là có căn cứ được chứng minh qua hợp đồng tín
dụng số 5200LAV201013785 ngày 24/12/2010. Vì vy Ngân hàng nông nghiệp và
phát triển nông thôn Việt Nam khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông M, bà N trả cho Ngân
hàng 500.000.000 đồng là có căn cứ đúng pháp lut. Việc ký kết hợp đồng tín dụng
giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, nội dung hợp đồng không trái đạo đức xã hội,
pháp lut của nhà nước. Theo nội dung hợp đồng tín dụng hai bên đã ký kết thì đến
ngày 20/12/2011 vợ chồng ông M, bà N phải thanh toán cho nguyên đơn 200.000.000
đồng và ngày 20/12/2012 thánh toán 300.000.000 đồng nợ gốc nhưng đến nay phía bị
đơn ông M, bà N mới trả cho nguyên đơn tiền lãi tính đến ngày 03/3/2011 với số tiền
51.849.999đ. Như vy bị đơn vợ chồng ông M, bà N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của
bên vay theo hợp đồng đã ký kết và theo quy định tại khoản 1 Điều 474 Bộ lut dân
sự.
Quá trình giải quyết vụ án thì vợ chồng ông M, bà N cho rằng ông C nhờ ông
M lên Ngân hàng ký đáo hạn vì xe ô tô 47V-2447 đang thế chấp ở Ngân hàng chứ ông
M, bà N không nhớ có việc ký hợp đồng tín dụng ngày 24/12/2010 giữa Ngân hàng
NN &PTNT Việt Nam – Phòng giao dịch T với vợ chồng ông bà để vay số tiền
500.000.000đ, theo hợp đồng tín dụng số 5200LAV201013785 và ông bà cũng không
nhn số tiền này. Tại biên bản làm việc ngày 25/3/2019 bà N xác định không ký hợp
đồng tín dụng trên. Tuy nhiên bà N không yêu cầu Tòa án giám định chữ ký, chữ viết
của bà trong hợp đồng tín dụng. Tại phiên tòa ông M thừa nhn chữ ký, chữ viết của
ông trong hợp đồng tín dụng và không yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết trong hợp
đồng tín dụng giữa vợ chồng ông và Ngân hàng. Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng và
hợp đồng thế chấp động sản thì việc ký kết hợp đồng tín dụng giữa các bên là hoàn
toàn tự nguyện, nội dung hợp đồng không trái đạo đức xã hội, pháp lut của nhà nước.
Vì vy việc ông M, bà N cho rằng không vay số tiền trên là không có căn cứ và ông
M, bà N cũng không cung cấp được chứng cứ gì chứng minh việc mình không vay số
tiền trên ngoài hợp đồng tín dụng mà vợ chồng ông M, bà N đã ký kết với Ngân hàng.
Do đó ông M, bà N cho rằng không ký Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng nông
nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Đắk Lắk – Phòng giao dịch Tân Hòa để vay số
tiền 500.000.000 đồng là không có cơ sở chấp nhn.
Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn Việt Nam yêu cầu bị đơn vợ chồng ông Võ Văn M và bà Đinh Thị
Minh N trả cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam số tiền vay
gốc 500.000.000đ và toàn bộ lãi suất theo quy định. Nếu bị đơn ông M, bà N không
trả được cho Ngân hàng thì đề nghị HĐXX căn cứ theo mục 3.2 Điều 3 của Hợp đồng
thế chấp động sản số 15/HĐTC ngày 21/12/2010 để buộc Hợp tác xã v thực hiện việc
trả nợ thay cho bị đơn ông M, bà N.
6
Xét yêu cầu của Ngân hàng là không có căn cứ, bởi lẽ ngày 21/12/2010 theo
Hợp đồng thế chấp giữa bên nhn thế chấp là Ngân hàng nông nghiệp và phát triển
nông thôn tỉnh Đắk Lắk nay là (Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt
Nam C) - Phòng giao dịch T (Bên A), bên thế chấp là Hợp tác xã v (Bên B) và bên
vay vốn là ông Võ Văn M, bà Đinh Thị Minh N (Bên C) và tại Mục 1.1 Điều 1 của
Hợp đồng thế chấp thì Bên B là chủ sở hữu hợp pháp tài sản là xe ô tô khách hiệu
Huyndai 46 ghế, BS 47V-2447, màu sơn trắng, đỏ, cavec xe số 007020, số máy
D6CA2055568, số khung 18SP2C908288 do công an tỉnh Đắk Lắk cấp ngày
21/12/2010. Và tại Điều 2 của Hợp đồng thế chấp ... Bên B tự nguyện đem tài sản nói
trên thế chấp cho bên A để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của Bên C đối với Bên A.
Theo đó nếu Bên C vợ chồng ông M, bà N không trả được nợ hoặc trả không đầy đủ
thì Ngân hàng có quyền bán phát mãi tài sản mà Bên B là Hợp tác xã v đã thế chấp để
thu hồi nợ cho Ngân hàng. Vì đây là Hợp đồng thế chấp tài sản chứ không phải là hợp
đồng bảo lãnh, vì vy Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam yêu
cầu người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Hợp tác xã v có trách nhiệm trả nợ thay
cho bị đơn ông M, bà N là không có căn cứ.
Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn tỉnh Đắk Lắk nay là (Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
Việt Nam) là có cơ sở. Căn cứ vào Điều 471, khoản 1 Điều 474 của Bộ lut dân sự,
Điều 27, Điều 37 của Lut Hôn nhân và gia đình năm 2014 để buộc bị đơn vợ chồng
ông Võ Văn M và bà Đinh Thị Minh N trả cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển
nông thôn Việt Nam số tiền vay gốc 500.000.000đ và toàn bộ lãi suất theo quy định là
hoàn toàn có cơ sở pháp lut.
Về lãi suất: Xét hợp đồng vay tài sản các bên có thỏa thun lãi suất 20.4%/
năm và mức lãi suất quá hạn theo như thỏa thun. Vì vy tiền lãi được tính như sau:
Lãi suất trong hạn đã trả:
- Lãi suất trong hạn từ ngày 24/12/2010 đến ngày 24/6/2011 là 183 ngày:
500.000.000đ x 20.4% x 183 ngày = 51.849.999 đồng (đã trả)
Lãi suất trong hạn chưa trả:
- Lãi suất trong hạn từ ngày 25/6/2011 đến ngày 20/9/2019 là 3.010 ngày:
500.000.000đ x 20.4% x 3.010 ngày = 852.833.333 đồng.
Lãi suất quá hạn chưa trả:
Lãi suất quá hạn tính từ ngày 21/12/2011 đến ngày 20/12/2012 là 366 ngày:
200.000.000đ x 10.2% x 366 ngày = 20.740.000 đồng.
Lãi suất quá hạn tính từ ngày 21/12/2012 đến ngày xét xử sơ thẩm 20/9/2019 là
2.465 ngày:
200.000.000đ x 10.2% x 2.465 ngày = 349.208.333 đồng.
7
Tổng cộng tiền lãi vợ chồng ông M, bà N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng nông
nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam được khấu trừ đi 51.849.999 đồng tiền lãi đã
thanh toán. Cụ thể:
Tiền lãi 1.274.631.665 đ – 51.849.999 đ (đã thanh toán) = 1.222.781.666 đồng.
Như vy, tổng số tiền vay gốc và lãi suất phát sinh vợ chồng ông M, bà N có
nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam,
khấu trừ đi số tiền lãi đã thanh toán là: 1.222.781.666 đ + 500.000.000 đ =
1.722.781.666 đồng.
Vợ chồng ông Võ Văn M và bà Đinh Thị Minh N phải tiếp tục thanh toán cho
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam khoản nợ lãi phát sinh theo
hợp đồng tín dụng số 5200LAV201013785 ngày 24/12/2010 kể từ ngày 21/9/2019
cho đến khi trả hết nợ.
Do vy xét yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng nông nghiệp và phát triển
nông thôn Việt Nam yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng Võ Văn M và bà Đinh
Thị Minh N phải trả cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
tổng số nợ 1.722.781.666đ (Trong đó 500.000.000đ tiền gốc; 1.222.781.666 đồng tiền
lãi) và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 5200LAV201013785 ngày 24/12/2010
kể từ ngày 21/9/2019 cho đến khi trả hết nợ gốc là phù hợp với Điều 471, Điều 474
Bộ lut dân sự. Cần chấp nhn.
Đối với tài sản thế chấp là cavec xe số 007020 của HTX v biển số xe 47V-
2447, xe khách nhãn hiệu Huyndai, màu sơn trắng, đỏ, số máy D6CA2055568, số
khung 18SP2C908288 do công an tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 21/12/2010. Toàn bộ tài sản
đã ký hợp đồng thế chấp động sản số 15/HĐTC ngày 21/12/2010 giữa Ngân hàng và
ông M, bà N. Được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch tại Đà
Nẵng ngày 28/12/2010. Do vy trường hợp ông Võ Văn M và bà Đinh Thị Minh N
không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng nông
nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam thì tài sản thế chấp nêu trên được bán đấu
giá để trả nợ cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam; Trường
hợp ông Võ Văn M và bà Đinh Thị Minh N thực hiện trả nợ đầy đủ cho Ngân hàng
nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam mà không phải xử lý tài sản thế chấp
thì Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam phải trả cho ông Võ
Văn M và bà Đinh Thị Minh N là cavec xe số 007020 của Hợp tác xã v biển số xe
47V-2447, xe khách nhãn hiệu Huyndai, màu sơn trắng, đỏ, số máy D6CA2055568,
số khung 18SP2C908288 do công an tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 21/12/2010 là phù hợp.
Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhn nên nguyên đơn Ngân
hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam không phải chịu án phí KDTM.
Hoàn trả lại cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam số tiền tạm
ứng án phí là 27.987.000 đồng do bà Ngô Thị Quỳnh N nộp thay theo biên lai số
0003241 ngày 12/2/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột.

8
Bị đơn vợ chồng ông Võ Văn M và bà Đinh Thị Minh N phải chịu toàn bộ án
phí KDTM là 63.683.450 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 30; Điều 35; Điều 39; Điều 144; Điều 147; Điều 220; Điều
227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 BLTTDS 2015.
- Căn cứ các Điều 471; Điều 474; Điều 476; Điều 342; Điều 348; Điều 349;
Điều 350; Điều 351; Điều 355 BLDS năm 2005.
- Căn cứ Điều 91 Luật tổ chức tín dụng.
-
Áp dụng Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhn yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn Việt Nam.
Buộc vợ chồng ông Võ Văn M và bà Đinh Thị Minh N phải trả cho Ngân hàng
nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam tổng số tiền 1.722.781.666đ (Trong đó
500.000.000đ tiền gốc; 1.222.781.666 đồng tiền lãi tạm tính đến ngày 20/9/2019) và
lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 5200LAV201013785 ngày 24/12/2010 kể từ
ngày 21/9/2019 cho đến khi trả hết nợ gốc.
Trường hợp ông Võ Văn M và bà Đinh Thị Minh N không thực hiện hoặc thực
hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn Việt Nam thì tài sản thế chấp là cavec xe số 007020 của HTX v biển số xe 47V-
2447, xe khách nhãn hiệu Huyndai, màu sơn trắng, đỏ, số máy D6CA2055568, số
khung 18SP2C908288 do công an tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 21/12/2010. Toàn bộ tài sản
đã ký hợp đồng thế chấp động sản số 15/HĐTC ngày 21/12/2010 giữa Ngân hàng và
ông M, bà N. Được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch tại Đà
Nẵng ngày 28/12/2010 thì tài sản thế chấp nêu trên được bán đấu giá để thu hồi nợ
cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam; Trường hợp ông Võ
Văn M và bà Đinh Thị Minh N thực hiện trả nợ đầy đủ cho Ngân hàng nông nghiệp
và phát triển nông thôn Việt Nam mà không phải xử lý tài sản thế chấp thì Ngân hàng
nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam phải trả cho ông Võ Văn M và bà Đinh
Thị Minh N là cavec xe số 007020 của Hợp tác xã v biển số xe 47V-2447, xe khách
nhãn hiệu Huyndai, màu sơn trắng, đỏ, số máy D6CA2055568, số khung
18SP2C908288 do công an tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 21/12/2010.
- Về án phí: Bị đơn vợ chồng ông Võ Văn M và bà Đinh Thị Minh N phải chịu
63.683.450đ đồng (Sáu mươi ba triệu, sáu trăm tám mươi ba ngàn, bốn trăm năm
mươi đồng) án phí KDTM.
Hoàn trả lại cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam số
tiền tạm ứng án phí là 27.987.000 đồng do bà Ngô Thị Quỳnh N nộp thay theo biên
9
lai số 0003241 ngày 12/2/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma
Thuột, tỉnh Đắk Lắk
Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được
quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhn được bản án
hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thị hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi ành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án
dân sự thì thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự”.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Đắk Lắk; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND Tp.BMT;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- CCTHADS Tp.BMT;
- Các đương sự; Đã ký
- Lưu HS vụ án.
Nguyễn Thị Thanh
10
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm