Bản án số 158/2020/HNGĐ ngày 28/09/2020 của TAND huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 158/2020/HNGĐ
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 158/2020/HNGĐ
| Tên Bản án: | Bản án số 158/2020/HNGĐ ngày 28/09/2020 của TAND huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Yên Mỹ (TAND tỉnh Hưng Yên) |
| Số hiệu: | 158/2020/HNGĐ |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 28/09/2020 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Y
TỈNH HƯNG YÊN
Bản án số: 158/2020/HNGĐ - ST
Ngày 28 tháng 9 năm 2020
(V/V Tranh chấp hôn nhân và gia đình)
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Nhiên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Minh Đón – Nguyên bí thư Đoàn xã H;
2. Ông Lê Xuân Thuật – Cán bộ hưu trí xã Y.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Thuận - Thư ký viên chính Tòa án nhân dân huyện Y,
tỉnh H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Y xét xử sơ thẩm công
khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 253/2020/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2019 về
việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2020/QĐXX-
ST ngày 03 tháng 8 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2020/QĐST – HPT ngày 18 tháng
8 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số: 12/2020/QĐST – HPT ngày 10 tháng 9 năm 2020 giữa
các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Ngô Văn Ng, sinh năm 1982 (Có mặt);
2. Bị đơn: Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1984 (Vắng mặt);
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Cháu Ngô Xuân B, sinh ngày 06/8/2001 (Vắng mặt);
Cháu Ngô Phương T, sinh ngày 31/10/2003 (Vắng mặt);
Cháu Ngô Xuân H2, sinh ngày 20/7/2008 (Vắng mặt).
Đều có địa chỉ cư trú: thôn T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh H
Người đại diện hợp pháp cho cháu T và cháu H2: Anh Ngô Văn Ng và chị Đỗ Thị H ( là bố, mẹ
đẻ)
4. Những người làm chứng: Ông Ngô Văn N (vắng mặt)
2
NỘI DUNG VỤ ÁN
Anh Ngô Văn Ng kết hôn với chị Đỗ Thị H trên cơ sở tự nguyện có tổ chức đăng ký kết hôn
tại UBND thị trấn Y vào ngày 03/11/2003. Sau khi kết hôn xong anh Ng và chị H chung sống hạnh
phúc đến năm 2019 thì mâu thuẫn, nguyên nhân theo anh Ng là do chị H ngoại tình còn theo chị H
thì do vợ chồng tính tình không hợp, thường bất đồng với nhau, anh Ng nghi ngờ chị ngoại tình, cả
anh Ng và chị H xác định vợ chồng đã chính thức ly thân nhau từ tháng 9 năm 2019 đến nay, thời
gian ly thân không ai quan tâm gì đến ai, cuộc sống của ai biết của người đó. Anh Ng xin ly hôn
chị H, chị H xác định cuộc sống chung của vợ chồng không có hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng đã
trở nên trầm trọng nhưng chị mong muốn được đoàn tụ để cùng nuôi dạy con chung còn nếu anh
Ng cương quyết chị đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
Về con chung: Anh Ng và chị H có ba con chung là Ngô Xuân B, sinh ngày 06/8/2001; Ngô
Phương T, sinh ngày 31/10/2003; Ngô Xuân H2, sinh ngày 20/7/2008. Hiện nay cháu B đã trưởng
thành cả anh Ng và chị H không yêu cầu giải quyết, còn cháu Tvà cháu H2 đang ở với anh Ng.
Anh Ng xin được nuôi dưỡng cả hai con chung, chị H đồng ý để anh Ng nuôi dưỡng cả hai
con chung. Nguyện vọng của cháu Tvà cháu H2 đều xin được ở với anh Ng.
Về tài sản chung của Anh Ng và chị H gồm:
1. Đất ở: Thửa đất số 971, tờ bản đồ số diện tích 99 m
2
mang tên Ngô Văn Ng và Đỗ Thị H ở thôn
T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh H theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00131 do UBND
huyện Y cấp ngày 03 tháng 7 năm 2013 trị giá: 35.000.000 đồng/m
2
x 99m
2
= 3.465.000.000 đồng.
2. Tài sản trên đất:
2.1. Nhà 03 tầng xây lệch diện tích xây dựng 3 tầng = 280 m
2
trị giá: 5.000.000 đồng /m
2
x 280m
2
= 1.400.000.000 đồng, trừ khấu hao 5 năm = 10%. Như vậy giá trị nhà còn lại là 1.260.000.000
đồng.
2.2. Đồ đạc trong nhà gồm:
- 01 xe máy nhãn hiệu SH150 mua năm 2018. Giá trị còn lại là 75.000.000 đồng.
- 01Án thờ bằng gỗ gụ mua năm 2016. Giá trị là 20.000.000 đồng.
- 01 máy giặt hiệu Twin mua năm 2019. Giá trị còn lại là 3.000.000 đồng.
- 01 tivi Sam Sung 55inh mua năm 2017. Giá trị còn lại 8.000.000 đồng.
- 01 tivi Sam Sung 40 inh mua năm 2015. Giá trị còn lại 2.000.000 đồng.
- 02 tủ 2 buồng nhôm kính mua năm 2010. Giá trị còn lại là 2.000.000 đồng/2tủ
- 01 tủ quần áo 4 buồng bằng gỗ hương mua năm 2017. Giá trị là 25.000.000 đồng.
- 01 kệ gỗ hương mua năm 2017. Giá trị là 5.000.000 đồng.
- 02 gường bằng gỗ gụ mua năm 2000. Giá trị là 12.000.000 đồng/2giường.
- 01 tủ lạnh Panasonic 2 cửa 500 lít mua năm 2019. Giá trị còn lại là 25.000.000 đồng.
- 01 quạt hơi nước mua năm 2019. Giá trị còn lại là 1.000.000 đồng.
- 01 bộ bàn ghế kê phòng khách bằng gỗ hương (6 món) + kệ ti vi bằng gỗ hương mua năm 2017.
Giá trị là 60.000.000 đồng.
- 02 điều hòa Panasonic 9.000 BTU mua năm 2015. Giá trị còn lại là 10.000.000 đồng/2 cái.
- 02 điều hòa Panasonic 12.000 BTU mua năm 2015. Giá trị còn lại là 12.000.000 đồng/2 cái.
3
- Lán vẩy lợp tôn kích thước 4,5mx4m; cửa khung sắt bịt tôn xây dựng trên vỉa hè lấn chiến trên
đất giao thông trị giá 3.750.000đồng.
Tổng trị giá tài sản của anh Ng và chị H là: 4.988.750.000 đồng
Anh Ng đề nghị Tòa án chia đôi tài sản chung của vợ chồng và có nguyện vọng được nhận
bằng hiện vật, anh sẽ trả chênh lệch cho chị H bằng tiền mặt.
Chị H đề nghị Tòa án chia đôi mọi thứ theo quy định của pháp luật, kể cả đất và nhà, vì đất và
nhà của chị là hai mặt tiền nên chị đề nghị chia đôi mỗi người một ½ diện tích để chị có nơi ở.
Về công nợ, ruộng canh tác và các vấn đề khác: Anh Ng và chị H đều xác định không có gì
liên quan nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà nguyên đơn anh Ng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị HĐXX xử cho
anh được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung là cháu T và cháu H2. Anh tự nguyện không yêu cầu
chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung cho anh. Về tài sản chung anh Ng có nguyện vọng xin được
nhận bằng hiện vật toàn bộ số tài sản chung và anh trả bằng tiền mặt cho chị H số tài sản chị H
được hưởng, vì hiện nay anh và các con đang đi ở nhờ nên đề nghị được nhận nhà và đất để cho
anh và các con có chỗ ở, đối với chiếc xe máy SH hiện chị H đang quản lý và sử dụng nên anh Ng
đề nghị giao cho chị H.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào
kết quả thẩm vấn tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
1. Về tố tụng: Tại phiên toà bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người làm
chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai mà vẫn vắng mặt Do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến
hành xét xử vắng mặt chị là phù hợp với khoản 1 Điều 227; Điều 228 và Điều 229 Bộ luật tố tụng
dân sự.
2. Về quan hệ hôn nhân: Anh Ngô Văn Ng và chị Đỗ Thị H kết hôn tự nguyện, có thời gian
tìm hiểu trước khi cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Yvào ngày 03/11/2003 nên hôn
nhân của anh chị là hợp pháp. Quá trình chung sống anh Ng chị H hạnh phúc đến năm 2019 thì
mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp, thường bất đồng quan điểm về lối sống,
vợ chồng không tin tưởng nhau nên dẫn đến việc cãi chửi nhau và đã chính thức sống ly thân nhau
từ tháng 9 năm 2019 đến nay, thời gian ly thân không ai quan tâm gì đến ai, cuộc sống của ai chỉ
biết của người đó. Cả anh Ng và chị H đều xác định cuộc sống chung không có hạnh phúc, mâu
thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, anh Ng xin ly hôn, chị H có nguyện vọng muốn đoàn tụ để nuôi dạy
con chung, nếu anh Ng cương quyết xin ly hôn thì chị đề nghị giải quyết theo pháp luật. Như vậy,
mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Ng và chị H đã trở lên trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt
được, do đó cần xử cho anh Ng được ly hôn chị H là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia
đình.
3. Về con chung: Anh Ng và chị H có ba con chung là Ngô Xuân B, sinh ngày 06/8/2001;
Ngô Phương T, sinh ngày 31/10/2003; Ngô Xuân H2, sinh ngày 20/7/2008. Hiện nay cháu B đã
trưởng thành nên anh Ng và chị H không yêu cầu giải quyết. Còn cháu Tvà cháu H2 đang ở với
anh Ng, điều kiện cuộc sống ổn định, cả hai cháu đều có nguyện vọng xin được tiếp tục ở với anh
Ng, chị H cũng nhất trí theo nguyện vọng của các cháu. Như vậy, HĐXX thấy cần giao cháu T và
4
cháu H2 cho anh Ng được trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu thành niên. Chấp nhận sự tự
nguyên của anh Ng không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Ng là đại diện hợp pháp cho cháu Tvà cháu H2.
Vì lợi ích của con chung anh Ng và chị H, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu thay đổi người
nuôi con chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị H có quyền thăm và chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.
4. Về tài sản chung của vợ chồng:
Anh Ng và chị H đều thừa nhận vợ chồng có tài sản chung gồm đất, nhà và các tài sản khác
cũng như trị giá của tài sản chung như liệt kê ở trên, tổng trị giá tài sản chung của anh Ng và chị H
là: 4.988.750.000 đồng.
Anh Ng và chị H đều đề nghị chia đôi tài sản chung cho mỗi người ½ giá trị tài sản. Anh Ng
có nguyện vọng xin được nhận bằng hiện vật và anh trả tiền chênh lệch cho chị H bằng tiền, còn
chị H yêu cầu chia đôi tài sản, HĐXX thấy nguyện vọng của anh Ng và chị H là chính đáng tuy
nhiên xét yêu cầu của chị H đề nghị chia đôi toàn bộ số tài sản chung của vợ chồng gồm cả đất và
nhà và chị muốn nhận ½ tài sản chung bằng hiện vật, tuy nhiên, anh Ng và chị H đều xác định
nguồn gốc diện tích đất của anh chị là “đất thuộc dự án đấu giá quyền sử dụng đất theo quy hoạch
để xây dựng nhà ở” nên theo Quyết định số 18/2014/QĐ-UBND ngày 21/11/2014 của UBND tỉnh
Hưng Yên thì “trường hợp đất thuộc các dự án phát triển nhà ở theo quy hoạch, các dự án đấu giá
quyền sử dụng đất theo quy hoạch để xây dựng nhà ở đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
phê duyệt thuộc trường hợp không cho phép tách thửa” không những thế ngôi nhà của anh Ng và
chị H là nhà mái bằng 3 tầng kiên cố xây dựng trên toàn bộ diện tích đất, việc chia đôi ngôi nhà sẽ
làm ảnh hưởng đến kết cấu kiến trúc của ngôi nhà, hiện trạng tài sản xây dựng trên đất cũng không
thuận tiện trong việc chia cho hai bên cùng sử dụng, nên yêu cầu chia đôi hiện vật cho hai bên cùng
sử dụng của chị H không được chấp nhận.
Xét nguyện vọng của anh Ng là được tài sản chung bằng nhận hiện vật và thanh toán chênh
lệch tài sản cho chị H. Hiện tại anh Ng và các con đang đi ở nhờ, chưa có chỗ ở nào khác, nguyện
vọng được Tòa án giao nhà và đất để bố con ổn định cuộc sống nên HĐXX thấy, khi ly hôn cần
phải đặc biệt quan tâm đến việc bảo đảm tốt nhất cuộc sống cho các con, hiện các cháu đang tuổi
ăn học, cần ổn định về chỗ ở do vậy việc ưu tiên giao hiện vật cho anh Ng là có căn cứ, cần giao
nhà đất và tài sản trên đất cho anh Ng sở hữu, buộc anh Ng có nghĩa vụ thanh toán chênh lệch tài
sản cho chị H. Chị H hiện đang quản lý và sử dụng chiếc xe máy nhãn hiệu SH150 trị giá là
75.000.000 đồng nên cần giao cho chị H được tiếp tục sở hữu chiếc xe máy này.
Do chị H chưa thu xếp được chỗ ở của mình nên chị H được quyền lưu cư trong thời hạn 6
tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt.
5. Về án phí: Xét thấy tổng số tài sản chung của vợ chồng anh Ng và chị H có tranh chấp và có
yêu cầu toà giải quyết là 4.988.750.000 đồng. Do đó chia theo tỷ lệ anh Ng được hưởng là
4.988.750.000đồng : 2 = 2.494.375.000đồng nên anh Ng phải nộp số tiền 81.887.500đồng án phí
chia tài sản và 300.000đồng tiền án phí ly hôn. Chị H được hưởng là 4.988.750.000đồng : 2 =
2.494.375.000đồng nên chị H phải nộp số tiền 81.887.500đồng án phí chia tài sản theo quy định tại
5
Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức nộp án phí, lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 51, 56, 59, 62, 81, 82, 83, 116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và
lệ phí Tòa án,
1.Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Ngô Văn Ng được ly hôn chị Đỗ Thị H;
2. Về con chung: Giao cháu Ngô Phương T, sinh ngày 31/10/2003; Ngô Xuân H2, sinh ngày
20/7/2008 cho anh Ng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi các cháu đủ 18
tuổi có khả năng lao động tự lập được. Chấp nhận sự tự nguyên của anh Ng không yêu cầu chị H
phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Ng là đại diện hợp pháp cho cháu Tvà cháu H2.
Vì lợi ích của con chung anh Ng và chị H, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu thay đổi người
nuôi con chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị H có quyền thăm và chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.
3. Về tài sản:
* Chia cho anh Ngô Văn Ng được sở hữu, sử dụng tài sản gồm:
- Thửa đất số 971, diện tích 99 m
2
mang tên Ngô Văn Ng và Đỗ Thị H ở thôn T, thị trấn Y, huyện
Y, tỉnh H theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00131 do UBND huyện Y cấp ngày 03
tháng 7 năm 2013 trị giá: 3.465.000.000 đồng.
- Tài sản trên đất gồm: 01 ngôi nhà 03 tầng trị giá 1.260.000.000 đồng; 01Án thờ bằng gỗ gụ trị giá
là 20.000.000 đồng; 01 máy giặt hiệu Twin trị giá là 3.000.000 đồng; 01 tivi Sam Sung 55inh trị
giá là 8.000.000 đồng; 01 tivi Sam Sung 40 inh trị giá là 2.000.000 đồng; 02 tủ 2 buồng nhôm kính
trị giá là 2.000.000 đồng/2tủ; 01 tủ quần áo 4 buồng bằng gỗ hương trị giá là 25.000.000 đồng; 01
kệ gỗ hương giá trị là 5.000.000 đồng; 02 gường bằng gỗ gụ giá trị là 12.000.000 đồng/2giường; 01
tủ lạnh Panasonic 2 cửa 500 lít giá trị là 25.000.000 đồng; 01 quạt hơi nước giá trị là 1.000.000
đồng; 01 bộ bàn ghế kê phòng khách bằng gỗ hương (6 món) + kệ ti vi bằng gỗ hương giá trị là
60.000.000 đồng; 02 điều hòa Panasonic 9.000 BTU trị giá là 10.000.000 đồng/2 cái; 02 điều hòa
Panasonic 12.000 BTU trị giá là 12.000.000 đồng/2 cái; Lán vẩy lợp tôn kích thước 4,5mx4m và
cửa khung sắt bịt tôn trị giá 3.750.000đồng. Tổng trị giá tài sản của anh Ng hưởng là:
4.913.750.000 đồng ( Bốn tỷ chín trăm mười ba triệu bảy trăm lăm mươi nghìn đồng)
* Chia cho chị Đỗ Thị H được sở hữu 01 xe máy nhãn hiệu SH150 trị giá 75.000.000 đồng.
Anh Ngô Văn Ng có trách nhiệm thanh toán chênh lệch tài sản cho chị Đỗ Thị H số tiền là
2.419.375.000đồng (Hai tỷ bốn trăm mười chín triệu ba trăm bảy mươi lăm đồng);
Chị H được quyền lưu cư trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với các khoản tiền người phải
thi hành án phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng người

6
phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy
định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự;
4. Về án phí: anh Ng phải nộp số tiền 81.887.500đồng án phí chia tài sản và 300.000đồng
tiền án phí ly hôn, tổng anh Ng phải nộp 82.187.500 đồng (Tám mươi hai triệu một trăm tám mươi
bảy nghìn năm trăm đồng) được đối trừ số tiền 46.300.000đồng(Bốn mươi sáu triệu ba trăm nghìn
đồng) tạm ứng án phí anh Ng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y theo biên lai thu số
0003072 ngày 09/12/2019. Anh Ng còn phải nộp 35.887.500đồng (Ba mươi năm triệu tám trăm
tám mươi bảy nghìn năm trăm đồng) án phí. Chị H phải nộp số tiền 81.887.500đồng (Tám mươi
một triệu tám trăm tám mươi bảy nghìn năm trăm đồng) án phí chia tài sản.
Về quyền kháng cáo: đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án
được giao cho họ hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân
sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành
án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định
tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án
dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND huyện Yên Mỹ;
- THA huyện Yên Mỹ;
- TAND tỉnh Hưng Yên;
- UBND thị trấn Yên Mỹ;
- Các đương sự;
- Lưu.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Phan Thị Nhiên
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm