Bản án số 156/2018/HSST ngày 24/07/2018 của TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 156/2018/HSST

Tên Bản án: Bản án số 156/2018/HSST ngày 24/07/2018 của TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Thanh Hóa (TAND tỉnh Thanh Hóa)
Số hiệu: 156/2018/HSST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/07/2018
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THANH HÓA
TỈNH THANH HÓA
Bản án số: 156/2018/HSST
Ngày 24/7/2018
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ - TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Hoàng Thị Nguyệt;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Mai Thị Tiếp, nghề nghiệp: Cán bộ hưu Trí;
2. Ông Lê Cát Tưởng, nghề nghiệp: Giáo viên nghỉ hưu.
- Thư phiên toà: Ông Thanh Đại - Thư Tòa án nhân dân thành
phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện VKSND thành phố Thanh Hoá tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá
xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 248/2018/TLST-HS ngày
21 tháng 6 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 160/2018/QĐXXST-
HS ngày 13 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:
Trương Nhật A, sinh ngày 27/7/2000 tại Thanh Hóa, Nơi ĐKHKTT chỗ
ở: xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá:
Lớp 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam;
con ông Trương Quốc K và Bùi Thị X; tiền án: không; tiền sự: không. Bị caó bị
tạm giữ từ 04/4/2018, chuyển tạm giam 13/4/2018. Bị cáo có mt tại phiên tòa.
Người đại diện hợp pháp và nhận bào chữa cho bị cáo Trương Nhật A:
Bà Bùi Thị X, sinh năm: 1976 (mẹ đẻ bị cáo)- Có mặt;
Nơi cư trú: xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
[
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ ván diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 01h 30’ ngày 04/4/2018, Tại Ngã tư C L thuộc phường L, thành
phố Thanh Hóa Tổ công tác tuần tra Phòng Cảnh sát động Công an tỉnh Thanh
2
Hóa m nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang Trương Nhật A đang cất giữ trong
người 01 gói ni L màu trắng kích thước khoảng 3x5cm, Nhật A đã tự giác giao nộp
và khai nhận đó là 01 gói ma túy đá đang tàng trữ mục đích để sử dụng.
Tại Kết luận giám định số 757/MT-PC54 ngày 08/4/2018 của phòng kỹ
thuật hình sự ng an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Các hạt tinh thể màu trắng của
phong niêm phong gửi giám định ma túy, trọng lượng 3,617gam, loại:
Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số 146/ CT -VKS ngày 19/6/2018 của Viện kiểm sát nhân
dân thành phố Thanh Hoá truy tố bị cáo Trương Nhật A về tội: “ Tàng trữ trái phép
chất ma túy theo qui đnh ti đim c khon 1 Điu 249 ca BLHS năm 2015.
Trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa
vẫn giữ nguyên quyết định truy tbcáo như bản cáo trạng đề nghị Hội đồng
xét xử căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 90; Điều
91; Điều101; Điều 38 BLHS năm 2015 sửa đổi năm 2017 đề ngh mcnh pht đối
vi b o từ 24 tháng tù đến 30 tháng .
Về vật chứng đề nghị áp dụng khoản 1, điểm a,c khoản 2 Điều 106 BLTTHS
tịch thu tiêu hủy số ma y thu của bị cáo còn lại sau giám định. Buộc bcáo phải
chịu án phí HSST theo quy định pháp luật.
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội không có ý kiến tranh luận, lời nói sau
cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Người đại diện hợp pháp và bào chữa cho bị cáo ý kiến: Bị cáo thành
khẩn khai báo, bị cáo người chưa thành niên suy nghĩ nông cạn nên đề nghị Tòa
án xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa bị cáo khai: Do cần mua ma túy để sử dụng nên khoảng
19h ngày 03/4/2018 bcáo nhờ Văn L người quen lai bị cáo đi mua ma
túy tại thành phố Thanh Hóa. Bị cáo A mua của một người phụ nữ Q 01 gói ma
túy đá với giá 2 triệu đồng. Sau khi mua xong khoảng 01 h sáng ngày 04/4/2018,
khi đi đến Ngã C- Đại lộ L thuộc phường L, thành phố T thì bị lực lượng Công
an kiểm tra thu giữ gói ma tang vật qua giám định ma túy, trọng lượng
3,617gam, loại: Methamphetamine.
[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phợp với biên bản bắt người
phạm tội quả tang các i liệu, chứng cứ khác trong hồ ván. Hội đồng
xét xử đủ skết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo đủ dấu hiệu cấu thành
tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và khung hình phạt được qui định tại
điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS năm 2015. vậy VKSND thành phố Thanh
Hóa truy tbị cáo, quan điều tra khởi tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất
3
ma túy” theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS năm 2015 đúng
người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hiện nay tệ nạn ma túy đang là hiểm họa cho toàn xã hội, là nguyên nhân làm
ảnh hưởng đến sức khỏe con người, suy thoái giống nòi, suy kiệt về kinh tế, là một
trong những tác nhân làm lây lan căn bệnh HIV/AIDS. Hành vi của bị cáo đã xâm
phạm chế đđộc quyền quản của nnước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an
toàn xã hội.
[3] Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, thì
việc cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng hội một thời gian cần thiết, như vậy
mới có tác dụng giáo dục đối với b cáo và có tính chất phòng ngừa chung.
Tuy nhiên quá trình điều tra, xét xử bcáo thành khẩn khai báo, nên khi xem
xét hình phạt đối với bcáo cũng cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS
2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Do khi phạm tội xét xử bị cáo người chưa thành niên nên cần áp dụng
Điều 98; khoản 1 Điều 101 BLHS 2015 để xem xét khi quyết định hình phạt đối
với bị cáo.
Trong vụ án này bị cáo khai Văn L2 sinh năm 1987 xã T, huyện N,
Thanh Hóa, người lai bị cáo đi mua ma y. Quá trình điều tra L2 không thừa
nhận lai bị cáo đi mua ma túy, cũng không có nhân chứng biết việc này, nên không
có căn cứ để xử lý đối với L2.
[4] Đối với vật chứng: Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định được niêm
phong trong phong thư, hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành
phố Thanh Hoá là vật cấm lưu hành, nên cần áp dụng khoản 1, điểm a,c khoản 2
Điều 106 BLTTHS để tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy này.
[5] Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định tại khoản 2 Điều 136
BLTTHS điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14.
Vì các lẽ trên;
[[[ơ
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38;
Điều 98; Điều 101 BLHS năm 2015 sửa đổi năm 2017; khoản 1, điểm a,c khoản 2
Điều 106, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết
326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14.
Tuyên b: B o Trương Nht A phm ti Tàng tr trái phép cht ma
túy.
Xử phạt: Trương Nhật A 24 ( Hai bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình
phạt tù kể từ ngày 04/4/2018.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma y còn lại sau giám định được niêm
phong trong 01 phong được đóng dấu của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh
4
Thanh Hóa. Toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự
thành phố Thanh Hóa, theo biên bản giao nhận vật chứng số 153/THA ngày
21/6/2018 giữa Công an thành phố Thanh Hóa với Chi Cục Thi hành án dân sự
thành phố Thanh Hóa.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật, bị cáo quyền yêu cầu thi hành
án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7,9
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày
kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSNDtỉnh Thanh Hóa,
- TAND tỉnh Thanh Hóa;
- VKSND TP Thanh Hóa;
- Công an TP Thanh Hóa;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán – Chủ ta phiên tòa
(Đã ký)
Hoàng Thị Nguyệt
Tải về
Bản án số 156/2018/HSST Bản án số 156/2018/HSST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất