Bản án số 15/2022/HS-ST ngày 22/02/2022 của TAND TP. Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 15/2022/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 15/2022/HS-ST ngày 22/02/2022 của TAND TP. Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tội danh: 249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Phúc Yên (TAND tỉnh Vĩnh Phúc)
Số hiệu: 15/2022/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/02/2022
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHÚC YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC
Bản án số: 15/2022/HS-ST
Ngày 22 - 02 - 2022
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Lưu Thị Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Xuân Thịnh và ông Đường Ngc Đại;
-Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Bình Phương - Thư ký Toà án nhân dân thành
phố Phúcn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên tham gia phiên
toà: Ông Nguyễn Hải Đăng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 02 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phúc
Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:
05/2022/TLST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số: 10/2022/TLST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Chu Văn L, sinh năm 1993; tại Vĩnh Phúc; địa chỉ: Thôn L, xã
N, thành ph P, tỉnh Vĩnh Phúc; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Sán Dìu; tôn
giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao đông tự do; con ông
Chu Văn C con Lục Thị N; có v và 01 con sinh năm 2015; Tiền án,
tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13 tháng 11 năm 2021 đến nay,
có mặt;
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Lý Văn S, sinh năm 1995, vắng mặt;
Địa chỉ: Thôn L, xã N, thành phố P, Vĩnh Phúc;
* Người chứng kiến:
-Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 2000, vắng mặt;
-Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1992, vắng mặt;
2
NI DUNG V ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 12/11/2021, tại quán nước phường X, thành ph P; Chu Văn L
gặp người phụ nữ tự giới thiệu tên Phương A, không địa chỉ cụ thể, L hỏi
mua ma túy Methamphetamine, Phương A đồng ý. Phương A hẹn Chu Văn L
khoảng 10 giờ 30 phút ngày 13/11/2021 gặp nhau tại khu vực cổng sân gold Đ
thuộc thôn Đ, N, thành ph P để giao dịch mua bán. Khoảng 10 giờ 15 phút
ngày 13/11/2021, anh Văn S, cùng thôn với L điều khiển xe Biển
kiểm soát (BKS): 18Z9 - 4556 đến nhà L chơi. Chu Văn L đã mượn xe
trên của anh S để điviệc. Sau đó L điều khiển xe mô tô nêu trên đến khu vực
cổng sân gold Đ đmua ma túy. Khi đến nơi L thấy Phương A đang đứng gần
một chiếc taxi (Không nhớ hãng xe BKS), L đến gặp đưa cho Phương A
số tiền 300.000đ đmua ma túy, Phương A cầm tiền rồi bán cho L 01 túi nilon
màu trắng, bên trong chứa tinh thể dạng đá màu trắng, sau đó lên xe taxi bỏ
đi. Khoảng 10 gi 45 phút ngày 13/11/2021, khi L cầm i ma túy vừa mua
được trong lòng bàn tay trái quay xe đi về nhà để sử dụng, thì bị Công an
N, P kiểm tra phát hiện bắt giữ.
*Về thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:
- Thu giữ trong lòng bàn tay trái của L 01 i nilon màu trắng, bên trong
chứa các tinh thể dạng đá màu trắng, được niêm phong trong phong hiệu
A1.
- Thu gi của b cáo 01 điện thoại di động nhãn vivo màu đen đã cũ, màn
hình bị nứt vỡ, không liên quan đến vụ án;
- 01 xe mô nhãn hiệu HONDA Wave BKS: 18Z9 - 4556, là tài sản hợp
pháp của anh Lý Văn S, anh S không biết việc L sử dụng chiếc xe nêu trên để đi
mua ma túy, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh S.
Tại bản Kết luận giám định số: 3005/KLngày 17/11/2021 của Phòng
KTHS Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định kết luận: “Tinh thể dạng đá màu
trắng của mẫu hiệu A1 gửi giám định ma túy, khối lượng 0,4172gam,
loại Methamphetamine”. quan giám định hoàn lại mẫu vật: A1 = 0,3994gam
cùng toàn bộ bao gói.
Tại bản Kết luận giám định số: 3028/KLngày 19/11/2021 của Phòng
KTHS công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định kết luận “Tìm thấy chất ma túy
Methamphetamine trong mẫu nước tiểu thu của Chu Văn L, sinh năm 1993, ở N,
P, Vĩnh Phúc gửi đến giám định”. Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại
sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: 0,00ml mẫu và toàn bộ bao gói được
niêm phong theo quy định.
3
Đối với người phụ nữ tên Phương A, người L khai đã bán ma túy cho
L. Quá trình điều tra đến nay không xác định được danh tính, địa chỉ, quan
điều tra tiếp tục làm rõ xử lý sau.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Chu Văn L đã thành khẩn khai nhận hành vi vi
phạm của bản thân như đã nêu trên, lời khai của L phù hợp với c tài liệu,
chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số: 11/CT - VKSPY ngày 18 tháng 01 năm 2022, Viện
kiểm sát nhân dân thành phố P truy tố bị cáo Chu Văn L về tội: Tàng trữ trái
phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình
sự.
Tại phiên toà Kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét
xử tuyên bố bị cáo Chu Văn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1
Điều 51 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo t 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09
tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam
ngày 13 tháng 11 năm 2021. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và
đề nghị xử vật chứng như Cáo trạng đã đề cập; b cáo phải nộp án phí theo
quy định của pháp luật;
Sau khi thẩm tra các chứng cứ trong hồ sơ, nghe lời khai của b cáo, ý
kiến của Kiểm sát viên;
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên snội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành
phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân n thành phố P, Kiểm sát viên trong
quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy
định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra tại phiên tòa, bị cáo,
người tham gia tố tụng không ý kiến hoặc khiếu ni về hành vi, quyết định
của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi,
quyết định tố tụng của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã
thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại quan điều tra cũng như tại phiên toà b cáo Chu Văn L đã khai
nhn toàn b hành vi phm ti của mình nCáo trạng mà Vin kim sát nhân
n thành ph P đã truy tố. Xét li nhn ti ca b cáo phù hp vi các tài liu
trong h như: Li khai ca người quyn li, nghĩa v liên quan; người
chng kiến; Biên bn bắt người phm ti qu tang; Bn kết luận giám đnh; p
hp vi vt chứng đã thu giữ hp pháp có trong h v án. vậy, đủ sở
để kết lun: Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 13 tháng 11 năm 2021, tại thôn Đ, xã N,
4
thành ph P; với mục đích đ s dụng b cáo Chu Văn L đã hành vi tàng trữ
trái phép 0,4172g ma túy, loại Methamphetamine, thì b Công an bắt qu tang
cùng toàn b tang vật.
Hành vi nêu trên của bcáo Chu Văn L đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái
phép chất ma túy”, được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình
sự như sau:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy…thuộc một trong các trường
hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…….
c) ……………..Methamphetamine khối lượng từ 0,1 gam đến dưới
05 gam”.
vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc truy tố bị
cáo theo Cáo trạng số: 11/CT VKSPY ngày 18 tháng 01 năm 2022 hoàn
toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét nh chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo Chu
Văn L nguy hiểm cho hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản
của nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng tình hình trị an địa phương. Do vậy
cần xử nghiêm minh trước pháp luật nhằm giáo dục riêng đối với bcáo
phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
[4] Xét nhân thân, tính chất vụ án c tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo học hết lớp 12 thì nghỉ học,
nghiện ma túy từ năm 2020. Trong quá trình điu tra truy t xét x b cáo luôn
thành khn khai báo, ăn năn hi ci v hành vi phm ca mình; nên được hưởng
tình tiết gim nh trách nhim hình s quy đnh tại điểm s khon 1 ca B lut
hình s. Ngoài ra b cáo ông ni tham gia kháng chiến đưc tng huân
chương kháng chiến hng 3, Hi đồng xét x xem xét gim nh mt phn hình
pht cho b cáo. Tuy nhiên, cn phi áp dng hình pht giam như đ xut ca
Vin kim sát mi có tác dụng răn đe, giáo dc b cáo thành người có ích cho xã
hi.
[5] Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra làm tại phiên tòa bị cáo
tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích để sử dụng; hiện bị cáo không có tài
sản, không nghề nghiệp thu nhập ổn định. vậy không cần thiết phải áp
dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo là phù hợp.
[6] Đối với người phụ nữ tên Phương A, người L khai đã bán ma túy
cho L. Quá trình điều tra đến nay không xác định được danh tính, địa chỉ,
quan điều tra tiếp tục làm rõ xử lý sauphù hợp;
[7] Về vật chứng vụ án:
Cần tịch thu, tiêu hủy mẫu trả A1= 0,3994 gam cùng toàn bbao gói sau
giám định và 01 v chai nhựa chứa 0,00ml sau giám định;
5
Trả lại bị cáo L 01 điện thoại di động cũ đã thu giữ, không liên quan
đến hành vi phạm tội, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Chu Văn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật
hình sự;
Xử phạt bcáo Chu Văn L 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù; thời hạn chấp
hành hình phạt nh từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13 tháng 11 năm
2021;
Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự Điều 106 của Bộ luật tố
tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy mẫu trả A1= 0,3994 gam cùng toàn bbao gói sau giám
định và 01 v chai nhựa chứa 0,00ml sau giám định;
Trả lại bị cáo L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu đen, màn hình
cảm ứng b nứt v đã cũ; nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Vật chứng đặc điểm n biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 19
tháng 01 năm 2022, tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P).
Căn cứ Điều 136 Bộ luật t tụng hình sự; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ pTòa án của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội; buộc bị cáo Chu Văn L phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn
đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bcáo mặt quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án. Người quyền lợi, nghĩa v liên quan vắng mặt quyền kháng cáo
Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đưc bản án hoặc bản án được niêm
yết;
Nơi nhn:
T/M HỘI ĐỒNGT X THM
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc;
Thm phán - Ch ta phiên tòa
- Vin kim sát nhân dân thành ph P;
- Cơ quan CSĐT - Công an thành ph P;
- Thi hành án dân s thành ph P;
- Cơ quan THA hình sự có thm quyn;
- S pháp tỉnh Vĩnh Phúc
- Tri tm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
- Người tham gia t tng;
LƯU TH THÚY
Tải về
Bản án số 15/2022/HS-ST Bản án số 15/2022/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất