Bản án số 15/2020 ngày 19/06/2020 của TAND huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 15/2020
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 15/2020
| Tên Bản án: | Bản án số 15/2020 ngày 19/06/2020 của TAND huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang về tranh chấp hợp đồng tín dụng |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Gò Quao (TAND tỉnh Kiên Giang) |
| Số hiệu: | 15/2020 |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 19/06/2020 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Ngân hàng TMCP S yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Danh H phải trả số nợ tính đến ngày 19/6/2020 là 41.460.916đ (bốn mươi mốt triệu, bốn trăm sáu mươi nghìn, chín trăm mười sáu đồng), trong đó |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ QUAO
TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 15/2020/DS-ST
Ngày: 19-6-2020
“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tôn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lương Thị Hồng Hạnh
Ông Nguyễn Thành Thật
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên tòa:
Ông Danh Vũ Hải – Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò
Quao, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:
64/2019/TLST-DS ngày 09 tháng 4 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín
dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2020/QĐXXST-DS, ngày 06
tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S (SacomBank);
Trụ sở chính: lầu 8, 266-268, đường N, Phường 8, Quận 3, Thành Phố H.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, chức vụ: Tổng
Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Nguyễn Khoa N, chức vụ: Phó
giám đốc trung tâm thẻ (theo Giấy ủy quyền số 3892/2018/GUQ-PL);
Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Nguyễn Khoa Ng: Ông Lê Đình
T, chức vụ: Nhân viên Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S (theo Giấy ủy quyền
số 2350/2019/UQ-TTT) (có mặt);
Bị đơn: Ông Danh H – sinh năm 1969 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 29/3/2019 và tại phiên tòa, nguyên đơn Ngân
hàng TMCP S – Người đại diện theo ủy quyền ông Lê Đình T trình bày:
Vào ngày 29/01/2013, ông Danh H có thỏa thuận ký kết với Ngân hàng
Thương Mại Cổ Phần S (TMCP S) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm:
2
Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng; Điều khoản và điều kiện phát
hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Căn cứ thu nhập của ông Danh H,
Ngân hàng TMCP S đồng ý cấp thẻ tín dụng cho ông Danh H với hạn mức sử
dụng là 10.000.000đ (mười triệu đồng) nhằm mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi
suất trong hạn 2,5%/tháng, lãi suất quá hạn là 150% của lãi suất được công bố
áp dụng tại thời điểm hiện tại (Điều 22 và 23 Điều khoản và điều kiện phát hành
sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Sau khi được cấp thẻ, ông Danh H đã thực hiện các giao dịch từ ngày
20/02/2013 đến ngày 22/12/2013 với tổng số tiền là 9.500.000đ (chín triệu, năm
trăm nghìn đồng) và ông H cũng đã thanh toán cho ngân hàng số tiền lãi, tiền
phí được 2.700.000đ. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông H không đóng lãi cũng
không thanh toán nợ gốc cho ngân hàng đúng hạn, ngân hàng đã nhiều lần làm
việc, nhắc nhở cũng như tạo điều kiện cho ông H thực hiện nghĩa vụ trả nợ
nhưng ông vẫn không có thiện chí thực hiện. Do ông H vi phạm nghĩa vụ thanh
toán được quy định tại Điều 2 của Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng
thẻ tín dụng của Ngân hàng nên ngày 23/12/2013, ngân hàng đã chấm dứt quyền
sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày
19/6/2020, ông Danh H còn nợ Ngân hàng TMCP S tổng số tiền 41.460.916
đồng, lãi trong hạn là 20.667.217đ và lãi quá hạn là 10.333.608đ.
Do vậy, Ngân hàng TMCP S yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Danh H
phải trả số nợ tính đến ngày 19/6/2020 là 41.460.916đ (bốn mươi mốt triệu, bốn
trăm sáu mươi nghìn, chín trăm mười sáu đồng), trong đó: gốc là 10.460.091đ,
lãi trong hạn là 20.667.217đ và lãi quá hạn là 10.333.608đ và lãi phát sinh cho
đến khi thanh toán hết nợ theo lãi suất quy định trong hợp đồng. Ngân hàng chỉ
yêu cầu một mình ông Danh H trả nợ, không có yêu cầu đối với vợ con ông
Danh H.
Đối với bị đơn ông Danh H đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố
tụng theo đúng quy định của pháp luật nhưng ông H không có mặt cũng không
cung cấp bản tự khai cho Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay bất
cứ yêu cầu nào của ông.
Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Tòa án xác định quan hệ pháp luật là
“Tranh chấp hợp đồng tín dụng” là đúng quy định và thuộc thẩm quyền giải
quyết. Từ khi thụ lý đến khi xét xử, Thẩm phán đã thực hiện các bước tiến hành
tố tụng đúng theo quy định, tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện
đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm nhưng về thời
hạn chuẩn xét xử còn vi phạm, để án quá hạn luật định việc này cần rút kinh
nghiệm. Riêng đối với bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình
theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 463, Điều 466, 468
và 470 Bộ luật dân sự 2015: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP
S buộc ông Danh H phải trả cho ngân hàng số tiền 41.460.916đ (bốn mươi mốt
triệu, bốn trăm sáu mươi nghìn, chín trăm mười sáu đồng), trong đó: gốc là
3
10.460.091đ, lãi trong hạn là 20.667.217đ và lãi quá hạn là 10.333.608đ và lãi
phát sinh cho đến khi thanh toán dứt nợ theo lãi suất quy định trong hợp đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng và quan hệ pháp luật: Cho rằng quyền và lợi ích hợp
pháp của mình bị xâm hại nên Ngân hàng TMCP S khởi kiện ông Danh H về
việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” được Tòa án thụ lý, giải quyết là đúng
thẩm quyền được quy định tại khoản 3 Điều 26, 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố
tụng dân sự 2015.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt và thông báo hợp
lệ các văn bản tố tụng trong đó có 02 lần tống đạt Thông báo mở phiên họp kiểm
tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tiến hành mở phiên
họp vào ngày 03/3/2020 và ngày 19/3/2020 để tạo điều kiện cho các bên đương
sự hòa giải, thỏa thuận với nhau nhưng ông H đều không có mặt nên Tòa án
không tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ và hòa giải được. Hơn nữa, ông H cũng không gửi bất cứ văn bản nào thể
hiện ý kiến và yêu cầu của mình đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng
TMCP S cho Tòa án. Do vậy HĐXX căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ
án vẫn được xét xử theo quy định.
[2] Về nội dung: Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu ông Danh H phải
trả cho ngân hàng số tiền 41.460.916 đồng, trong đó: gốc là 10.460.091 đồng, lãi
trong hạn là 20.667.217 đồng và lãi quá hạn là 10.333.608 đồng và lãi phát sinh
cho đến khi thanh toán dứt nợ theo lãi suất quy định trong hợp đồng. Với lý do,
ông Danh H có ký kết Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng với Ngân hàng TMCP S
vào ngày 29/01/2013, từ đó Ngân hàng cấp thẻ tín dụng cho ông Danh H với hạn
mức sử dụng là 10.000.000đ, mục đích là tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp
thẻ, ông Danh H đã thực hiện các giao dịch từ ngày 20/02/2013 đến ngày
22/12/2013 với tổng số tiền là 9.500.000 đồng và ông H cũng đã thanh toán cho
ngân hàng số tiền lãi, tiền phí được 2.700.000đ. Sau đó, ông H không thanh toán
dư nợ đã sử dụng cho ngân hàng đúng hạn, ngân hàng đã nhiều lần làm việc,
nhắc nhở cũng như tạo điều kiện cho ông H thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng ông
vẫn không có thiện chí thực hiện và lánh mặt cho đến nay.
[3] Xét yêu cầu của Ngân hàng TMCP S buộc ông Danh H phải trả số nợ
tính đến ngày 19/6/2020 là 41.460.916 đồng, trong đó: gốc là 10.460.091 đồng,
lãi trong hạn là 20.667.217 đồng, lãi quá hạn là 10.333.608 đồng và lãi phát sinh
theo lãi suất quy định trong hợp đồng kể từ ngày 20/6/2020 cho đến khi thanh
toán xong khoản nợ là có căn cứ, vì ông H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy
định tại Điều 466 BLDS 2015 nên cần buộc ông H có nghĩa vụ thanh toán số nợ
gốc cho Ngân hàng TMCP S là phù hợp.
Đối với yêu cầu trả số tiền nợ lãi tạm tính đến hết 19/6/2020 của Ngân
hàng TMCP S là 31.000.825đ và lãi phát sinh theo lãi suất quy định trong hợp
đồng kể từ ngày 20/6/2020 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Xét thấy,
4
cách tính tiền lãi của Ngân hàng TMCP S phù hợp với thỏa thuận của hai bên
trong Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng
cho nên yêu cầu trả lãi này của Ngân hàng đối với ông Danh H là có cơ sở chấp
nhận.
Như vậy, đã có đủ cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân
hàng TMCP S, buộc ông Danh H phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP S
số tiền 41.460.916đ (bốn mươi mốt triệu, bốn trăm sáu mươi nghìn, chín trăm
mười sáu đồng), trong đó: gốc là 10.460.091đ, lãi trong hạn là 20.667.217đ, lãi
quá hạn là 10.333.608đ và lãi phát sinh theo lãi suất quy định trong hợp đồng
cho đến khi thanh toán xong khoản vay.
[4] Về án phí: ông Danh H phải chịu án phí dân sự có giá ngạch trong tổng
số tiền phải trả là 2.073.045đ (41.460.916đ x 5%) do ông có lỗi trong vụ kiện
này.
Ngân hàng TMCP S được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy
định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39 và Điều 227 BLTTDS năm 2015; Điều 463,
466, 470 và Điều 688 Bộ luật Dân sự 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S.
Buộc ông Danh H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền
41.460.916đ (bốn mươi mốt triệu, bốn trăm sáu mươi nghìn, chín trăm mười sáu
đồng), trong đó: gốc là 10.460.091đ, lãi trong hạn là 20.667.217đ, lãi quá hạn là
10.333.608đ và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán
xong khoản vay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày Ngân hàng TMCP S có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Danh
H chưa thi hành án thì hàng tháng còn phải chịu lãi quá hạn từ ngày 20/6/2020
theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng trên số nợ gốc tương ứng
với thời gian chưa thi hành án.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Danh H phải chịu án phí dân sự có giá
ngạch là 2.073.045đ (hai triệu, không trăm bảy mươi ba nghìn, không trăm bốn
mươi lăm đồng).
Ngân hàng TMCP S không phải nộp án phí và được nhận lại số tiền
800.000đ (tám trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số
0004077, ngày 09/4/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh
Kiên Giang.
5
3. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án (ngày 19/6/2020). Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng
cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 9 Luật thi
hành án dân sự và các Điều 7, 7a, 7b Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung
năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án
dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Kiên Giang; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện Gò Quao;
- Chi cục THADS huyện Gò Quao;
- Các đương sự; Đã ký
- Lưu hồ sơ vụ án.
Trần Văn Tôn
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 30/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 29/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 29/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 28/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 26/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 24/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 23/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 23/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 22/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 22/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 17/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 17/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 16/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 15/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 08/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 08/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 07/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm