Bản án số 140/2022/HC-PT ngày 28/02/2022 của TAND cấp cao tại TP.HCM
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 140/2022/HC-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 140/2022/HC-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 140/2022/HC-PT ngày 28/02/2022 của TAND cấp cao tại TP.HCM |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND cấp cao tại TP.HCM |
| Số hiệu: | 140/2022/HC-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 28/02/2022 |
| Lĩnh vực: | Hành chính |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Y án sơ thẩm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tấn
Các Thẩm phán: 1/ Ông Chung Văn Kết
2/ Bà Trần Thị Hòa Hiệp
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vi, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao
tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Ông Đỗ Phước Trung, Kiểm sát viên cao
cấp Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 28/02/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí
Minh, xét xử công khai vụ án hành chính phúc thẩm, thụ lý số 06/2022/TLPT-HC
ngày 04/01/2022, về việc: “Khiếu kiện QĐHC và HVHC về QLNN trong lĩnh vực
đất đai, thuộc trường hợp giải quyết KN trong việc không cấp Giấy chứng nhận
QSD đất”, giữa các bên đương sự:
Người khởi kiện:
1/ Bà Lâm Thị Th, sinh năm 1942; (Có mặt)
Địa chỉ: 100, ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
2/ Bà Lâm Thị X, sinh năm 1947;
Địa chỉ: 191B LĐC, khu phố X, phường Y, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
3/ Bà Lâm Thị S, sinh năm 1947; (Có mặt)
Địa chỉ: 38, ấp P, xã P, huyện C, Sóc Trăng.
4/ Bà Lâm Thị Nh, sinh năm 1943;
Địa chỉ: 97/34/9 LĐC, khu phố X, phường Y, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Người bị kiện:
1/ Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng (Có VB xin vắng mặt)
Địa chỉ: 01 CVT, phường X, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 140/2022/HC-PT
Ngày: 28/02/2022
V/v: Khiếu kiện QĐHC và HVHC về
QLNN trong lĩnh vực đất đai, thuộc
trường hợp giải quyết KN trong việc
không cấp Giấy chứng nhận QSD đất”
2
2/ Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Có VB xin vắng
mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân xã P, huyện C,
tỉnh Sóc Trăng.
Người kháng cáo: Bà Lâm Thị S là người khởi kiện trong vụ án hành chính.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn và lời khai của phía người khởi kiện bà Lâm Thị Th, bà Lâm Thị
X, bà Lâm Thị S, bà Lâm Thị Nh trình bày:
Vào ngày 14/5/1941, ông Lâm F (Lâm S) là cha của các bà: Lâm Thị Th,
Lâm Thị X, Lâm Thị S, Lâm Thị Nh được ông Lâm Pỉa L (còn gọi là ông Xã S1)
cho một phần đất với diện tích 6.400m
2
, số địa bộ 646, số họa đồ 194-3e'.F, loại đất
ruộng, tọa lạc tại ấp Phước An, làng Phước Tâm, tỉnh Sóc Trăng (nay là ấp Phước
An, xã Phú Tân, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng), có tứ cận như sau: Hướng
đông giáp lô 187- 188; Hướng tây giáp lô 197; Hướng nam giáp lô 149; Hướng bắc
giáp lô 148.
Lúc ông Lâm Pỉa L cho ông Lâm F phần đất trên, hai bên có làm giấy cho
đứt đất ở và hai bên cùng ký. Sau đó cùng năm ông Lâm F cùng vợ là bà Lý Thị S1
đến xây dựng 03 căn nhà ở bằng cây tre: 01 căn để đổi lúa gạo, 01 căn để hớt tóc,
01 căn để sinh hoạt gia đình.
Ngày 08/10/1964, ông Lâm F đóng thuế đất tại Phòng điền thổ của chế độ
cũ, có giấy biên nhận số 1722, số tiền đóng là 120 đồng, để đăng ký đất lô số 646,
tờ bản đồ số 03 xã Phước Tâm. Năm 1963, các bà đều đi làm xa nhà, chỉ có bà Lâm
Thị Th lấy chồng và ở kế cận nhà cha, mẹ để phụng dưỡng cha mẹ.
Năm 1973, bà Lý Thị S1 chết, nên ông Lâm F sinh sống cùng cháu ngoại là
Đinh Thị Kh (con của bà Lâm Thị Th). Cháu Kh canh tác, trồng trọt trên phần đất
nêu trên. Cuối năm 1980, nhà của ông Lâm F mục nát, các con đều đi làm ăn ở xa,
nên ông Lâm F và Cháu Kh dọn vào nhà của bà Lâm Thị Th để ở (sát ranh đất của
ông Lâm F).
Sau ngày giải phóng 30/4/1975, thì cha các bà là ông Lâm F có bán xăng -
dầu - vải cho nhà nước không ăn lương nên vào ngày 21/11/1975 cha các bà được
Chủ tịch UBMTTQ tỉnh Sóc Trăng là chú Tám Th1 ( Nguyễn Trung Nh1) gửi cho
một lá thư có nội dung như sau: “Kính gửi: anh Lâm S, ấp Phước An, đường huyện
lộ Phú Tâm, Sóc Trăng, Ủy ban có nhận được thơ của anh chúng tôi rất hoan
nghinh tinh thần yêu nước của anh đã tự nguyện đem khả năng tài sản của mình
đóng góp vào sự nghiệp chung cho tổ quốc dân tộc (1959-1975). Nhưng tiếc vì
3
trong lúc đang sắp xếp cho việc ghép tỉnh nên chúng tôi chưa đến thăm anh được
nên chờ khi ghép tỉnh xong, chúng tôi gặp lại anh. Thân ái chúc anh sức khỏe”.
Đến năm 1977, cha các bà có đi khai đóng thuế nông nghiệp, thì địa chỉ của
cha các bà vẫn ghi là ở ấp Phước An, xã Phú Tâm, huyện Mỹ Tú, tỉnh Hậu Giang
(nay là ấp Phước An, xã Phú Tân, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng).
Đến ngày 19/4/1980, thì cha các bà đi làm giấy chứng minh nhân dân thì
được Công an tỉnh Hậu Giang cấp giấy chứng minh nhân dân số 360897244 trong
giấy chứng minh nhân dân nêu trên có ghi rõ là nguyên quán và thường trú là tại ấp
Phước An, xã Phú Tâm, huyện Mỹ Tú, tỉnh Hậu Giang (nay là ấp Phước An, xã
Phú Tân, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng).
Sau đó đến ngày 19/4/1984, cha các bà có nhận hàng phi mậu dịch của cháu
ở bên Mỹ gửi về, thì địa chỉ (thường trú) trong tờ khai hàng phi mậu dịch có ghi rõ
là số 51B, ấp Phước An, xã Phú Tân, huyện Mỹ Tú, tỉnh Hậu Giang (theo tờ khai
hàng phi mậu dịch nhập khẩu số 000909, ngày 19/04/0984 của Hải quan Hậu
Giang), đến ngày 06/4/1985 thì cha các bà chết.
Năm 2012, ông Huỳnh Ch là Trưởng ban nhân dân ấp Phước An, xã Phú
Tân, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng có hỏi mượn bà Lâm Thị Th một phần đất
để xây dựng nhà văn hóa, đến năm 2015 ông Huỳnh Ch có hỏi mượn thêm một
phần đất để làm đường đi cho dân, khi nào gia đình cần thì trả lại, gia đình các bà
có bàn bạc với nhau và đồng ý.
Năm 2017, gia đình các bà có làm đơn xin nhận lại phần đất nhà Sinh hoạt
cộng đồng ấp Phước An và hợp thức hóa phần đất còn lại với diện tích là 428,2m
2
,
thửa đất số 125, tờ bản đồ số 03, đất tọa lạc tại ấp Phước An, xã Phú Tân, huyện
Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng thì được Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Sóc
Trăng trả lời theo Văn bản số 197/UBND-VP ngày 04/12/2017, với nội dung: Gia
đình không chứng minh được nguồn gốc đất của nhà Sinh hoạt cộng đồng ấp Phước
An, xã Phú Tân, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng thuộc quyền sở hữu của gia
đình. Phần đất nêu trên thuộc quyền quản lý và sử dụng của nhà nước từ sau
30/4/1975 cho đến nay. Về việc Công an xã xác nhận thời gian cư trú của ông Lâm
F (Lâm S) thường trú tại ấp Phước An, xã Phú Tân, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc
Trăng từ năm 1947 đến năm 1985. Ngày 28/11/2017, Ủy ban nhân dân xã P làm
việc với đồng chí Nguyễn Thanh L Trưởng Công an xác nhận việc xác nhận đơn
của bà Lâm Thị Th do Phó Trưởng Công an xã là ông Châu Minh T xác nhận thời
gian cư trú của ông Lâm F (Lâm S) là hoàn toàn không có cơ sở pháp lý, sai quy
định luật cư trú.
4
Sau đó vào ngày 17/6/2020, gia đình các bà có làm đơn khiếu nại đến Ủy
ban nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng thì được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Sóc
Trăng giải quyết bác đơn yêu cầu theo Quyết định số 01/QĐKN-UBND ngày
22/9/2020.
Ngày 15/10/2020, gia đình các bà tiếp tục khiếu nại đến Ủy ban nhân dân
tỉnh Sóc Trăng thì được Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng giải quyết bác đơn theo
Quyết định số 262/QĐ-UBND, ngày 02/02/2021.
Nay bà Lâm Thị Th, bà Lâm Thị X, bà Lâm Thị S và bà Lâm Thị Nh yêu
cầu Tòa án giải quyết:
Hủy bỏ Quyết định số 01/QĐKN-UBND ngày 22/9/2020 của Chủ tịch Ủy
ban nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng về việc giải quyết khiếu nại của bà Lâm Thị
Nh (lần đầu).
Hủy bỏ Quyết định số 262/QĐ-UBND ngày 02/02/2021 của Chủ tịch Uỷ
ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng về việc giải quyết khiếu nại của bà Lâm Thị Nh (lần
hai).
Hủy văn bản trả lời số 197/UBND-VP ngày 04/12/2017 của UBND xã P,
huyện C, tỉnh Sóc Trăng “về việc trả lời đơn yêu cầu của bà Lâm Thị Nh”.
Hủy văn bản trả lời số 449/UBND-VP ngày 04/6/2020 của UBND huyện
Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng “về việc trả lời đơn yêu cầu của bà Lâm Thị Nh”.
Theo Văn bản của phía người bị kiện Chủ tịch UBND huyện C trình bày:
Ngày 18/4/2019, Uỷ ban nhân dân huyện Châu Thành có nhận được đơn yêu
cầu của bà Lâm Thị Nh sinh năm 1943, địa chỉ số 97/34/9 đường Lương Định Của,
Khóm 4, Phường 5, thành phố Sóc Trăng (là người đại diện theo ủy quyền của bà
Lâm Thị S, Lâm Thị Th và Lâm Thị X). Nội dung: Bà Lâm Thị Nh yêu cầu UBND
huyện xem xét hợp thức hóa, cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất diện tích
5.040m
2
(36m x 140m) thửa đất tiếp giáp đường tỉnh 932, ấp Phước An, xã Phú
Tân, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.
Kết quả đo đạc phần đất bà Lâm Thị Nh xin hợp thức hóa thuộc một phần
thửa đất số 125, tờ bản đồ số 03, diện tích đo đạc thực tế theo ranh mốc do bà Lâm
Thị Nh tự xác định là 367,2m
2
(sân đal: 108,9m
2
, nhà sinh hoạt cộng đồng: 63,3m
2
,
phía sau nhà sinh hoạt cộng đồng có diện tích 195m
2
).
Xét về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất nêu trên từ năm 1967 đến nay thì
ông Lâm S, vợ là bà Lý Thị S1 (cha, mẹ ruột của bà Nh) và bà Lâm Thị Nh, Lâm
Thị Th, Lâm Thị S và Lâm Thị X không phải là những người trực tiếp sử dụng và
cũng không có giấy tờ chứng minh về nguồn gốc đất.
5
Xét thấy đơn yêu cầu hợp thức hóa, cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất
của bà Lâm Thị Nh là chưa đủ điều kiện theo quy định của Luật đất đai năm 2013.
Ngày 04/6/2020, UBND huyện Châu Thành ban hành Công văn số
449/UBND-VP trả lời đơn yêu cầu của bà Nh theo qui định pháp luật.
Ngày 17/6/2020, bà Nh có đơn khiếu nại Công văn số 449/UBND-VP ngày
04/6/2020 và yêu cầu xin hợp thức hóa thuộc một phần thửa đất số 125, tờ bản đồ
số 03, diện tích 428,20m
2
. Trên cơ sở kết quả xác minh, đối thoại, căn cứ vào
Khoản 1 Điều 100, Khoản 1, 2 Điều 101 Luật Đất đai năm 2013; Điều 18, 20 và
Điều 21 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ qui định chi
tiết thi hành Luật Đất đai năm 2013. Chủ tịch UBND huyện C ban hành Quyết định
số 01/QĐKN-UBND ngày 22/9/2020 bác đơn khiếu nại của bà Lâm Thị Nh. Ngày
15/10/2020, bà Nh tiếp tục khiếu nại (lần hai) gửi Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng,
yêu cầu xem xét Quyết định số 01/QĐKN-UBND ngày 22/9/2020.
Qua kết quả thẩm tra, xác minh, kết quả đối thoại, Chủ tịch UBND tỉnh Sóc
Trăng ban hành Quyết định số 262/QĐ-UBND ngày 02/02/2021 công nhận và giữ
nguyên Quyết định số 01/QĐKN-UBND ngày 22/9/2020 của Chủ tịch UBND
huyện C.
Căn cứ vào kết quả thẩm tra, xác minh, đối chiếu các qui định pháp luật về
đất đai, xét thấy: Chủ tịch UBND huyện C ban hành Công văn số 449/UBND-VP
ngày 04/6/2020, Quyết định số 01/QĐKN-UBND ngày 22/9/2020 về việc giải
quyết đơn yêu cầu, đơn khiếu nại của bà Lâm Thị Nh là có căn cứ, đúng qui định
pháp luật.
Theo Văn bản của phía người bị kiện Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng trình
bày:
Năm 2019, bà Lâm Thị Nh có đơn yêu cầu cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất diện tích 5.040m
2
, tọa lạc ấp Phước An, xã Phú Tân, huyện Châu Thành
đã được Chủ tịch UBND huyện C trả lời tại Văn bản số 449/UBND-VP ngày
04/6/2020 với nội dung không đủ điều kiện cấp Giấy chúng nhận theo quy định của
Luật Đất đai; vì từ năm 1967 đến nay gia đình bà Lâm Thị Nh không phải là người
trực tiếp quản lý, sử dụng đất và không có giấy tờ chứng minh về nguồn gốc đất;
giấy cho đứt đất ở năm 1941 kèm theo không xác định vị trí cụ thể và cũng không
thuộc những loại giấy tờ theo quy định của Luật Đất đai năm 2013. Bà Lâm Thị Nh
không đồng ý, khiếu nại.
Ngày 22/9/2020, Chủ tịch UBND huyện C ban hành Quyết định số
01/QĐKN-UBND về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) với nội dung: bác đơn
khiếu nại của bà Lâm Thị Nh.
6
Theo kết quả xác minh của cơ quan chức năng trong quá trình giải quyết
khiếu nại lần 2, cụ thể như sau:
Phần đất bà Lâm Thị Nh yêu cầu cấp Giấy chứng nhận có nguồn gốc là của
ông Lâm Pia L (thường gọi là Xã S1). Trước năm 1964, ông Lâm S là cha của bà
Lâm Thị Nh đưa gia đình đến phần đất trên cất căn nhà lá để ở và hớt tóc. Năm
1964, ông Lâm C (con của Lâm S) là lính phòng vệ dân sự của chế độ cũ giữ chức
vụ Liên toán trưởng thường xuyên tổ chức hội họp ở căn nhà trên nên cách mạng
đặt mìn đánh sập căn nhà. Sau khi nhà bị sập, gia đình ông Lâm S đi nơi khác sinh
sống, bỏ đất trống.
Năm 1975, dân địa phưong sử dụng nơi đây làm lễ cầu an hằng năm. Đến
năm 2001, UBND xã P xây dụng trụ sở Ban nhân dân ấp Phước An và đến năm
2014 xây dựng nhà sinh hoạt cộng đồng của ấp Phước An trong khu vực đất có
diện tích đo đạc thực tế là 367,2m
2
.
Qua kết quả đối thoại trong quá trình giải quyết khiếu nại lần 2, bà Lâm Thị
Nh không cung cấp được giấy tờ và không chứng minh được có quá trình quản lý,
sử dụng đất ổn định từ năm 1975 đến nay.
Xét thấy, việc Chủ tịch UBND huyện C giải quyết khiếu nại lần đầu là phù
hợp, đúng quy định tại khoản 1 Điều 100; khoản 1 và 2 Điều 101 Luật Đất đai năm
2013; Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy
định chi tiết một số điều của Luật đất đai. Trên cơ sở đó, Chủ tịch UBND tỉnh Sóc
Trăng ban hành Quyết định số 262/QĐ-UBND ngày 02/02/2021 về việc giải quyết
khiếu nại lần 2 với nội dung: Công nhận và giữ nguyên nội dung Quyết định số
01/QĐKN-UBND ngày 22/9/2020 của Chủ tịch UBND huyện C, bác đơn khiếu nại
của bà Lâm Thị Nh là đúng quy định của pháp luật, đề nghị Tòa án không chấp
nhận yêu cầu của những người khởi kiện.
Theo Văn bản của phía người có quyền, nghĩa vụ liên quan UBND xã P,
huyện C, tỉnh Sóc Trăng trình bày:
Yêu cầu của phía người khởi kiện là không có căn cứ, đề nghị không chấp
nhận yêu cầu của những người khởi kiện.
Tại Bản án Hành chính sơ thẩm số 09/2021/HC-ST ngày 25/11/2021 của
Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, đã tuyên xử:
1/ Bác yêu cầu khởi kiện của những người khởi kiện bà Lâm Thị Nh, Lâm
Thị X, Lâm Thị Th, Lâm Thị S về việc yêu cầu hủy Công văn số 197/UBND-VP,
ngày 04/12/2017 của UBND xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng về việc trả lời đơn
khiếu nại của công dân trong lĩnh vực đất đai; Công văn số 449/UBND-VP, ngày
7
04/6/2020 của UBND huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng “về việc trả lời đơn yêu
cầu của bà Lâm Thị Nh”; Quyết định số 01/QĐKN-UBND ngày 22/9/2020 của
Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C về việc giải quyết khiếu nại lần đầu; Quyết định
số 262/QĐ-UBND ngày 02/02/2021 của Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng về việc
giải quyết khiếu nại lần hai.
2/ Về án phí hành chính sơ thẩm: Bà Lâm Thị Nh, bà Lâm Thị X, bà Lâm
Thị Th, bà Lâm Thị S được miễn nộp.
3/ Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Bà Lâm Thị Nh, Lâm Thị X, Lâm
Thị Th, Lâm Thị S cùng chịu số tiền 5.990.000đồng. Đã nộp xong số tiền trên.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền kháng
cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 01/12/2021 bà Lâm Thị S làm đơn kháng cáo,
nêu lý do:
Bản án sơ thẩm không thỏa đáng, đề nghị phúc xử lại theo hướng chấp nhận
toàn bộ yêu cầu của phía khởi kiện.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Phía người khởi kiện, bà Lâm Thị S vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và
yêu cầu kháng cáo, yêu cầu hủy bỏ các quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch
UBND huyện C và Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng về việc giải quyết khiếu nại
trong việc không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho phía người khởi kiện.
Phía người bị kiện vắng mặt tại phiên tòa, có văn bản xin được vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát
biểu quan điểm cho rằng: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án cấp phúc thẩm
đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Những người tham gia phiên tòa cũng đã
thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo luật định. Về nội dung: Đề nghị
giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về thủ tục kháng cáo:
Đơn kháng cáo của bà Lâm Thị S làm trong hạn luật định nên thủ tục kháng
cáo hợp lệ.
[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
8
Căn cứ yêu cầu khởi kiện của phía người khởi kiện thì vụ án có quan hệ
tranh chấp: “Khiếu kiện QĐHC và HVHC về QLNN trong lĩnh vực đất đai, thuộc
trường hợp giải quyết khiếu nại trong việc không cấp giấy chứng nhận QSD đất”.
Quan hệ tranh chấp trên được pháp luật quy định tại Điều 3, Điều 28, Điều
115 Luật tố tụng Hành chính; Luật đất đai; Nghị định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn
thi hành Luật đất đai.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ tranh chấp và giải quyết đúng
thẩm quyền được pháp luật quy định tại các Điều 31, 32 Luật tố tụng Hành chính.
[3] Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo:
Đối với Văn bản số 197/UBND-VP ngày 04/12/2017 của UBND xã P,
huyện C, tỉnh Sóc Trăng: Vào ngày 20/7/2017, phía người khởi kiện có làm đơn
gửi đến Ban nhân dân ấp Phước An, xã Phú Tân về việc xin lại phần đất thổ cư tọa
lạc tại ấp Phước An, xã Phú Tân nằm ở phía trước trụ sở của ban nhân ấp Phước
An, Ủy ban xã đã tiến hành xác minh một số nội dung liên quan đến yêu cầu của
người khởi kiện.
Ngày 04/12/2017, UBND xã P đã ban hành văn bản 197/UBND-VP trả lời
khiếu nại của phía người khởi kiện trong lĩnh vực đất đai, có nội dung: Đơn tường
trình xin lại đất của gia đình người khởi kiện không đủ cơ sở để giải quyết vụ việc,
lý do gia đình đã không chứng minh được nguồn gốc đất của nhà sinh hoạt cộng
đồng Phước An thuộc quyền sở hữu của gia đình người khởi kiện, phần đất trên đã
thuộc quyền quản lý và sử dụng của Nhà nước từ sau năm 1975 đến nay.
Đối với các quyết định giải quyết khiếu nại và văn bản giải quyết khiếu của
Văn phòng UBND huyện Châu Thành và Chủ tịch UBND huyện C, Chủ tịch
UBND tỉnh Sóc Trăng thì thấy: Theo đơn xin hợp thức hóa quyền sử dụng đất ngày
18/4/2019 do bà Lâm Thị Nh gửi UBND huyện Châu Thành yêu cầu hợp thức hóa
quyền sử dụng đất cập lộ 932 ấp Phước An, xã Phú Tân với diện tích 5.040m
2
bà
Nh cho rằng phần đất này là của ông Lâm Pỉa L, cho cha bà là ông Lâm F vào ngày
14/5/1941, cha mẹ bà đã sử dụng đất này từ đó và có xây dựng 3 căn nhà trên đất
cất nhà bằng cây lá, 1 căn nhà cho bà Th, 1 căn cho người khác, còn căn nhà để cha
bà hớt tóc. Đến năm 1980 căn nhà bị mục nát và sập, cha bà đến ở với bà Th cho
đến chết.
Sau đó tại đơn khiếu nại vào ngày 17/6/2020 và đơn khiếu nại vào ngày
15/10/2020 của bà Lâm Thị Nh, cũng như đơn khởi kiện ngày 01/3/2021 đều thể
hiện nội dung như trên, tuy nhiên có điều chỉnh lại diện tích đất để cần hợp thức
hóa quyền sử dụng đất là 428,20m
2
kèm theo tài liệu là tờ cho đất ở.
9
Xét về nguồn gốc đất mà phía người khởi kiện yêu cầu hợp thức hóa nêu
trên thuộc thửa 125 tờ bản đồ số 03 tọa lạc tại ấp Phước An, xã Phú Tân, huyện
Châu Thành những người khởi kiện cho rằng là đất do cha của những người khởi
kiện được cho tặng thuộc địa bộ 646 diện tích 6.400m
2
. Tuy nhiên, phía người khởi
kiện không có thông tin chính xác vị trí đất ở vị trí nào và không thể hiện đất trên
thuộc thửa 125.
Mặt khác quá trình giải quyết khiếu nại cơ quan chức năng đã tiến hành xác
minh những người sinh sống tại địa phương thì xác định từ năm 1975 gia đình của
người khởi kiện không có thời gian nào sử dụng lâu dài đối với phần đất nêu trên.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành các trình tự, thủ
tục về xem xét, thẩm định tại chỗ đối với phần đất trên, thể hiện diện tích do những
người khởi kiện chỉ ranh là 546m
2
trong đó có nhà sinh hoạt cộng đồng ấp Phước
An, phía trước nhà sinh hoạt giáp với đường có 1 sân xi măng, phía sau là đất trống
không ai sử dụng nên có cơ sở để xác định phía người bị kiện đã ban hành các
quyết định hành chính nêu trên về việc không chấp nhận hợp thức hóa quyền sử
dụng đất và bác yêu cầu khiếu nại của người khởi kiện là có căn cứ.
Tòa án cấp sơ thẩm đã không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của phía người
khởi kiện là đúng quy định của pháp luật phù hợp với thực tế sử dụng đất thể hiện
trong hồ sơ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, phía người khởi kiện kháng cáo nhưng cũng không
đưa ra được những tài liệu, chứng cứ gì mới để chứng minh nguồn gốc và thực tế
sử dụng đất hiện nay nên không có cơ sở chấp nhận.
[4] Về án phí hành chính phúc thẩm: Do không chấp nhận yêu cầu kháng
cáo nên phía người khởi kiện chịu án phí HCPT theo luật định. Do bà Lâm Thị S là
người cao tuổi nên được miễn nộp án phí HCPT theo luật định.
[5] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo,
không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.
Bởi các lẽ trên,
Căn cứ Điều 241 Luật tố tụng Hành chính.
QUYẾT ĐỊNH:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Lâm Thị S. Giữ nguyên bản án
sơ thẩm.
Áp dụng các Điều 3, 28, 32, 115 Luật tố tụng hành chính 2015; Áp dụng các
Luật Đất đai năm 2013; Áp dụng Luật Khiếu nại năm 2011; Áp dụng Nghị quyết về
Lệ phí, án phí tòa án; Áp dụng Luật Thi hành án Dân sự.
10
Tuyên xử:
1/ Bác yêu cầu khởi kiện của những người khởi kiện bà Lâm Thị Nh, Lâm
Thị X, Lâm Thị Th, Lâm Thị S về việc yêu cầu hủy Công văn số 197/UBND-VP,
ngày 04/12/2017 của UBND xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng về việc trả lời đơn
khiếu nại của công dân trong lĩnh vực đất đai; Công văn số 449/UBND-VP, ngày
04/6/2020 của UBND huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng “về việc trả lời đơn yêu
cầu của bà Lâm Thị Nh”; Quyết định số 01/QĐKN-UBND ngày 22/9/2020 của
Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C về việc giải quyết khiếu nại lần đầu; Quyết định
số 262/QĐ-UBND ngày 02/02/2021 của Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng về việc
giải quyết khiếu nại lần hai.
2/ Về án phí hành chính phúc thẩm: Bà Lâm Thị S được miễn nộp.
3/ Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không
bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.
4/ Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Tòa án nhân dân tối cao. THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSNDCC tại Tp. HCM.
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng.
- Các đương sự (Để thi hành).
- Lưu văn phòng; hồ sơ vụ án, NTV.
LÊ HOÀNG TẤN
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Bản án số 80/2026/KDTM-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 22/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 16/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Bản án số 16/2026/KDTM-PT ngày 14/02/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 14/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm