Bản án số 137/2022/HS-PT ngày 08/07/2022 của TAND tỉnh Long An về tội cố ý gây thương tích
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án 137/2022/HS-PT Long An
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án 137/2022/HS-PT Long An
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 137/2022/HS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 137/2022/HS-PT ngày 08/07/2022 của TAND tỉnh Long An về tội cố ý gây thương tích |
|---|---|
| Tội danh: | 134.Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Long An |
| Số hiệu: | 137/2022/HS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 08/07/2022 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Lê Văn T, Lê Văn H và Nguyễn Minh T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích” |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LONG AN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 137/2022/HS-PT
Ngày: 08-7-2022
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Phượng
Các Thẩm phán: Ông Lương Minh Trí
Ông Nguyễn Thiện Tâm
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Dương Phát - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Long An.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa:
Bà Mai Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 58/2022/TLPT-HS ngày 21
tháng 4 năm 2022 do có kháng cáo của bị cáo Lê Văn T, Nguyễn Minh T1 và Lê
Văn H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2022/HS-ST ngày 17 tháng 01 năm
2022 của Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Long An.
Các bị cáo kháng cáo:
1. Lê Văn T, (tên gọi khác: M), sinh năm 1994, giới tính: Nam. Nơi đăng
ký thường trú: Ấp 1, xã M1, huyện S, tỉnh Long An; quốc tịch: Việt Nam; dân
tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 05/12; nghề nghiệp: Làm thuê; con
ông Lê Văn L (đã chết) và bà Lê Thị K; anh chị em có 08 người, lớn sinh năm
1978, nhỏ sinh năm 1996; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 26/02/2018 bị Uỷ ban
nhân dân xã M1 xử phạt 2.500.000đ về hành vi xâm hại sức khỏe người khác,
nộp phạt ngày 01/7/2021; bị cáo được tại ngoại, vắng mặt.
2. Lê Văn H, sinh năm 1996, giới tính: Nam. Nơi đăng ký thường trú: Ấp
1, xã M1, huyện S, tỉnh Long An; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo:
Không; trình độ học vấn: 05/12; nghề nghiệp: Công nhân; con ông Lê Văn L (đã
chết) và bà Lê Thị K; anh chị em có 08 người: Lớn sinh năm 1978, nhỏ sinh năm
1996; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo được tại ngoại, vắng mặt.
3. Nguyễn Minh T1, sinh năm: 1996, giới tính: Nam. Nơi đăng ký thường
trú: Ấp 2, xã M1, huyện S, tỉnh Long An; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh;
tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Làm thuê; con ông
Nguyễn Thành T và bà Lê Thị T2; có vợ tên Nguyễn Thị Kim C; có 02 đứa con:
Lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo được tại
ngoại, vắng mặt.
2
Những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo hoặc không có
liên quan đến kháng cáo, kháng nghị không triệu tập:
- Bị hại: Thái Văn L1, sinh năm: 1991. Địa chỉ: Ấp K1, xã K2, huyện M2,
tỉnh Bến Tre.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Anh P, sinh năm: 1999. Địa chỉ: Ấp 2,
xã M1, huyện S, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 18/11/2020, tại quán X ở Ấp 2, xã M1, huyện S, Lê
Văn T và anh Thái Văn L1 có xảy ra mâu thuẫn cãi với nhau. Được mọi người
can ngăn, nên T về nhà ở Ấp 1, xã M1. Sau đó, có một người (không rõ nhân
thân) điện thoại rủ anh L1 đánh nhau, anh L1 nghĩ người điện thoại là T. Khoảng
17 giờ cùng ngày, anh L1 cầm 01 cây rựa cùng với Nguyễn Minh H1 đến Ấp 1,
xã M1 tìm T để đánh nhau. Tại đây, anh L1 cầm rựa đuổi đánh T nhưng T chạy
thoát, không đánh được, anh L1 quay về quán X. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày,
T cùng với Lê Văn H (em ruột T), Nguyễn Minh T1 (cháu ruột T) uống rượu tại
nhà T. Trong lúc uống rượu, T kể lại việc bị anh L1 đuổi đánh và rủ H, T1 đến
quán X tìm anh L1 đánh trả thù, H và T1 đồng ý. T1 điều khiển xe mô tô 70EA-
5937 chở H và T đến quán X. Khi đi, T đem theo 01 con dao bằng kim loại màu
đen, dài 43cm, phần cán bằng kim loại dài 15cm hàn dính với phần lưỡi, lưỡi dao
dài 28cm, phần rộng nhất của lưỡi dao là 5cm, phần hẹp nhất của lưỡi dao là
3cm, mũi dao bằng để làm hung khí đánh nhau. Khoảng 22 giờ 50 phút, anh L1
đang ngồi uống bia cùng anh Nguyễn Anh P, Phạm Hoàng P1, nhìn thấy T, H và
T1 đến có đem theo dao thì anh L1 bỏ chạy ra phía sau quán. T cầm dao cùng H
và T1 đuổi theo anh L1 vào trong quán nhưng không kịp. Tại đây, T1 lấy 01 con
dao loại dao Thái Lan, dài 20cm, cán bằng gỗ màu xám dài khoảng 10cm, lưỡi
bằng kim loại màu trắng dài khoảng 10cm, H lấy 01 con dao dài 30cm, cán bằng
gỗ dài 12cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 18cm, nơi rộng nhất của lưỡi dao
là 06cm có sẵn trong quán để làm hung khí. T, H, T1 đi quanh quán tìm anh L1
để đánh nhau nhưng không tìm được. Lúc này, anh L1 lấy 01 cây rựa dài 80cm,
cán bằng gỗ dài 47cm, lưỡi bằng kim loại màu đen dài 33cm từ phía sau quán
chạy đến chém trúng tay phải của H 01 cái. H quật ngã anh L1 xuống đất, H ngồi
đè lên người anh L1 dùng dao đâm trúng nhiều cái vào người của anh L1, T1
dùng dao đâm nhiều cái trúng vào người anh L1 và giật cây rựa anh L1 đang
cầm, T đứng ngoài dùng dao chém vào người của anh L1 trúng nhiều cái. Thấy
anh L1 bị đánh chảy máu nên anh P đến can ngăn, T, H, T1 bỏ về còn anh L1
được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Long An. Quá trình Lê Văn T, Lê
Văn H, Nguyễn Minh T1 dùng dao gây thương tích cho anh Thái Văn L1 được
camera tại quán X ghi nhận lại.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 90/TgT.21-Py ngày
18 tháng 5 năm 2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Long An, kết luận tỷ lệ tổn
3
thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Thái
Văn L1 là: 20%.
Tại Kết luận số 3202/C09B ngày 21 tháng 7 năm 2021 của Phân viện
Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Đoạn video của camera
thu được tại quán X liên tục về nội dung, không phát hiện dấu vết bị chỉnh sửa,
cắt ghép.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2022/HS-ST ngày 17 tháng 01 năm
2022 của Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Long An đã quyết định:
Tuyên bố: Các bị cáo Lê Văn T, Lê Văn H và Nguyễn Minh T1 phạm tội
“Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các Điều: 17; 38; 50, 58; các điểm: b, s
khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự. Xử phạt :
1. Bị cáo Lê Văn T (tên gọi khác: M) 08 (tám) tháng tù. Thời gian tù tính
từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù;
2. Bị cáo Lê Văn H 06 (sáu) tháng tù. Thời gian tù tính từ ngày bị cáo
chấp hành án phạt tù;
3. Bị cáo Nguyễn Minh T1 06 (sáu) tháng tù. Thời gian tù tính từ ngày bị
cáo chấp hành án phạt tù.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền và
thời hạn kháng cáo đối với những người tham gia tố tụng.
Ngày 19 tháng 01 năm 2022, các bị cáo Lê Văn T, Nguyễn Minh T1 và Lê
Văn H kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Lê Văn T, Nguyễn Minh T1, Lê Văn
H đều vắng mặt tại phiên tòa.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu:
Về tố tụng: Các bị cáo Lê Văn T, Nguyễn Minh T1, Lê Văn H thực hiện
kháng cáo đúng quy định nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Lời khai của các bị cáo Lê Văn T, Nguyễn Minh T1, Lê Văn
H tại phiên tòa sơ thẩm và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở
kết luận hành vi của các bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương
tích” tội phạm và hình phạt theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật
Hình sự nên cấp sơ thẩm xét xử đối với các bị cáo về tội danh và điều luật trên là
đúng quy định pháp luật, không oan. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ
thẩm xác định các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong
quá trình điều tra, xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; đã
tích cực bồi thường toàn bộ chi phí cho bị hại để khắc phục hậu quả; người bị hại
có 1 phần lỗi đối với bị cáo T và bị cáo H; người bị hại có đơn bãi nại xin không
xử lý hình sự đối với các bị cáo, là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, b
khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do các bị cáo có nhiều tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự
4
nên cấp sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo T 8
tháng tù và các bị cáo T1 và H mỗi bị cáo 6 tháng tù. Các bị cáo T, T1, H đều
kháng cáo xin hưởng án treo. Xét thấy: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho
xã hội, các bị cáo đã dùng hung khí nguy hiểm trực tiếp gây thương tích cho bị
hại. Hành vi trái pháp luật của các bị cáo đã xâm hại đến sức khỏe của bị hại và
gây mất trật tự tại địa phương. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo kháng cáo có
bổ sung tình tiết mới là hoàn cảnh gia đình khó khăn, có xác nhận của chính
quyền địa phương. Tuy nhiên, mức hình phạt mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với
các bị cáo là đã xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và tương xứng với
hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra. Đối với hành vi của các bị cáo cần thiết
phải xử lý các bị cáo một hình phạt tù có thời hạn để giáo dục các bị cáo và
phòng ngừa chung. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1
Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của các
Lê Văn T, Lê Văn H và Nguyễn Minh T1, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số
06/2022/HS-ST ngày 17 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh
Long An về hình phạt đối với các bị cáo. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự
phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
NHN ĐNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, Hội
đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Bị cáo Lê Văn T, Nguyễn Minh T1, Lê Văn H thực hiện kháng cáo
trong thời hạn quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên Tòa án nhân dân tỉnh
Long An thụ lý xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Lê Văn T, Nguyễn Minh T1, Lê
Văn H đều vắng mặt. Xét thấy, các bị cáo đươc Tòa án triệu tập hợp lệ theo
pháp luật quy định nhưng vắng mặt không có lý do, nên căn cứ điểm c khoản 1
Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Nội dung án sơ thẩm đã xác định: Khoảng 22 giờ 50 phút ngày
18/11/2020, tại quán X ở Ấp 2, xã M1, huyện S, xuất phát từ việc bị anh Thái
Văn L1 dùng rựa đuổi đánh nên Lê Văn T cùng Lê Văn H (là em của T) và
Nguyễn Minh T1 là cháu của T, mỗi người sử dụng 01 con dao sắc bén là hung
khí nguy hiểm để đâm, chém gây thương tích cho anh Thái Văn L1 với tỷ lệ
20%. Các bị cáo thừa nhận chỉ đánh dằn mặt, đánh cảnh cáo anh L1 chứ không
nhằm mục đích tước đoạt mạng sống của anh L1. Như vậy, hành vi của các bị
cáo Lê Văn T, Lê Văn H, Nguyễn Minh T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây
thương tích” theo quy định tại điều 134 Bộ luật Hình sự, các bị cáo dùng dao là
hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ 20% là tình tiết định
khung tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134
Bộ luật Hình sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội danh và điều
luật trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
5
[4] Xét kháng cáo của các bị cáo Lê Văn T, Nguyễn Minh T1, Lê Văn H:
Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm xác định các bị cáo không có tình
tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, xét xử các bị cáo đã
thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; đã tích cực bồi thường toàn bộ chi phí cho
bị hại để khắc phục hậu quả; người bị hại có 1 phần lỗi; người bị hại có đơn bãi
nại xin không xử lý hình sự đối với các bị cáo, là các tình tiết giảm nhẹ quy định
tại điểm s, b khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do các bị cáo có nhiều
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ
luật Hình sự nên cấp sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt
bị cáo T 08 tháng tù, bị cáo T1 và bị cáo H mỗi bị cáo 06 tháng tù. Các bị cáo
đều kháng cáo xin hưởng án treo. Thấy rằng: Hành vi của các bị cáo là nguy
hiểm cho xã hội, các bị cáo đã dùng hung khí nguy hiểm trực tiếp gây thương
tích cho bị hại. Hành vi trái pháp luật của các bị cáo đã xâm hại đến sức khỏe của
bị hại và gây mất trật tự tại địa phương. Các bị cáo kháng cáo có bổ sung tình tiết
mới là hoàn cảnh gia đình có khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa
phương. Tuy nhiên, trong vụ án này bị cáo T là người rủ rê, khởi xướng và là
người có một tiền sự về hành vi xâm phạm sức khỏe người khác. Bị cáo T1 với
anh L1 không có mâu thuẫn thù oán gì, anh L1 cũng chưa đánh bị cáo trước mà
bị cáo đâm anh L1 nên hành vi của bị cáo có tính chất côn đồ. Các bị cáo T, H,
T1 đã dùng hung khí nguy hiểm đâm nhiều cái vào người anh L1 gây thương tích
cho anh L1 20% nên các bị cáo phải cùng gánh chịu chung H quả. Mức hình phạt
mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo là đã xem xét giảm nhẹ hình phạt cho
các bị cáo và tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra. Đối với
hành vi của các bị cáo cần thiết phải xử lý các bị cáo một hình phạt tù có thời
hạn để giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung, nên các bị báo yêu cầu được
hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự là không có căn cứ. Do
đó, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Văn T, Nguyễn Minh T1 và Lê
Văn H, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2022/HS-ST ngày 17 tháng 01
năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Long An về hình phạt đối với các
bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp.
[5] Về án phí: Căn cứ Điều 135 và 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án thì các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do
kháng cáo không được chấp nhận.
[6] Các khoản khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị theo
thủ tục phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng
cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐNH
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
năm 2015.
6
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Văn T, Nguyễn Minh T1,
Lê Văn H. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2022/HS-ST ngày 17 tháng
01 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Long An.
Tuyên bố: Các bị cáo Lê Văn T, Lê Văn H và Nguyễn Minh T1 phạm tội
“Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các Điều: 17; 38; 50, 58; các điểm: b, s
khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự. Xử phạt:
- Bị cáo Lê Văn T (tên gọi khác: M) 08 (tám) tháng tù. Thời gian tù tính từ
ngày bị cáo chấp hành án phạt tù;
- Bị cáo Lê Văn H 06 (sáu) tháng tù. Thời gian tù tính từ ngày bị cáo chấp
hành án phạt tù;
- Bị cáo Nguyễn Minh T1 06 (sáu) tháng tù. Thời gian tù tính từ ngày bị
cáo chấp hành án phạt tù.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Lê Văn T, Lê Văn H và Nguyễn Minh T1 mỗi bị cáo phải
chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TANDCC tại TPHCM (01b);
- VKSNDCC tại TPHCM (01b);
- VKSND tỉnh Long An (01b);
- Sở Tư pháp tỉnh Long An (01b);
- TAND huyện (02b);
- VKSND huyện (01b);
- Chi cục THADS huyện (01b);
- Bị cáo (01b);
- Người TGTT khác;
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Huỳnh Thị Phượng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng