Bản án số 136/2023/DS ngày 12/12/2023 của TAND tỉnh Quảng Nam về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 136/2023/DS

Tên Bản án: Bản án số 136/2023/DS ngày 12/12/2023 của TAND tỉnh Quảng Nam về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín
Quan hệ pháp luật: Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Quảng Nam
Số hiệu: 136/2023/DS
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 12/12/2023
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm giữa nguyên đơn ông Lê Hoàng H với bị đơn ông Nguyễn Minh S
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NAM
Bản án số: 136/2023/DS - PT
Ngày: 12 - 12 - 2023
V/v “Tranh chấp về bồi thường thiệt
hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị
xâm phạm”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
ông Nguyễn Văn Dũng
ông Nguyễn Hữu Thịnh;
Nguyễn Thị Thanh Tuyên.
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Hương Loan - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: ông
Lương Quốc Phòng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét x
phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 98/2023/TLPT - DS ngày 10 tháng 11 năm 2023 về
việc “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 46/2023/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2023 của Tòa
án nhân dân huyện Q, tỉnh Quảng Nam bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 108A/2023/QĐ - PT ngày 23
tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Lê Hoàng H, sinh năm 1964; địa chỉ: thôn K, xã Q, huyện Q,
tỉnh Quảng Nam.
- Bị đơn: ông Nguyễn Minh S, sinh năm 1977; địa chỉ: thôn C, Q, huyện Q,
tỉnh Quảng Nam (Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam).
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị C, sinh năm 1964; địa
chỉ: thôn K, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam.
- Người kháng cáo: nguyên đơn Lê Hoàng H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan Nguyễn Thị C.
Các ông, bà: H, C có mặt; ông S vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Phía nguyên đơn trình bày: ông Nguyễn Minh S Chủ tịch UBND Q, huyện
Q, đã hành vi lợi dụng chức vụ, quyền lực, làm những việc không đúng pháp luật,
xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín, gây thiệt hại cho vợ chồng ông H. Cụ thể:
Một là, ông S đã hành vi gian dối, cho rằng ngoài diện ch đất rừng tại khu
vực rừng D, thôn K vợ chồng ông H được giao khoán 2.500m
2
thì vợ chồng ông đã
2
lấn chiếm đất chính quyền đã giao khoán cho các nhóm hộ khác (Tổ A, 2, 3), dẫn
đến vợ chồng ông đã sử dụng 8.500m
2
. Nhưng thực tế diện tích vợ chồng ông đã s
dụng ngoài diện tích giao khoán 2.500m
2
đất vợ chồng ông tận dụng đất mồ mả,
tự khai hoang đất của ông Văn T (là chú của ông H) cho vợ chồng ông sử dụng.
Việc làm này được thể hiện trong Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của UBND xã
Q ngày 14/8/2020.
Hai là, ông S đã hành vi tham lam, buộc vợ chồng ông viết cam kết giao toàn
bộ diện tích đất rừng tại khu vực rừng D, thôn K (8.500m
2
) toàn bộ cây trên đất để
ông S khai thác và trả lại cho vợ chồng ông tiền cây giống. Nội dung này là ý kiến phát
biểu của ông S tại biên bản họp ngày 06/3/2020.
Ba là, tại Báo cáo s16 của UBND Q gởi UBND huyện Q nội dung “gia
đình ông Hoàng H giao lại 8.500m
2
đất tại khu vực rừng D, thôn K cho U để giao
khoán lại cho toàn dân” trong khi vợ chồng ông đang sử dụng đất đúng mục đích
nhưng không hiểu vì lý do gì mà ông S buộc gia đình ông giao lại đất để giao khoán cho
các hộ dân khác.
Theo đó, nguyên đơn khởi kiện, yêu cầu bị đơn bồi thường các khoản tiền gồm:
tổn thất tinh thần (do vợ chồng ông H phải lo lắng, suy nghĩ, mất ngủ) mỗi người
10.000.000 đồng, tổng cộng 20.000.000 đồng; thiệt hại về kinh tế (vợ chồng ông không
đi làm, phải tham gia họp khoảng 10 ngày/người, tiền công của ông 600.000
đồng/ngày, của C 300.000 đồng/ngày) là 20.000.000 đồng. Buộc ông S phải họp dân
công khai, minh bạch về diện tích đất cụ thể vợ chồng ông đang sử dụng, vợ chồng ông
không lấn chiếm đất đã giao khoán của các Tổ 1, 2, 3 như ông S đã kết luận tại các cuộc
họp.
Phía bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cho rằng: quá
trình giải quyết việc lấn chiếm đất rừng D, bản thân ông được nhà nước giao nhiệm vụ
quản tại địa phương, theo chức năng ông đã thực hiện các bước theo quy trình được
luật quy định. Việc UBND xã Q xác định vợ chồng ông H đang sử dụng đất lấn chiếm
tại Quyết định giải quyết khiếu nại ngày 24/8/2020 đúng thực tế phù hợp với nội
dung kết luận tại Quyết định 737/QĐ - UBND ngày 15/7/2021 của Chủ tịch UBND
huyện Q về diện tích nhóm hộ ông H đang sử dụng lấn chiếm gồm: diện tích được giao
khoán năm 2008 theo chu kỳ cây 06 năm được tính từ tháng 9/2008 đến năm thu
hoạch tháng 9/2014 2.500m
2
; diện tích lấn chiếm của các tổ dân xung quanh từ
năm 2014 là 331,3m
2
; diện tích đang có mồ mả, nằm ngoài diện tích giao khoán
4.613m
2
.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị C đồng ý với yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn cho rằng: vợ chồng sdụng đất không giấy tờ đất lấn
chiếm nhưng đây tình trạng chung của nhiều địa phương, nhiều hộ gia đình, không
phải riêng gia đình bà tại xã Q, nhiều người dân đã tận dụng đất mmả, đất bỏ hoang để
trồng cây kiếm thêm thu nhập. Việc gia đình sử dụng diện tích đất nhiều hơn diện
tích đất được giao khoán không phải do tự chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới thửa đất
để mở rộng diện tích do sai số đo đạc. Đối với việc giao khoán đất theo biên bản
3
thỏa thuận giao đất rừng cho nhóm hộ vào năm 2008 theo chu kỳ cây, nên việc trồng
cây trên đất đã được giao khoán vào năm 2008 của gia đình bà là đúng pháp luật.
Với nội dung như trên, tại Bản án dân sự thẩm số 46/2023/DS - ST ngày 30
tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Quảng Nam đã căn cứ khoản 6
Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 273 Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015; các điều 584, 585, 592 Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm đ
khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, xử: không chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của ông Hoàng H về việc“Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân
phẩm, uy tín bị xâm phạm”.
Ngoài ra, bản án thẩm còn quyết định ván phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi
hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xthẩm, ngày 12 tháng 9 m 2023, nguyên đơn Hoàng H
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị C kháng cáo toàn bộ bản án
thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam phát
biểu ý kiến: Tòa án, những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã thực hiện
đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, xét xử vụ án theo
thủ tục phúc thẩm; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn người quyền lợi
nghĩa vụ liên quan, ginguyên Bản án thẩm số 46/2023/DS - ST ngày 30 tháng 8
năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Quảng Nam.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh
tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc
thẩm nhận định:
[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện; ông H, C
không rút đơn kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm.
[2]. Xét kháng cáo của các đương sự:
[2.1]. Về thủ tục tố tụng
[2.1.1]. Việc kháng cáo của nguyên đơn người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
được thụ lý trong thời hạn, đúng điều kiện, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên kháng cáo của ông Hoàng H Nguyễn Thị C
hợp pháp.
[2.1.2]. Hội đồng xét xử căn cứ các điều 294, 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến
hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2.2]. Về nội dung
Xem xét toàn bộ bản án sơ thẩm, Hội đồng xét xử thấy:
Thứ nhất, kiểm tra, đối chiếu các tài liệu, chứng cứ liên quan đến những việc mà phía
nguyên đơn cho rằng ông Nguyễn Minh S lạm quyền, vụ lợi, thực hiện hành vi trái pháp
luật (thể hiện tại Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của UBND xã Q ngày
4
14/8/2020, biên bản làm việc với ông Hoàng H ngày 06 tháng 3 năm 2020, Báo cáo
số 16 của UBND Q gởi UBND huyện Q) với quy định của pháp luật hiện hành, Hội
đồng xét xử xác định: toàn bộ nội dung làm việc theo biên bản lập ngày 06 tháng 3 năm
2020, Báo cáo số 16/BC UBND ngày 30 tháng 3 năm 2020, Quyết định giải quyết
khiếu nại lần đầu của UBND Q ngày 14/8/2020 (BL: 121; 03 - 07) là phần việc của
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện thẩm quyền, trách nhiệm quản lý hành chính
nhà nước, quản đất đai, giải quyết khiếu nại của Ủy ban nhân dân cấp theo quy
định tại các điều 31, 34, 35, 36 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, các
điều 7, 8, 132, 164 Luật Đất đai năm 2013, các điều 3, 14, 18, 38, 55, 59 Luật Xử vi
phạm hành chính, các điều 5, 14, 17, 29, 30 Luật Khiếu nại năm 2011, Điều 38 Nghị
định 91/2019/NĐ CP ngày 19 tháng 11 năm 2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực đất đai. Mặt khác, ông H, bà C đã khiếu nại Quyết định giải
quyết khiếu nại của Ủy ban nhân dân Q số 330/QĐ UBNND ngày 14 tháng 8 năm
2020, được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Q giải quyết khiếu nại bằng Quyết định số
737/QĐ UBND ngày 15 tháng 7 năm 2021 (BL: 52 57; quyết định giải quyết khiếu
nại đang hiệu lực). Theo quyết định này, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Q nhận
định rằng: việc Ủy ban nhân dân xã Q xác định nhóm hộ đã lấn, chiếm các diện tích đất
2500m
2
(đất được giao khoán cho BND thôn K), 4.613m
2
(có một phần diện tích
phần mộ của người thân nhóm hộ các thân nhân khác trong khu vực), 331,3m
2
(sử
dụng từ việc lấn, chiếm các Tổ dân xung quanh) đúng. Tại phiên tòa thẩm,
ông H thừa nhận “sử dụng đất không giấy tờ đất lấn chiếm, nhưng tình trạng
chung của nhiều hộ dân, nhiều địa phương” (BL 226). Tại phiên tòa phúc thẩm, ông H
và bà C thừa nhận: “Diện tích đất ngoài phần đất 2500m
2
được giao khoán năm 2008
nguồn gốc đất rừng nguyên sinh của nhà nước, trước năm 2008 không ai sử dụng, từ
năm 2008 ông, tận dụng sử dụng như những người dân khác địa phương, việc làm
này lấn chiếm đất của nhà nước chứ không lấn chiếm của hộ dân nào khác...”. Theo
đó, việc nguyên đơn cho rằng nhân công dân Nguyễn Minh S đã lạm quyền, vụ lợi,
thực hiện hành vi trái pháp luật khi thực hiện nhiệm vụ tại phiên làm việc ngày 06 tháng
3 năm 2020, Báo cáo số 16/BC UBND ngày 30 tháng 3 năm 2020, Quyết định giải
quyết khiếu nại lần đầu của UBND xã Q ngày 14/8/2020 là không sở thực tiễn
căn cứ pháp luật, nên Tòa án cấp thẩm xác định bị đơn không hành vi xâm phạm
danh dự, nhân phẩm, uy tín của ông H, bà C không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn là đúng pháp luật.
Thứ hai, việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân Q thực hiện chc trách, nhiệm vụ
theo quy định của pháp luật trong lĩnh vực quản đất rừng tại địa phương liên quan
đến các phần việc nguyên đơn khởi kiện trong vụ án này không thuộc phạm vi trách
nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản hành chính theo quy định tại
Điều 17 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Thứ ba, tại phiên tòa phúc thẩm không phát sinh chứng cứ, tình tiết mới làm thay
đổi kết quả xét xử sơ thẩm.
Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên
đơn Hoàng H người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị C, giữ nguyên
5
Bản án thẩm số 46/2023/DS - ST ngày 30 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân
huyện Q, tỉnh Quảng Nam.
[2.3]. Về án phí: yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng H được xét xử trong vụ án
này thuộc trường hợp miễn nộp tiền án phí thẩm, phúc thẩm theo các điều 12, 26, 28
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 6 Điều 26, các điều 35, 39, 147, 266, 273, 294,
296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các điều 584, 585, 592 Bộ luật Dân sự năm
2015; các điều 31, 34, 35, 36 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015; các điều
7, 8, 132, 164 Luật Đất đai năm 2013; các điều 3, 14, 18, 38, 55, 59 Luật Xử lý vi phạm
hành chính; các điều 5, 14, 17, 29, 30 Luật Khiếu nại năm 2011; Điều 38 Nghị định
91/2019/NĐ CP ngày 19 tháng 11 năm 2019 của Chính phủ về xphạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực đất đai; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Hoàng H người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị C, gi nguyên Bản án dân sự thẩm số
46/2023/DS - ST ngày 30 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Quảng
Nam;
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hoàng H về việc buộc
ông Nguyễn Minh S phải bồi thường số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng do danh
dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm buộc ông Nguyễn Minh S tổ chức họp dân (với
thành phần như phiên họp ngày 06/3/2020) để “công khai, minh bạch về diện tích đất
cụ thể vợ chồng ông đang sử dụng, xác định vợ chồng ông H, bà C không lấn chiếm đất
đã giao khoán như ông S đã kết luận tại các cuộc họp”.
3. Án phí dân sự: miễn nộp án phí dân sự thẩm cho ông Hoàng H; miễn
nộp án phí dân sự phúc thẩm cho ông Lê Hoàng H và bà Nguyễn Thị C.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự (Luật THADS) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyện thi hành
án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật THADS; thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật THADS.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 12/12/2023).
Nơi nhận:
- TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
- VKSND tỉnh Quảng Nam;
- TAND huyện Q;
- Chi cục THADS huyện Q;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Văn Dũng
Tải về
Bản án số 136/2023/DS Bản án số 136/2023/DS

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất