Bản án số 133/2021/HNGĐ-ST ngày 12/04/2021 của TAND Q. Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 133/2021/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 133/2021/HNGĐ-ST ngày 12/04/2021 của TAND Q. Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội về tranh chấp hôn nhân gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND Q. Nam Từ Liêm (TAND TP. Hà Nội)
Số hiệu: 133/2021/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 12/04/2021
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Bích T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NAM TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 133/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 12/4/2021
V/v:Tranh chấp hôn nhân gia đình
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thúy Anh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Việt Chiến;
2. Bà Nguyễn Thị Thanh Hường.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phn a: Bà Nguyn Th Mai Tâm n btòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm: Nguyễn Thị Thúy
- Kiểm sát viên
Ngày 12/4/2021 Tại trụ sở Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm xét xử
thẩm công khai ván Hôn nhân gia đình thụ số: 492/2020/TLST- HNGĐ ngày
13/11/2020 về việc Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số: 17/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/02/2021, Quyết định hoãn phiên tòa
số 31/2021/QĐST-HNGĐ ngày 15/3/2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1986;
Địa chỉ: Số 138, ngõ 54, ngách 8/11, L. Q. Đ, Tổ dân phố số 5, phường P,
quận N, thành phố Hà Nội. Có mặt.
Bị đơn: Anh Lê Tiến D, sinh năm 1986;
Địa chỉ nơi trú cuối cùng: Số 138, ngõ 54, ngách 8/11, L. Q. Đ, Tổ dân
phố số 5, phường P, quận N, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/10/2020 các lời khai tiếp theo, nguyên đơn
là chị Nguyễn Thị Bích T trình bày:
Chị Nguyễn Thị Bích T kết hôn với anh Lê Tiến D trên cơ sở tự nguyện, có
tìm hiểu, đăng ký kết hôn ngày 19/11/2012 tại Uỷ ban nhân dân phường K, quận T,
thành phố Nội. Qtrình chung sống vchồng sống hạnh phúc đến năm 2016
thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng
2
quan điểm sống, anh D thường xuyên vắng nhà, chơi cờ bạc, nợ nần. Đến tháng 12
năm 2016, anh D bnhà đi do bị đến đòi nợ. Từ đó đến nay, vợ chồng sống ly thân,
mỗi người một nơi, không ai còn quan tâm tới ai. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng
không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị T xin được ly hôn với anh D.
Về con chung: Chị T anh D có 01 con chung là: Cháu Phú K, sinh ngày
05/6/2013. Ly hôn, chị T nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu
K. Về cấp ỡng nuôi con, chị T không yêu cầu anh D cấp ỡng nuôi con.
Về tài sản chung (động sản bất động sản): Chị T xác nhận vợ chồng không
có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị T xác nhận vợ chồng không nợ chung, không yêu cầu
Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn là anh Lê Tiến D:
Bị đơn anh Lê Tiến D đã được Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành
phố Nội tuyên bố mất tích tại Quyết định thẩm giải quyết việc dân sự số
98/2020/QĐST-VDS ngày 30/9/2020.
Tòa án c minh tại Công an phường P, quận N, thành phố Hà Nội về nơi cư
trú của anh Tiến D thì được cung cấp anh D hộ khẩu thường trú tại: Tổ 5,
phường P, quận N, thành phố Hà Nội. Hiện anh D vắng mặt tại nơi đăng hộ khẩu
thường trú, không mặt tại địa phương, không khai báo tm vắng với Công an
phường P, địa phương không biết anh D đi đâu, làm, ở đâu.
Đến thời điểm hiện nay anh D vẫn vắng mặt. Tòa án đã tiến hành niêm yết
theo quy định Thông báo thụ vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo mở phiên họp tiếp
cận công khai chứng cứ hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định
hoãn phiên tòa các văn bản tố tụng khác. Nhưng đến phiên tòa ngày 15/3/2021,
anh D vẫn vắng mặt. Không chứng cứ nào thể hiện địa chỉ khác của anh
Tiến D. vậy không tài liệu chứng cứ, bản tự khai ghi nhận ý kiến trình bày
của bị đơn. Tòa án căn cứ vào tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và do Tòa
án thu thập được để xem xét giải quyết.
Tại phiên tòa:
Chị Nguyễn Thị Bích T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, cụ thể:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị xin được ly hôn với anh Lê Tiến D.
- Về con chung: Chị T đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K.
Về cấp dưỡng nuôi con, chị T không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung (động sản bất động sản): Chị T xác nhận vợ chồng
không có tài sản chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Chị T xác nhận vợ chồng không có nợ chung, chị không yêu
cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Tiến D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa
3
xét xử sơ thẩm lần hai nhưng anh D vắng mặt tại phiên tòa và không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm phát biểu ý kiến:
- Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm đưa vụ
án ra xét xử thấy Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân
sự trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện
đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa thẩm. Bị đơn chưa
chấp hành đúng quy định của Bộ luật ttụng dân sự về quyền nghĩa vụ của
mình.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xchấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể là: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên cho chị Nguyễn
Thị Bích T được ly hôn với anh Lê Tiến D.
- Về con chung: Đề nghị giao cháu Phú K, sinh ngày 05/6/2013 cho chị T
trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh D
cho đến khi chị T có yêu cầu hoặc đến khi có quyết định khác thay thế.
- Về tài sản chung nợ chung: Chị T xác nhận vợ chồng không tài sản
chung, nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm
tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
[1] Về thủ tục ttụng: Đây vụ kiện giữa nguyên đơn là chị Nguyễn ThBích
T với bị đơn anh Lê Tiến D có địa chỉ cư trú cuối cùng tại: Số 138, ngõ 54, ngách
8/11, L. Q. Đ, Tổ dân phố số 5, phường P, quận N, thành phố Hà Nội. Vì vậy, vụ
án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố
Hà Nội theo quy định tại Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố
tụng dân sự.
Anh D đã bị Tòa án tuyên bố mất tích tại Quyết định sơ thẩm giải quyết việc
dân sự số 98/2020/QĐST-VDS ngày 30/9/2020. Tòa án đã triệu tập anh Lê Tiến D
tham gia phiên hòa giải nhưng anh D đều vắng mặt. Theo quy định tại Điều 207 Bộ
luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được, Tòa án
đưa vụ án ra xét xử.
Bị đơn là anh Tiến D đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa xét xử
thẩm lần hai nhưng anh D vắng mặt tại phiên tòa không do. Căn cứ
Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử
vắng mặt anh Lê Tiến D.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bích T anh Tiến D kết hôn trên
cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 19/11/2012 tại Uỷ ban nhân dân phường K,
4
quận T, thành phố Hà Nội trên shoàn toàn tnguyện. vậy, hôn nhân của chị
T và anh D là hôn nhân hợp pháp.
Chị Nguyễn Thị Bích T cho rằng cuộc sống chung không hạnh phúc, mâu
thuẫn vợ chồng bắt đầu từ năm 2016, hiện vợ chồng không chung sống cùng nhau.
Tại Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 98/2020/QĐST-VDS ngày
30/9/2020 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã tuyên bố
anh Lê Tiến D mất tích. Đến nay không ai biết anh D đang ở đâu, làm gì.
Xét thấy, mâu thuẫn vchồng giữa chị T và anh D đã trầm trọng, đời sống
chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, không còn khả năng
hàn gắn tình cảm vợ chồng. Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình cần chấp
nhận yêu cầu của chị T, xử cho chị T được ly hôn đối với anh D.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Bích T anh Tiến D 01 con chung là:
Cháu Lê Phú K, sinh năm 05/6/2013. Ly hôn, chị T có nguyện vọng được trực tiếp
nuôi dưỡng, chăm sóc cháu K. Tại Đơn trình bày nguyện vọng của con, cháu
Phú K trình bày nguyện vọng muốn với mchNguyễn Thị Bích T. vậy,
cần giao cháu K cho chị T trực tiếp chăm c, nuôi dưỡng cũng phù hợp với
nguyện vọng của cháu. Anh D được quyền được đi lại thăm nom con chung, không
ai được cản trở.
Về cấp dưỡng: Do anh D hiện tại đã mất tích và chị T không yêu cầu anh D
cấp dưỡng nuôi con, cần tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh D cho đến
khi có yêu cầu hoặc đến khi có quyết định khác thay thế.
Về tài sản chung: Chị T xác nhận vợ chồng không tài sản chung, không
yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về nợ chung: Chị T xác nhận vợ chồng không có nợ chung, chị T không yêu
cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[3] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bích T phải chịu phí án ly hôn sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Bích T anh Tiến D được
quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2014;
- Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 146, Điều 147, Điều 195,
Điều 196, Điều 207, Điều 271, Điều 273, Khoản 3 Điều 228, Điều 227 của Bộ luật
tố tụng dân sự;
5
- Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Bích T. Chị Nguyễn Thị
Bích T được ly hôn với anh Lê Tiến D.
2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Bích T và anh Lê Tiến D có 01 con chung
là: Cháu Phú K, sinh năm 05/6/2013. Giao cháu Phú K cho chị T trực tiếp
chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi hoặc đến khi sự thay đổi
khác. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh D cho đến khi yêu cầu
hoặc đến khi có quyết định khác thay thế.
Anh D được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung (động sản và bất động sản): Chị Nguyễn Thị Bích T xác
nhận vợ chồng không tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. vậy
Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Bích T xác nhận vợ chồng không vay nợ ai
và không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử
không xem xét.
5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bích T phải chịu 300.000 đồng (Bằng chữ: Ba
trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T
đã nộp theo biên lai số AK/2010/0009840 ngày 13/11/2020 tại Chi cục Thi hành án
dân sự quận N, thành phố Hà Nội. Chị T đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật được thi hành án theo quy định tại
Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án, hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6 9
Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai thẩm. Nguyên đơn mặt quyền kháng cáo bản án
trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Bị đơn vắng mặt quyền kháng cáo
bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết
hợp lệ.
Nơi nhận:
- TAND thành phố Hà Nội;
- VKS ND Quận Nam Từ Liêm;
- THA DS Quận N;
- Các đương sự;
- UBND phường K, quận T, thành phố Hà
Nội;
- Lưu HS+ VPTA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
6
Tải về
Bản án số 133/2021/HNGĐ-ST Bản án số 133/2021/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất