Bản án số 13/2025/DS-ST ngày 26/08/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên về tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 13/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 13/2025/DS-ST ngày 26/08/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên về tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên
Số hiệu: 13/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/08/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: YC tuyên bố giao dịch đấu giá QSD đất vo hiệu giữa anh Th và TT đấu giá QSD đất H
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VC 8 - HƯNG YÊN
CNG HOÀ XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
Độc lp - T do - Hnh phúc
Bn án s: 13/2025/DS-ST
Ngày 26- 8- 2025
“V/v tranh chấp yêu cu tuyên b
giao dch đu giá quyn s dụng đất
vô hiệu”
NHÂN DANH
C CNG HOÀ XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VC 8 - HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Thế Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đinh Trọng Thanh
2. Bà Trn Th Thy
- Thư Toà án ghi biên bn phiên toà: Nguyn Th Gien Ny- Thư
Toà án nhân dân khu vc 8- Hưng Yên.
- Đại din Vin kim sát nhân dân khu vc 8, tỉnh Hưng Yên tham gia
phiên tòa: bà Bùi Th Mai- Kim sát viên.
Trong ngày 26 tháng 8 năm 2025, ti tr s Toà án nhân dân khu vc 8-
Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai v án th s 39/2025/TLST-DS ngày 14
tháng 5 năm 2025 về vic: tranh chp về kết quả đấu giá tài sản, theo Quyết định
đưa vụ án ra xét x s 19/2025/QĐXXST-DS ngày 07/8/2025, giữa các đương
sự:
1- Nguyên đơn: anh Phạm Văn T, sinh năm 1972; địa chỉ: thôn V, A,
huyện Q, tỉnh Thái Bình (nay là thôn V, xã A, tỉnh Hưng Yên)
2- Bị đơn: Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh H (nay Trung tâm D-
Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng)
Địa chỉ: số G, phố P, phường L, thành phố H, tỉnh Hải Dương (nay số G
P, phường L, thành phố Hải Phòng)
Người đại diện theo pháp luật: ông Hoàng Văn S- Chức vụ: Giám đốc
Trung tâm (có mặt)
3- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ủy ban nhân dân huyện Q, tỉnh Thái Bình (đã kết thúc hoạt động)
* Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ủy ban nhân dân huyện Q,
tỉnh Thái Bình: Ủy ban nhân dân xã A, tỉnh Hưng Yên
Người đại diện theo pháp luật: ông Đỗ Tiến C- Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban
nhân dân xã A (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
2
3.2. Trung tâm phát triển quỹ đất huyện Q, tỉnh Thái Bình (từ ngày
15/8/2025 là Chi nhánh Phát triển quỹ đất khu vực Q- Trung tâm phát triển quỹ
đất số B tỉnh Hưng Yên)
Người đại diện theo pháp luật: ông Đức N- Chức vụ: Giám đốc Chi
nhánh
Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Ngọc N1- nguyên Giám đốc
Trung tâm phát triển quỹ đất huyện Q, hiện viên chức trong Chi nhánh (có
mặt)
3.3. Chị Mai Thanh H, sinh năm 1976; địa chỉ: thôn V, xã A, huyện Q, tỉnh
Thái Bình (nay là thôn V, xã A, tỉnh Hưng Yên)- có mặt
4- Người làm chứng:
4.1. Phí Thị Hồng C1- Đấu giá viên Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản
tỉnh H (nay là Trung tâm D- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng)- có mặt
4.2. Ông Bùi Đình T1, sinh năm 1978; địa chỉ: thôn Đ, A, tỉnh Hưng
Yên (nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân A, huyện Q, tỉnh Thái Bình)- vắng
mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt
4.3. Nguyễn Thị T2, sinh năm 1990; địa chỉ: thôn T, xã A, tỉnh Hưng
Yên (nguyên công chức địa chính Ủy ban nhân dân A, huyện Q, tỉnh Thái
Bình)- vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và tại phiên
tòa, nguyên đơn là anh Phạm Văn T trình bày:
Ngày 27/02/2025 anh đã bỏ phiếu trả giá để tham gia đấu giá 02 đất (lô
số 01 lô số 02) tại điểm quy hoạch dân Trường mầm non C2, thôn V,
A, huyện Q, tỉnh Thái Bình (nay thôn V, A, tỉnh Hưng Yên) do Trung tâm
dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh H- nay Trung tâm D, Sở pháp thành phố Hải
Phòng (gọi tắt Trung tâm D) tổ chức. Khi bỏ phiếu trả giá kín, anh đã nhầm
lẫn ghi trên phiếu trả ggtrị tổng của cả 01 đất cụ thể: Phiếu trả giá số
01 anh ghi là: 5.812.050.000 đồng (m tỷ tám trăm mười hai triệu không trăm
năm mươi ngàn đồng chẵn); Phiếu trả giá số 02 anh ghi là: 5.268.650.000
đồng (Năm tỷ hai trăm sáu tám triệu sáu trăm năm mươi ngàn đồng chẵn).
Trước ngày mở đấu giá một ngày ngày 04/3/2025, khi anh phát hiện
sự nhầm lẫn, anh đã báo cáo trực tiếp với chính quyền địa phương ông Bùi
Đình T1- Chủ tịch UBND A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; Nguyễn Thị T2-
Công chức địa chính A cán bộ chuyên viên Trung tâm dịch vụ đấu giá tài
sản thì được hướng dẫn đến trước khi mở phiên đấu giá 01 tiếng để giải quyết.
Hồi 13 giờ 30 phút ngày 05/3/2025 khi anh cùng vợ anh đến báo cáo Phí Thị
Hồng C1- đấu giá viên, có sự chứng kiến của bà T2- Công chức địa chính xã A.
Sau khi anh trình bày sự việc ghi nhầm Phiếu trả giá đất với C1 thì C1
3
nói với anh: như thế phiếu của anh không hợp lệ, anh không cần viết đơn và bảo
anh vào danh sách điểm danh khách hàng tham gia đấu giá nên anh T đã ,
sau đó bà Chiên dặn anh cứ ngồi yên trong hội trường không cần ý kiến gì. Như
vậy Trung tâm D đã phớt lờ ý kiến của anh, PThị Hồng C1- đấu giá viên
không ghi nhận ý kiến của anh; không kịp thời báo cáo lên quan cấp trên,
không lập biên bản ghi nhận lại sự việc ghi nhầm phiếu trả giá của anh cố
tình mở hòm phiếu bình thường như không có việc gì xẩy ra dẫn đến việc anh bị
quy kết đấu giá hợp lệ” anh bị mất tiền đặt cọc nên anh không đồng ý kết
quả trúng đấu giá.
Nay anh yêu cầu Tòa án tuyên bgiao dịch đấu giá đất giữa anh Trung
tâm dịch vụ đấu giá tài sản vô hiệu và yêu cầu Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản
cùng các quan liên quan trả lại vợ chồng anh số tiền đặt cọc
799.671.000 đồng (Bẩy trăm chín mươi chín triệu sáu trăm bẩy mươi mốt nghìn
đồng).
Bị đơn là Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh H, nay là Trung tâm D-
Sở pháp thành phố Hải Phòng trong văn bản trình bày ý kiến, biên bản
hòa giải và tại phiên tòa đã trình bày:
Thực hiện hợp đồng Hợp đồng dịch vđấu giá tài sản số 150/HĐDV ngày
10/02/2025 giữa Trung tâm Phát triển quỹ đất Cụm C, tỉnh Thái Bình với
Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh H. Ngày 10/02/2025 Trung tâm dịch vụ
đấu giá tài sản tỉnh H đã ban hành Quy chế đấu giá số 151/QCĐG- TrT ngày
10/02/2025 quy định về đấu giá Quyền sử dụng 509,8m
2
đất được chia thành
03 tại 02 điểm quy hoạch dân thôn V, A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
Trong Quy chế đấu giá số 151/QCĐG- TrT ngày 10/02/2025 đã quy định chi tiết
những nội dung liên quan tới tài sản đấu giá cụ thể: Tài sản đấu giá; giá khởi
điểm của tài sản đấu giá; Thời gian địa điểm xem tài sản đấu giá; ngày giờ bắt
đầu, hết hạn bán hồ sơ mời tham gia đấu giá; ngày giờ bắt đầu, hết hạn tiếp nhận
hồ sơ tham gia đấu giá; địa điểm bán hồ sơ mời tham gia đấu giá; tiền mua hồ sơ
mời tham gia đấu giá; tiền đặt trước; ngày giờ bắt đầu, hết hạn nộp tiền đặt
trước; thời gian, địa điểm, cách thức đăng tham gia đấu giá; thời gian địa
điểm tổ chức phiên đấu giá; hình thức đấu giá, phương thức đấu giá; quy định về
cách thức ghi phiếu trả giá, thời hạn nộp phiếu trả giá; trình tự, thủ tục niêm
phong, mniêm phong thùng phiếu; quy định phiếu trả giá hợp lệ phiếu trả
giá không hợp lệ; quy định về các trường hợp bị truất quyền tham gia đấu giá;
các trường hợp không được nhận lại tiền đặt trước; các tình huống cụ thể tại
phiên đấu giá và các vấn đề liên quan khác.
Anh Phạm Văn T đã mua hồ sơ, nộp hồ đăng tham gia đấu giá, nộp
tiền đặt trước, nộp phiếu trả giá, phiếu trả giá đã được anh Phạm Văn T niêm
phong nộp theo đúng thời gian quy định của Quy chế đấu giá. Hết thời gian
4
tiếp nhận phiếu trả giá của người tham gia đấu giá Trung tâm dịch vụ đấu giá tài
sản tỉnh H đã niêm phong hòm phiếu theo đúng quy định. Sau đó Trung tâm tiến
hành xét hồ đủ điều kiện tham gia đấu giá của người đăng tham gia đấu
giá. Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh H xác nhận anh Phạm Văn T là người
đủ điều kiện tham gia đấu giá lô đất số 01 và lô đất số 02 tại điểm quy hoạch dân
cư Trường mầm non C2, thôn V, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
Ngày 05/3/2025 Trung tâm tổ chức phiên đấu giá tài sản trên. Tại buổi
công bố giá trả của người tham gia đấu giá, đấu giá viên tiến hành các bước theo
đúng quy định của pháp luật trước khi mở niêm phong hòm phiếu. Việc anh
Phạm Văn T trình bày với chuyên viên của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản
tỉnh H vviệc giá trả của mình cho đất số 01 lô đất số 02 giá trả cho cả
lô đất thì phải mở phiếu trả giá ra xem mới xác định được là giá trả cho cả lô đất
hay là giá trả cho 1m
2
.
Sau khi mniêm phong hòm phiếu và bóc phong bì trả giá của khách hàng
tham gia đấu giá để công bố kết quả trả giá trước schứng kiến của đại diện
khách hàng tham gia đấu giá; đại diện UBND A; đại diện Trung tâm phát
triển quỹ đất Cụm C Trung tâm dich vụ đấu giá tài sản tỉnh Hải Dương,
đối chiếu với các quy định của pháp luật về đấu giá tài sản; xem xét phiếu giá
hợp lệ, phiếu giá không hợp lệ theo quy định, đấu giá viên xác định phiếu trả giá
của anh Phạm Văn T tại đất số 01 với giá đã trả 5.812.050.000 đồng (Năm
tỷ tám trăm mười hai triệu không trăm năm mươi ngàn đồng chẵn) và đất số
02 với giá đã trả là 5.268.650.000 đồng (Năm tỷ hai trăm sáu tám triệu sáu trăm
năm mươi ngàn đồng chẵn) là giá trả cao nhất cho 1m
2
quyền sử dụng đất tại
đất số 01 và lô đất số 02.
Sau khi nghe đấu giá viên công bố giá trả cao nhất anh Phạm Văn T đã xin
phát biểu ý kiến và trình bày rằng do mình suất, kém hiểu biết nên đã trả giá
cho cả lô đất. Tuy nhiên căn cứ vào Phiếu trả giá của anh Phạm Văn T đối chiếu
với quy định về phiếu giá hợp lệ phiếu giá không hợp lệ được quy định tại
Điều 13 Quy chế đấu giá số 151/QCĐG- TrT ngày 10/02/2025 của Trung tâm
thì không căn cứ nào đề cho rằng đây Phiếu giá trả giá cho cả đất cả
hai đất trên. Đấu giá viên đối chiếu các trường hợp thuộc diện không hợp l
khác đã được quy định trong khoản 2 Điều 13 của Quy chế đấu giá s
151/QCĐG- TrT ngày 10/02/2025 của Trung tâm thì cũng không có bất cứ điểm
nào để cho rằng 02 phiếu trả giá của anh T phiếu không hợp lệ. Hai phiếu trả
giá của anh Phạm Văn T đã ghi đầy đủ, đúng các thông tin theo quy định và ghi
“Tôi trả giá cho 1m
2
quyền sử dụng đất ở là:’’ với số tiền trả bằng số và bằng
chữ rõ ràng và khớp nhau; có chữ ký và ghi tên rõ ràng.
Do vậy, phiếu trả giá của anh T tại vị trí hai đất trên phiếu giá hợp lệ;
anh Phạm Văn T người giá trả cao nhất trúng đấu giá 2 đất trên
5
đúng quy định của pháp luật về đấu giá tài sản (Căn cứ Điểm e Khoản 2 Điều 43
Luật số 37/2024/QH15 ngày 27/6/2024 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật đấu giá tài sản).
Việc anh Phạm Văn T từ chối biên bản trúng đấu giá được coi không
chấp nhận mua tài sản theo khoản 3 Điều 44 và theo điểm c khoản 6 Điều 39 của
Luật đấu giá tài sản thì anh không được nhận lại tiền đặt trước của hai đất
trên. Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh H đã thực hiện đầy đủ, đúng quy
định của pháp luật về trình tự thủ tục đấu giá tài sản. Đấu giá viên đã điều hành
phiên đấu giá theo đúng quy định của Luật Đấu giá tài sản số 01/2016/QH14
ngày 17 tháng 11 năm 2016; Luật số 37/2024/QH15 ngày 27/6/2024 của Quốc
hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đấu giá tài sản.
Về việc anh Phạm Văn T cho rằng đã thông báo với đấu giá viên về việc tr
giá nhầm của mình trước gitổ chức phiên đấu giá đấu giá viên đã không
lập biên bản ghi nhận lại sviệc ghi nhầm phiếu giá của anh Phạm Văn T thì
Trung tâm dịch vụ đấu giá tài có ý kiến như sau:
Căn cứ khoản 2 Điều 6 Nguyên tắc đấu giá tài sản của Luật đấu giá tài sản
2016“Bảo đảm tính độc lập, trung thực, công khai, minh bạch, ng bằng,
khách quan”; căn cứ Khoản 1 Khoản 3 Điều 39 Luật đấu giá tài sản 2016 về
Tiền đặt trước và xử tiền đặt trước“Người tham gia đấu giá quyền từ chối
tham gia cuộc đấu giá và được nhận lại tiền đặt trước trong trường hợp có thay
đổi về giá khởi điểm, số lượng, chất lượng tài sản đã niêm yết, thông báo công
khai; trường hợp khoản tiền đặt trước phát sinh lãi thì người tham gia đấu giá
được nhận tiền lãi đó”. Như vậy, Luật đấu giá đã quy định rõ khi người đăng ký
tham gia đấu gđã nộp hồ sơ; nộp phiếu trả giá bằng ý chí của mình, tự niêm
phong phiếu trả gbỏ vào thùng phiếu của tổ chức đấu giá; nộp tiền đặt trước
theo đúng quy định. Hết thời gian tiếp nhận phiếu trả giá hòm phiếu đã được tổ
chức đấu giá niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, thì không một
nhân hay tổ chức nào cụ thể là người có tài sản đấu giá, tổ chức đấu giá hay đấu
giá viên được phép bằng ý chí chủ quan của mình tác động vào thùng phiếu để
bỏ phiếu giá của người tham gia đấu giá ra ngoài để cho khách hàng nhận lại
tiền đặt trước, việc người tham gia đấu giá trả giá nhầm hay không nhầm chỉ
thể căn cứ vào Phiếu trả giá của người tham gia đấu giá đxác định. Đồng thời
tại Điểm đ Khoản 2 điều 43 Luật đấu giá tài sản quy định tại cuộc đấu giá“Tiến
hành bóc từng phong bì đựng phiếu trả giá, trừ phong bì đựng phiếu trả giá của
người không tham gia buổi công bố giá….”. Như vậy Luật đấu giá chỉ cho phép
một trường hợp duy nhất đấu giá viên không bóc phong nếu người tham gia
đấu giá vắng mặt đồng thời Luật đấu giá cũng không bất cứ điều khoản
nào khác cho phép đấu giá viên bỏ phong bì trả giá của người tham gia đấu ra
6
ngoài phiên đấu giá với căn cứ là người tham gia đấu giá báo rằng “tôi trả giá
nhầm”.
Trên các nội dung đã nêu trên thì việc đấu giá viên công bố anh
Phạm Văn T người trúng đấu giá là đúng quy định pháp luật. Việc anh Phạm
Văn T không biên bản được coi từ chối kết quả trúng đấu giá không được
nhận lại tiền đặt trước là đúng quy định của pháp luật về đấu giá tài sản.
Căn cứ vào kết quả của Phiên đấu giá ngày 05/3/2025 với tổng số đất
đấu giá 03 lô, đấu giá thành 01 lô, đấu giá không thành 02 lô. Ngày
12/03/2025 Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh H đã chuyển số tiền đặt trước
của 02 đất đấu giá không thành 799.671.000 đồng (B trăm chín mươi chín
triệu sáu trăm bảy mươi mốt nghìn đồng) vào tài khoản 3406201002030 của
Trung tâm phát triển quỹ đất và cụm C, tỉnh Thái Bình theo đúng quy định.
Ngày 08/5/2025 Trung tâm dịch vụ đấu gtài sản tỉnh H Trung tâm
phát triển quỹ đất huyện Q tỉnh Thái Bình đã ký Biên bản nghiệm thu thanh
hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản số 150/HDDV ngày 10/02/2025. Với tỷ lệ đấu
giá thành 10,89%, Trung tâm dịch vụ đấu giá đã thu giá dịch vụ đấu giá
2.395.800 đồng (Hai triệu ba trăm chín mươi lăm nghìn tám trăm đồng). Trung
tâm xác định việc ông T từ chối kết quả trúng đấu giá thì Trung tâm không
thiệt hại gì về tài sản.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi nhánh Phát triển quỹ đất
khu vực Q- Trung tâm phát triển quỹ đất số 02 tỉnh Hưng Yên do ông Nguyễn
Ngọc N1 là đại diện theo ủy quyền trình bày:
Nhận được công văn chỉ đạo số 23/UBND-BTCD ngày 19/3/2025 của Ủy
ban nhân dân huyện Q, Trung tâm phát triển quỹ đất huyện Q đã đề nghị Trung
tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh H cung cấp hồ sơ, i liệu liên quan đến việc
đấu giá 03 lô đất (tổng diện tích 509,8m
2
) tại 02 vị trí quy hoạch dân thôn V,
xã A, huyện Q do Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Hải Dương tổ chức vào
ngày 05 tháng 02 năm 2025 đã được ký kết.
Trên cơ sở hồ sơ Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh H cung cấp, sau khi
kiểm tra, soát, xác minh về quy trình, trình tự thủ tục theo quy định của pháp
luật về đấu giá tài sản thì Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh H đã thực hiện
đầy đủ đúng theo quy định, cụ thể là:
- Ban hành quy chế đấu giá số 151/QCĐG-TrT ngày 10/02/2025 đảm bảo
đầy đủ nội dung theo quy định về đấu giá tài sản và pháp luật khác có liên quan.
- Thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng: Đài phát thanh
xã A, Đ huyện Q, Đài truyền hình tỉnh T.
- Đăng tải thông báo đấu giá tài sản quy chế đấu giá số 151/QCĐG-TrT
ngày 10/02/2025 trên cổng Đấu giá tài sản Quốc gia (ngày 14/02/2025).
7
- Thực hiện niêm yết Thông báo đấu giá Quy chế đấu giá tại Ủy ban
nhân dân A Trung tâm dịch vụ đấu gtài sản tỉnh H; thực hiện niêm yết
Thông báo đấu giá tại Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện Q (có biên bản xác
nhận và hình ảnh lưu hồ sơ).
Căn cứ quy chế đấu giá số 151/QCĐG-TrT ngày 10/02/2025 của Trung tâm
dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh H ban hành; trên sở các nội dung, thông tin trong
phiếu trả giá cho 02 lô đất (lô số 1 và lô số 2) của anh Phạm Văn T là giá trả cho
01m² quyền sử dụng đất, cụ thể: số 01 mức trả giá cho 01m² quyền sử dụng
đất là: 5.812.050.000 đồng (Năm tỷ tám trăm mười hai triệu không trăm năm
mươi nghìn đồng) số 02 mức trả giá cho 01m² quyền sử dụng đất là:
5.268.650.000 đồng (Năm tỷ, hai trăm sáu mươi tám triệu, sáu trăm năm mươi
nghìn đồng). Đồng thời không căn cứ nào để chứng minh mức trả cho số
01 và lô số 02 của anh Phạm Văn T là trả giá cho cả lô đất.
Trước khi mở phiên đấu giá thì anh Phạm Văn T báo cáo với Ủy ban
nhân dân xã A và Đấu giá viên được giao điều hành phiên đấu giá về việc giá trả
là cho cả lô đất của lô số 01 và lô số 02 mà anh Phạm Văn T đã tham gia đấu giá
nhưng phải mở phiếu trả giá ra để xem mới xác định được là giá trả cho cả lô đất
hay trả cho 01m² quyền sử dụng đất. Tại cuộc đấu giá, sau khi kiểm tra phiếu trả
giá cho 02 đất của anh Phạm Văn T, đấu giá viên xác định 02 phiếu trả giá
cho 02 đất của anh Phạm Văn T hợp lệ đã công banh Phạm Văn T là
người trúng đấu giá số 01 số 02 nhưng anh Phạm Văn T đã tchối
biên bản trúng đấu giá.
Thù lao dịch vụ đấu giá, thu tiền đơn của người tham gia đấu giá, pháp luật
quy định trách nhiệm tổ chức thực hiện thanh quyết toán thuộc Trung tâm
dịch vụ đấu giá tài sản sở pháp tỉnh Hải Dương. Số tiền đặt trước đấu giá
không thành: 799.671.000 đồng (Bẩy trăm chín mươi chín triệu, sáu trăm bảy
mươi mốt nghìn đồng) Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản sở pháp tỉnh Hải
Dương đã nộp trả Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện Q Trung tâm triển quỹ
đất đã nộp số tiền trên vào ngân sách nhà nước ngày 04/04/2025. Trung tâm
Phát triển quỹ đất xác định việc anh T từ chối kết quả trúng đấu giá thì Trung
tâm không thiệt hại về tài sản. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo đúng
quy định của pháp luật đđảm bảo quyền lợi, nghĩa vụ trách nhiệm cho các
bên liên quan.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Mai Thanh H trình bày:
Chị nhất trí với toàn bý kiến trình bày của chồng chị anh T tại Tòa án, chị
không bổ sung ý kiến gì.
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ủy ban nhân dân huyện Q,
tỉnh Thái Bình (đã chấm dứt hoạt động) là Ủy ban nhân dân xã A, tỉnh Hưng
8
Yên trong văn bản gửi Tòa án đã trình bày: đề nghị Tòa án căn cứ vào quy
định của pháp luật để giải quyết vụ án, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của
các cá nhân, tổ chức có liên quan trong vụ án.
Trước đó, Ủy ban nhân dân huyện Q, tỉnh Thái Bình trong văn bản số
650/UBND-BTCD ngày 05/6/2025 gửi Tòa án đã trình bày: y ban nhân dân
huyện Q ủy quyền cho Trung tâm phát triển quỹ đất huyện Q lựa chọn, kết
hợp đồng với Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh H tổ chức đấu giá quyền sử
dụng đất đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật. Trung tâm dịch vụ đấu giá
tài sản tỉnh H phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật và theo hợp
đồng dịch vụ đấu giá tài sản đã ký kết với Trung tâm phát triển quỹ đất huyện Q
ngày 10/02/2025 vtrình tự, thủ tục, kết quả phiên đấu giá ngày 05/3/2025 đối
với 02 lô đất tại thôn V, xã A. Quan điểm của Ủy ban nhân dân huyện Q đề nghị
Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật để bảo đảm quyền, lợi ích hợp
pháp và nghĩa vụ của các bên có liên quan.
Người làm chứng là bà Phí Thị Hồng C1 trình bày: Ngày 05/3/2025 được
sự phân công của Giám đốc Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh H, đấu
giá viên điều hành trực tiếp Phiên đấu giá quyền sử dụng 509,8m
2
đất được
chia thành 03 tại 02 điểm quy hoạch dân cư thôn V, A, huyện Q, tỉnh Thái
Bình. Với cách đấu giá viên điều hành phiên đấu giá tài sản là 03 đất
trên, đã điều hành phiên đấu đúng quy định của pháp luật về đấu giá tài sản
theo hình thức bỏ phiếu gián tiếp được quy định tại Điều 43 Luật đấu giá tài sản
số 37/2024/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của luật đấu giá tài sản (diễn
biến của phiên đấu giá được ghi nhận chi tiết trong Biên bản đấu giá ngày
05/03/2025 của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh H).
Việc anh Phạm Văn T cho rằng trước phiên đấu giá diễn ra anh đã báo với
bà và các cán bộ Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh H thì Trung tâm dịch vụ
đấu giá tỉnh H phải lập biên bản ghi nhận việc này để anh không phải tham gia
đấu giá nhận lại tiền đặt trước. Căn cứ khoản 3 Điều 39 Luật đấu giá tài sản
2016 Tiền đặt trước và xử lý tiền đặt trước quy định“Người tham gia đấu giá có
quyền từ chối tham gia cuộc đấu giá được nhận lại tiền đặt trước trong
trường hợp thay đổi về giá khởi điểm, số lượng, chất lượng tài sản đã niêm
yết, thông báo công khai; trường hợp khoản tiền đặt trước phát sinh lãi thì
người tham gia đấu giá được nhận tiền lãi đó”
Như vậy, luật đã quy định người tham gia đấu giá khi đã đăng ký tham
gia đấu giá thông qua nộp hồ nộp tiền đặt trước theo đúng quy định của
Quy chế cuộc đấu giá thì chỉ quyền từ chối tham gia đấu giá nhận lại tiền
đặt trước trong trường hợp nêu trên. Không điều khoản nào quy định người
tham gia đấu giá báo rằng “tôi trả giá nhầm” mà tổ chức đấu giá cho người tham
gia đấu giá đó ra khỏi danh sách người đủ điều kiện đấu giá được nhận lại
9
tiền đặt trước. Việc anh Phạm Văn T cho rằng anh đã báo với đấu giá viên về
việc anh đã trả giá nhầm thì tại Phiên đấu giá thì đấu giá viên phải bỏ phiếu của
anh T ra mà không công bố, việc này tại điểm đ khoản 2 điều 43 Luật đấu giá tài
sản quy định tại cuộc đấu giá, đấu giá viên phải“Tiến hành bóc từng phong bì
đựng phiếu trả giá, trừ phong đựng phiếu trả giá của người không tham gia
buổi công bgiá, công bố số phiếu hợp lệ, số phiếu không hợp lệ, công bố giá
trả của từng phiếu trả giá, giá trả cao nhất với sự giám sát của người có tài sản
đấu giá ít nhất một người tham gia đấu giá; trường hợp đấu gquyền sử
dụng đất để giao đất cho nhân thì chỉ cần công bố giá trả cao nhất với sự
giám sát của người có tài sản đấu giá và ít nhất một người tham gia đấu giá”.
Vậy, tại phiên đấu giá việc đấu giá viên bóc phong bì trả giá và công bố giá
trả của anh Phạm Văn T cho 02 đất đúng quy định. Phiếu trả giá căn cứ
xác định cho việc anh Phạm Văn T trả giá nhầm hay không. Sau khi xem xét
các thông tin được ghi trong phiếu trả giá của anh Phạm Văn T đối chiếu với các
quy định về Phiếu giá hợp lệ và Phiếu giá không hợp lệ được quy định tại Quy
chế đấu giá do Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh H ban hành cho cuộc đấu
giá thì Phiếu trả giá của anh Phạm Văn T trả giá cho 02 lô trên không phải phiếu
trả nhầm như anh Phạm Văn T đã trình bày.
Từ những quan điểm nêu trên, cho rằng việc anh Phạm Văn T cho rằng
mình đã báo với cán bộ Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh H trước giờ Phiên
đấu giá diễn ra thì Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh H phải lập biên bản
xác nhận đấu giá viên không công bố phiếu trả giá của anh tại phiên đấu giá
là không có căn cứ và trái với quy định của pháp luật về đấu giá tài sản.
Người làm chứng Nguyễn Thị T2 trong biên bản làm việc với Tòa
án đã trình bày: Khoảng 13 giờ ngày 05/3/2025, vợ chồng anh T, chị H mặt
tại Ủy ban nhân dân A, huyện Q, tỉnh Thái Bình trước thời điểm mở hòm
phiếu, đã gặp và trao đổi với đồng chí C1 là Đấu giá viên về việc anh T bỏ nhầm
phiếu trả giá đất cho cả 01 lô đất chứ không phải cho 01m
2
đất. Anh T có hỏi chị
C1 có cần viết đơn đề nghị hay lập biên bản không thì chị C1 bảo không cần lập
biên bản. Chị C1 có giải thích cho anh T nếu anh bỏ giá theo cả thì giá không
hợp lệ, anh chị có thể về hoặc ngồi tại phiên đấu giá nhưng không được tham gia
ý kiến.
Sau khi mở hòm phiếu và công bố kết quả thì anh T trúng đấu giá 02 lô đất.
Anh T đứng lên có ý kiến tại hội nghị về việc anh bỏ nhầm giá 02 lô đất khi đấu
giá. Khi Đấu giá viên xin ý kiến Chủ tịch Ủy ban nhân dân A, huyện Q, tỉnh
Thái Bình tại thời điểm đấu giá thì Chủ tịch xã A đã có ý kiến: anh T bỏ giá như
công bố thì địa phương không thể đất giá trị cao như anh T trả giá nếu
anh T trúng đấu giá cũng không thể tiền để thanh toán giá trị 02 đất, đề
nghị Trung tâm đấu giá và Trung tâm quỹ đất xem xét việc nhầm lẫn của anh T.
10
Người làm chứng ông Bùi Đình T1 trong biên bản làm việc với Tòa
án đã trình bày: ông nhất tvới ý kiến trình bày trên của Nguyễn Thị T2-
công chức địa chính A; với tư cách là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã A, huyện
Q, tỉnh Thái Bình, ông đã phát biểu ý kiến tại Hội nghị đấu gđề nghị Trung
tâm đấu giá tài sản Trung tâm quỹ đất xem xét lại việc anh T bỏ nhầm giá
đất. Bản thân anh T không phải người thường xuyên đi đấu giá đất. Đề nghị
Tòa án xem xét, giải quyết trường hợp của anh T theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, tỉnh Hưng Yên phát biểu ý
kiến tại phiên toà:
Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử
việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn, người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm
a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228; Điều 147 Bộ luật tố Tụng dân sự; các
Điều 126, 131 của Bộ luật n sự; Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa án đề
nghị Tòa án:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là anh Phạm Văn T.
Tuyên bố giao dịch đấu giá quyền sử dụng đất số 01 đất số 02 tại
điểm quy hoạch dân Trường mầm non C2, thôn V, A, huyện Q, tỉnh Thái
Bình (nay thôn V, A, tỉnh Hưng Yên) vào ngày 05/3/2025 giữa Trung tâm
dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh H (nay là Trung tâm D- Sở pháp thành phố Hải
Phòng) và anh Phạm Văn T là vô hiệu do nhầm lẫn.
Buộc Ủy ban nhân dân A, tỉnh Hưng Yên trách nhiệm hoàn trả cho
vợ chồng anh Phạm Văn T, chị Mai Thanh Hợp S1 tiền 799.671.000 đồng (Bảy
trăm chín mươi chín triệu sáu trăm bảy mươi mốt nghìn đồng).
Về án phí: Nguyên đơn anh T nhận chịu toàn btiền án phí dân sự
thẩm theo quy định, cần chấp nhận. Trả lại nguyên đơn anh T số tiền tạm ứng án
phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000736 ngày 14/5/2025
của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình (nay là Phòng
thi hành án dân sự khu vực 8 Hưng Yên) sau khi đã đối trừ tiền án phí dân sự
thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân
A, tỉnh Hưng Yên và người làm chứng ông T1, T2 đều văn bản đề
nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân
11
sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt những người nêu trên.
[2] Về quan hệ tranh chấp thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn
anh Phạm Văn T yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đấu giá đất giữa anh và
Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh H (nay là Trung tâm D- Sở Tư pháp thành
phố Hải Phòng) hiệu yêu cầu trả lại vợ chồng anh số tiền đặt cọc
799.671.000 đồng. Tài sản đấu giá quyền sử dụng đất tại A, tỉnh Hưng
Yên. Như vậy, tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp về giao dịch dân sự theo
quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; xác định cụ thể quan hệ
tranh chấp là “Tranh chấp yêu cầu tuyên bố giao dịch đấu giá quyền sử dụng đất
hiệu”. Thời điểm thụ vụ án đã xác định quan hệ pháp luật tranh chp về
kết quả đấu giá tài sản” chưa cthể nên Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định lại
cho phù hợp. Do đó, tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân
dân khu vực 8- Hưng Yên theo quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35
của Bộ luật Tố tụng dân sự
[3] Về thời hiệu khởi kiện: Theo quy định tại điều 132 Bộ luật Dân sự thì
thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự hiệu quy định tại Điều
126 của Bộ luật Dân s02 năm kể tngày người bị nhầm lẫn biết giao dịch
được xác lập do nhầm lẫn. Ngày 04/3/2025 anh T phát hiện mình bị nhầm lẫn
trong giao dịch đấu giá quyền sử dụng đất ngày 12/5/2025 anh T khởi kiện
đến Tòa án là trong thời hiệu khởi kiện.
[4] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng
xét xử thấy rằng:
- Về trình tự, thủ tục đấu giá tài sản: thực hiện Hợp đồng dịch vụ đấu giá
tài sản số 150/HĐDV ngày 10/02/2025 giữa Trung tâm Phát triển quỹ đất
Cụm C, tỉnh Thái Bình với Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh H. Ngày
10/02/2025 Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh H đã ban hành Quy chế đấu
giá số 151/QCĐG- TrT ngày 10/02/2025 quy định về đấu giá Quyền sử dụng
509,8m
2
đất ở được chia thành 03 lô tại 02 điểm quy hoạch dân cư thôn V, xã A,
huyện Q, tỉnh Thái Bình. Anh Phạm Văn T đã mua hồ sơ, nộp hồ đăng
tham gia đấu giá, nộp tiền đặt trước, nộp phiếu trả giá, phiếu trả giá đã được anh
Phạm Văn T niêm phong nộp theo đúng thời gian quy định của Quy chế đấu
giá. Hết thời gian tiếp nhận phiếu trả giá của người tham gia đấu giá, Trung tâm
dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh H đã niêm phong hòm phiếu theo đúng quy định.
Sau đó Trung tâm tiến hành xét hồ đủ điều kiện tham gia đấu giá của người
đăng tham gia đấu giá. Ngày 05/3/2025 Trung tâm đã tổ chức phiên đấu giá
tài sản trên. Tại buổi công bố giá trả của người tham gia đấu giá, đấu giá viên
tiến hành các bước theo đúng quy định của pháp luật trước khi mở niêm phong
hòm phiếu. Như vậy Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh H đã thực hiện đầy
đủ, đúng quy định của Luật Đấu giá tài sản năm 2016
12
- Về việc trả giá đất của anh T: anh T đã điền đầy đủ thông tin trong Phiếu
trả giá theo quy định. Tuy nhiên, sau khi phát hiện nhầm lẫn trong việc ghi trả
giá đất theo cả lô trong phiếu trả giá, anh T đã báo cáo trực tiếp với chính quyền
địa phương và Đấu giá viên điều hành phiên đấu giá. Sự việc này đã được Trung
tâm dịch vụ đấu giá tài sản, Đấu giá viên, Trung tâm phát triển quỹ đất và những
người làm chứng đều xác nhận. Tuy nhiên, sau khi anh T có ý kiến về việc nhầm
lẫn, Đấu giá viên cho rằng phiếu trả giá như anh T báo cáo như thế sẽ phiếu
không hợp lệ nên vẫn tiến hành mở hòm phiếu và công bố kết quả đấu giá.
Anh T cho rằng anh đã báo với Đấu giá viên về việc anh trả giá nhầm cho
cả đất thì phải lập biên bản ghi nhận để anh không phải tham gia đấu giá
nhận lại tiền đặt trước. Tuy nhiên, để xác định sự việc nhầm lẫn của anh T
đúng hay không cần phải mở hòm phiếu để xác định sự nhầm lẫn trong phiếu trả
giá đấu cụ thể như thế nào? Việc đấu giá viên vẫn tiếp tục mở họp phiếu và công
bố phiếu đấu đảm bảo đúng quy định, quy trình phiên đấu giá theo quy định
tại điểm đ khoản 2 điều 43 Luật đấu giá tài sản.
Sau khi mm phiếu, xem xét phiếu giá hợp lệ, phiếu giá không hợp lệ
theo quy định, đấu giá viên xác định phiếu trả giá của anh Phạm Văn T tại lô đất
số 01 với giá đã trả 5.812.050.000 đồng (Năm tỷ tám trăm mười hai triệu
không trăm năm mươi ngàn đồng chẵn) và lô đất số 02 với giá đã trả
5.268.650.000 đồng (Năm tỷ hai trăm sáu tám triệu sáu trăm năm mươi ngàn
đồng chẵn) giá trả cao nhất cho 1m
2
quyền sử dụng đất tại đất số 01
số 02.
Đánh giá phiếu trả giá lô đất số 01 số 02 nêu trên của anh T, thì thấy:
Anh T đã viết đúng theo nội dung trong phiếu trả giá. Tuy nhiên, anh T sự
nhầm lẫn do không đọc, xem xét kỹ dòng chữ phía trên dòng ghi số tiền trả giá
là “Tôi trả giá cho quyền sử dụng 1m
2
đất ở như sau:’’ mà nhầm lẫn viết giá đấu
trả giá cho cả đất. Ngoài ra, phía trên dòng chữ “Tôi trả giá cho quyền s
dụng 1m
2
đất như sau:’’ thể hiện khung hình bên trong t in to đậm
“Lô:01” phần trả giá từ “…lô đất đấu giá…” cũng thể gây nhầm lẫn.
Kết quả xác minh tại địa phương cũng như ý kiến của người làm chứng xác định
việc trả giá đấu như anh T thì tại địa phương không thể có đất có giá trị cao như
anh T trả; nếu anh T trúng cũng không thể có tiền để thanh toán giá trị 02 lô đất.
Đồng thời, đánh giá phiếu trả giá đất của anh T qcao so với thực tế trong khi
so với người trúng đấu giá đất thứ 03 cùng phiên đấu giá chỉ giá
3.399.999 đồng/01m
2
.
Như vậy, căn cứ xác định anh T đã snhầm lẫn khi bỏ phiếu trả giá
đất. Bản thân anh T lao động tự do, kinh nghiệm, kiến thức tham gia đấu giá
đất còn hạn chế, không phải người đầu cơ, buôn bán đất mục đích đấu giá
đất đở, không ý tạo kịch bản cố tình gây sai sót để hủy cọc, thổi giá tạo
13
sóng thị trường đất đai để trục lợi. Với số tiền đặt cọc 799.671.000 đồng quá
lớn đối với gia đình anh nên anh không thể hành vi cố ý làm sai để mất tiền
cọc. Trong khi đó, việc trả giá nhầm lẫn chưa gây thiệt hại cho Nhà nước vì thửa
đất sẽ được đấu giá lại theo quy định trong trường hợp kết quả đấu giá không
thành công.
Từ những phân tích trên, để đảm bảo quyền vào lợi ích hợp pháp của anh T,
cần tuyên bố giao dịch đấu giá quyền sử dụng đất số 01 lô đất số 02 tại
điểm quy hoạch dân Trường mầm non C2, thôn V, A, huyện Q, tỉnh Thái
Bình (nay thôn V, A, tỉnh Hưng Yên) vào ngày 05/3/2025 giữa Trung tâm
dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh H (nay là Trung tâm D- Sở pháp thành phố Hải
Phòng) anh Phạm Văn T là hiệu do bị nhầm lẫn theo quy định tại Điều
126 Bộ luật Dân sự.
- Về hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu: theo quy định tại Điều 131 B
luật Dân sự 2015: “1. Giao dịch dân sự hiệu không m phát sinh, thay đổi,
chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được
xác lập; 2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban
đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không thể hoàn trả được
bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả; 3. Bên ngay tình trong việc thu
hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó; 4. Bên lỗi gây
thiệt hại thì phải bồi thường…” Đánh giá nguyên nhân dẫn đến giao dịch vô
hiệu là do lỗi nhầm lẫn của anh Phạm Văn T. Tuy nhiên lỗi do nhầm lẫn của anh
T chưa gây thiệt hại về tài sản nên không ai có yêu cầu giải quyết về hậu quả của
giao dịch hiệu cũng như không ai yêu cầu bồi thường thiệt hại; cần buộc
các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận
phù hợp quy định của pháp luật.
Anh T yêu cầu Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản cùng các quan liên
quan trả lại vợ chồng anh số tiền đặt cọc 799.671.000 đồng (Bẩy trăm chín
mươi chín triệu sáu trăm bẩy mươi mốt nghìn đồng). Ngày 12/03/2025 Trung
tâm D đã chuyển số tiền đặt trước của 02 đất đấu giá không thành của anh T
799.671.000 đồng (Bảy trăm chín mươi chín triệu sáu trăm bảy mươi mốt
nghìn đồng) vào tài khoản 3406201002030 của Trung tâm phát triển quỹ đất
cụm C, tỉnh Thái Bình. Ngày 04/04/2025 Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện Q
đã nộp số tiền trên vào ngân sách nhà nước. Tại văn bản số 09/PGD6-KTNN
ngày 11/7/2025 của Phòng G- Kho bạc nhà nước khu vực IV, tỉnh Hưng Yên đã
xác nhận khoản thu trên đã nộp vào thu ngân sách nhà nước, do cơ quan quản lý
thu là Phòng tài chính- Kế hoạch huyện Q, tỉnh Thái Bình.
Như vậy, khoản thu trên đã nộp vào ngân sách nhà nước huyện Q, tỉnh
Thái Bình xác định người có nghĩa vụ hoàn trả anh T, chị Hợp số tiền đặt cọc
trên là Ủy ban nhân dân huyện Q, tỉnh Thái Bình; người kế thừa quyền, nghĩa vụ
14
của Ủy ban nhân dân huyện Q, tỉnh Thái Bình Ủy ban nhân dân A, tỉnh
Hưng n. Cần buộc Ủy ban nhân dân A, tỉnh Hưng n trách nhiệm
hoàn trả cho vợ chồng anh Phạm Văn T, chị Mai Thanh Hợp S1 tiền
799.671.000 đồng (Bảy trăm chín mươi chín triệu sáu trăm bảy mươi mốt nghìn
đồng)
[5] Về án phí: Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ án phí dân sự thẩm,
cần chấp nhận sự tự nguyện chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm của nguyên đơn.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự quyền kháng cáo theo quy định
của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39,
khoản 1 Điều 228; Điều 147 Bộ luật tố Tụng dân sự; các Điều 126, 131 của Bộ
luật Dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Uỷ ban thường vQuốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là anh Phạm Văn
T.
2. Tuyên bố giao dịch đấu giá quyền sử dụng lô đất số 01 và lô đất số 02 tại
điểm quy hoạch dân Trường mầm non C2, thôn V, A, huyện Q, tỉnh Thái
Bình (nay thôn V, A, tỉnh Hưng Yên) vào ngày 05/3/2025 giữa Trung tâm
dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh H (nay là Trung tâm D- Sở pháp thành phố Hải
Phòng) và anh Phạm Văn T là vô hiệu do nhầm lẫn.
3. Buộc Ủy ban nhân dân xã A, tỉnh Hưng Yên có trách nhiệm hoàn trả cho
vợ chồng anh Phạm Văn T, chị Mai Thanh Hợp S1 tiền 799.671.000 đồng (Bảy
trăm chín mươi chín triệu sáu trăm bảy mươi mốt nghìn đồng)
Kể từ ngày bản án, quyết định hiệu lực pháp luật (đối với các trường
hợp quan thi hành án quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể
từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các
khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành
án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm
2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Về án phí: Nguyên đơn là anh Phạm Văn T tự nguyện chịu 300.000 đồng
(ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Đối trừ số tiền 17.994.000 đồng (Mười bẩy triệu chín trăm chín mươi
nghìn đồng) anh T nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí
Tòa án số 0000736 ngày 14/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện
15
Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 8 Hưng
Yên), hoàn trả lại anh Phạm Văn T số tiền 17.694.000 đồng (Mười bẩy triệu sáu
trăm chín mươi tư nghìn đồng)
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa
quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết hợp l bản
án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân squyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7; 7a và
Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- Tòa án ND tỉnh Hưng Yên;
- VKSND tỉnh Hưng Yên;
- VKSND khu vực 8, tỉnh Hưng Yên;
- Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên;
- Phòng THADS khu vực 8 Hưng Yên;
- Lưu HCTP.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Nguyễn Thế Hùng
16
Tải về
Bản án số 13/2025/DS-ST Bản án số 13/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 13/2025/DS-ST Bản án số 13/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất