Bản án số 13/2024/DS-ST ngày 26/04/2024 của TAND huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 13/2024/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 13/2024/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 13/2024/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 13/2024/DS-ST ngày 26/04/2024 của TAND huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Bến Cầu (TAND tỉnh Tây Ninh) |
| Số hiệu: | 13/2024/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 26/04/2024 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Vay tiền để làm vốn mua bán |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẾN CẦU
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 13/2024/DS-ST
Ngày: 26-4-2024.
V/v “Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vui.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hải;
2. Ông Nguyễn Văn Tẻo.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tươi – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham
gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thảo Nguyên - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu,
xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 01/2024/TLST- DS ngày 08
tháng 01 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa
vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐST-DS ngày 02 tháng 4 năm 2024 và Quyết định
hoãn phiên tòa số: 10/2024/QĐST-DS ngày 19 tháng 4 năm 2024, giữa các
đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị H, sinh năm: 1971.
Địa chỉ: Ấp G, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
- Bị đơn: Bà Lai Kim T, sinh năm: 1977.
Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Đỗ Chí T1, sinh năm:
1977.
Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh.
Bà T có mặt; bà H và ông T1 vắng mặt.

2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Đỗ Thị H
trình bày: Bà yêu cầu bà T và ông T1 trả lại số tiền nợ gốc là 178.000.000 đồng,
không yêu cầu tính tiền lãi chậm trả. Cụ thể:
Giữa bà và bà T quen biết với nhau thông qua họ hàng bên nhà xui gia, bà
T là em ruột của em dâu bà. Vào ngày 19/3/2022 bà có cho bà T vay số tiền
245.000.000 đồng để làm vốn kinh doanh mua bán, hai bên có làm giấy nợ do bà
T viết và ký tên. Khi vay hai bên không thỏa thuận lãi suất và thời hạn vay, bà T
cam kết khi nào bà cần thu hồi vốn thì báo cho bà T biết trước 15 ngày.
Đầu năm 2023 bà có thông báo yêu cầu bà T trả lại số tiền nêu trên,
nhưng bà T chỉ trả được số tiền 67.000.000 đồng, sau đó không trả nữa mặc dù
bà đã nhắc nhở rất nhiều lần. Sau khi bà khởi kiện, bà T trả được 6.000.000
đồng bằng hình thức chuyển khoản. Thực tế số tiền nợ nêu trên bà T vay trong
thời kỳ hôn nhân, hơn nữa bà T vay mục đích để kinh doanh mua bán phục vụ
chi phí sinh hoạt chung trong gia đình nên đây là nợ chung của vợ chồng. Do đó,
bà yêu cầu bà T và chồng bà T là ông Đỗ Chí T1 phải có trách nhiệm trả cho bà.
Bà xin rút lại 01 phần yêu cầu khởi kiện với số tiền 6.000.000 đồng.
Ngoài ra bà không yêu cầu gì khác.
- Bị đơn bà Lai Kim T trình bày:
Bà thừa nhận còn nợ bà H số tiền 172.000.000 đồng, tuy nhiên không phải
vay mượn như bà H trình bày. Thực tế là giữa bà và bà H có mối quan hệ làm ăn
mua bán với nhau. Cụ thể, bà H đưa tiền cho bà qua Campuchia mua thuốc lá,
đường, bột ngọt về giao cho bà, hai bên mua bán với nhau được một thời gian
thì bà bị Công an bắt tịch thu hết hàng hóa nên không có tiền trả lại cho bà H.
Sau đó hai bên gặp nhau tính toán chốt sổ lại bà còn nợ số tiền 226.069.000
đồng, bà Hiệp đồng ý cho bà trả dần mỗi tháng 6.000.000 đồng, khi nào đi làm
có thu nhập sẽ trả nhiều hơn. Do không có việc làm ổn định nên bà xin trả dần
3.000.000 đồng/ tháng, bà Hiệp đồng ý và bà đã trả cho bà H đến hiện tại chỉ
còn nợ lại 172.000.000 đồng.
Việc bà mua bán và nợ tiền bà H chồng bà hoàn toàn không biết nên đây
là nợ riêng của bà. Bà đồng ý một mình có trách trả số tiền nêu trên cho bà H,
nhưng hiện tại bà rất khó khăn nên xin trả dần 3.000.000 đồng/ tháng.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Chí T1 trình bày:
Ông là chồng của bà T, vợ chồng bắt đầu chung sống với nhau vào năm
1999, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh.
Trước đây và hiện tại vợ chồng ông vẫn đang sống chung nhà với nhau, không
có thời gian nào sống ly thân. Vấn đề vợ ông làm ăn buôn bán với bà H ông
hoàn toàn không biết và thực tế bà H cũng chưa bao giờ đưa cho vợ ông một lần
với số tiền trên. Mọi chi phí sinh hoạt trong gia đình đều dựa vào thu nhập từ

3
lương của ông và làm ruộng là chính. Vợ ông chỉ phụ chi phí lặt vặt trong gia
đình. Do đó, đây là nợ riêng của vợ nên một mình vợ ông có trách nhiệm trả,
ông không đồng ý trả.
* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời
điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những
người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân
sự. Riêng ông T1 không thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 463, 466 và
469 của Bộ luật Dân sự; Điều 27 và 37 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ
luật Tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14:
+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị H về tranh chấp “Hợp đồng
vay tài sản” đối với bà Lai Kim T. Buộc bà Lai Kim T và ông Đỗ Chí T1 có
nghĩa vụ trả cho bà Đỗ Thị H số tiền vay là 172.000.000 (một trăm bảy mươi hai
triệu) đồng.
Ghi nhận bà Đỗ Thị H rút lại 01 phần yêu cầu khởi kiện với số tiền
6.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi chậm trả.
+ Về án phí: Bà Lai Kim T và ông Đỗ Chí T1 phải chịu án phí dân sự sơ
thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh
tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà Đỗ Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và ông Đỗ
Chí T1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên Hội đồng
xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp với Điều 227 của Bộ luật Tố tụng
dân sự.
[2] Về nội dung vụ án: Ngày 19/3/2022 bà H có cho bà T vay số tiền
245.000.000 đồng để làm vốn kinh doanh mua bán, không thỏa thuận lãi suất và
thời hạn vay, khi nào bà H cần thu hồi vốn thì báo cho bà T biết trước 15 ngày.
Đầu năm 2023 bà H yêu cầu bà T trả lại số tiền nêu trên, nhưng bà T trả được số
tiền 73.000.000 đồng sau đó không trả nữa. Do đó, bà H yêu cầu bà T và chồng
bà T là ông Đỗ Chí T1 trả cho bà số tiền còn nợ là 172.000.000 (một trăm bảy
mươi hai triệu) đồng.
[3] Xét yêu cầu của bà H thì thấy:
[3.1] Bà H cung cấp giấy mượn tiền ngày 19/3/2022. Xét thấy, trong quá
trình tố tụng bà Lai Kim T xác nhận chữ ký trên giấy mượn tiền là của bà và
hiện còn nợ bà H số tiền 172.000.000 đồng. Chính vì vậy, có cơ sở xác định việc
vay tiền giữa bà H với bà T và số tiền còn nợ là có thật. Do đó, yêu cầu khởi
kiện của bà H là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

4
[3.2] Đối với lời trình bày của ông Đỗ Chí T1: Xét thấy, số tiền bà T nợ
của bà H phát sinh trong thời kỳ hôn nhân giữa ông T1 và bà T, mặc dù cả ông
T1 và bà T đều xác định nợ do một mình bà T xác lập với bà H nhưng tại biên
bản lấy lời khai của bà T và ông T1 ngày 19-3-2024 thể hiện, số tiền bà T nợ bà
H là tiền bà T vay mục đích để kinh doanh mua bán, khi có lãi từ việc mua bán
bà T sử dụng số tiền này vào việc chi phí, sinh hoạt chung trong gia đình và ông
T1, bà T cũng thừa nhận việc bà T có dùng tiền lãi từ việc mua bán để phụ giúp
chi phí ăn uống, sinh hoạt chung trong gia đình, chi phí đám tiệc thông qua các
mối quan hệ trong xã hội. Tại phiên tòa bà T trình bày, mặc dù mọi chi phí sinh
hoạt chung trong gia đình nhờ vào thu nhập từ lương của ông T1, nhưng mỗi
tháng ông T1 chỉ đưa cho bà khoảng 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng, có
tháng không có. Do đó, với số tiền nêu trên khó có thể đảm bảo phục vụ nhu cầu
thiết yếu của gia đình.
Căn cứ theo khoản 2 Điều 37 của Luật Hôn nhân và Gia đình quy định:
“Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia
đình” thì vợ chồng có nghĩa vụ chung và theo khoản 20 Điều 3 Luật Hôn nhân
và Gia đình quy định: “Nhu cầu thiết yếu là nhu cầu sinh hoạt thông thường về
ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường
khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình”.
Từ những phân tích nêu trên, có căn cứ để xác định số tiền bà T vay của
bà H là nợ chung của bà T và ông T1 trong thời kỳ hôn nhân nên yêu cầu của bà
H là có căn cứ chấp nhận, cần buộc bà T và ông T1 cùng có nghĩa vụ trả cho bà
H số tiền 172.000.000 đồng là phù hợp Điều 466 của Bộ luật Dân sự, Điều 27 và
Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3.3] Ghi nhận bà Đỗ Thị H rút lại 01 phần yêu cầu khởi kiện với số tiền
6.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi suất.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét
xử chấp nhận.
[5] Án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H nên bà T và ông T1
phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 463, 466, 469 của Bộ luật Dân sự; Căn cứ Điều 27
và Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết
số: 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị H về tranh chấp “Hợp
đồng vay tài sản” đối với bà Lai Kim T và ông Đỗ Chí T1.

5
Buộc bà Lai Kim T và ông Đỗ Chí T1 có nghĩa vụ trả cho bà Đỗ Thị H số
tiền 172.000.000 (một trăm bảy mươi hai triệu) đồng.
Ghi nhận bà Đỗ Thị H rút lại 01 phần yêu cầu khởi kiện với số tiền
6.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi suất.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối
với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thanh toán xong
các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của
số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của
Bộ luật dân sự.
2. Án phí:
Buộc bà Lai Kim T và ông Đỗ Chí T1 phải chịu 8.600.000 (tám triệu sáu
trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Đỗ Thị H được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 4.450.000 (bốn
triệu bốn trăm năm mươi nghìn) đồng theo biên lai thu số 0012092 ngày 08-01-
2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu.
Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt có quyền
kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án
được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Tây Ninh;
- Phòng KTNV&THA. TAND tỉnh;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- VKSND huyện Bến Cầu;
- Chi cục THADS huyện Bến Cầu;
- Các đương sự;
- Lưu bộ phận;
- Lưu hồ sơ vụ án.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Vui
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm