Bản án số 13/2022/DS-PT ngày 27/01/2022 của TAND tỉnh Khánh Hòa về tranh chấp hợp đồng dịch vụ
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 13/2022/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 13/2022/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 13/2022/DS-PT ngày 27/01/2022 của TAND tỉnh Khánh Hòa về tranh chấp hợp đồng dịch vụ |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng dịch vụ |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Khánh Hòa |
| Số hiệu: | 13/2022/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 27/01/2022 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Công ty TNHH Khu du lịch V (sau đây gọi tắt là Công ty) được Ủy ban nhân dân tỉnh K cấp Giấy chứng nhận đầu tư số 371022000419 ngày 05/02/2013, đăng ký thay đổi lần thứ 8 ngày 14/5/2020 để đầu tư, thực hiện Dự án khu nghỉ dưỡng cao cấp Al, tại lô đất số D7a2, TT4, X6 thuộc Khu du lịch Bắc bán đảo Cam Ranh, huyện C, tỉnh K. Công ty V được phép kinh doanh dịch vụ lưu trú. [2.2] Theo quy định tại khoản 3.1 Điều 3 của Hợp đồng thì Khách nghỉ dưỡng theo Hợp đồng này, đồng ý thuê phòng từ Công ty và Công ty đồng ý cho Khách nghỉ dưỡng được thuê phòng…Như vậy, bản chất của “Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ” là hợp đồng cung cấp dịch vụ lưu trú không phải là quyền sở hữu bất động sản. Việc ký kết hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ và việc đặt cọc, giữ chỗ để được sở hữu kỳ nghỉ phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 108, Điều 134, Điều 328 và Điều 405 Bộ luật dân sự. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH K
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 13/2022/DS-PT
Ngày: 27-01-2022
V/v: Tranh chp về hợp đồng dịch vụ
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH K
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thành
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Hiền
Ông Võ Đình Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng T – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
tỉnh K.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh K tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn
Thị Ngọc Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh K, xét xử phúc
thẩm công khai vụ án thụ lý số: 30/2021/TLPT-DS ngày 19 tháng 4 năm 2021, về
việc: “Tranh chấp về hợp đồng dịch vụ”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 57/2020/DS-ST ngày 17 tháng 11 năm 2020
của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh K bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 79/2021/QĐXXPT-DS
ngày 05 thng 11 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 87/2021/QĐPT-DS
ngày 06/12/2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2022/QĐPT-DS ngày
06/01/2022, giữa cc đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1982
Địa chỉ: 338/16 Nguyễn Xí, phường 13, quận BT, thành phố HCM.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1974, địa chỉ:
tòa nhà HH01B, thành phố HN. Theo văn bản ủy quyền lập ngày 21/10/2019 tại
Văn phòng công chứng BT, thành phố HCM.
Ông Toàn vắng mặt có văn bản đề nghị vắng mặt ngày 18/01/2022.
Bị đơn: Công ty TNHH Khu du lịch V
Trụ sở: Tầng 9, Tòa nhà Gold Coast, số 01 Trần Hưng Đạo, phường Lộc
Thọ, thành phố N, K. (Theo Giy chứng nhận doanh nghiệp số 4201550314, đăng
ký thay đổi lần thứ 10 ngày 04/12/2020)
Người đại diện theo php luật: Bà Nguyễn Hồng T1 – Chức vụ: Tổng Gim
đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị Kiều H, sinh năm: 1984, địa
chỉ: tòa nhà Trần Hưng Đạo, thành phố HN. Theo văn bản ủy quyền lập ngày
07/5/2020.
2
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp php: Bà Lê Phan Thùy A – Luật sư
Công ty Luật TNHH Q thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội.
Bà H, bà A vắng mặt theo văn bản đề nghị vắng mặt ngày 20/01/2022.
Người kháng cáo: Nguyên đơn - bà Nguyễn Thị C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh K và
các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
* Theo đơn khởi kiện ngày 01/12/2019, bản tự khai, Biên bản hòa giải và
tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 18/11/2018, bà Nguyễn Thị C đã ký hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ PBRC-
S-071930 vào tuần thứ 17 hàng năm, căn hộ loại A. Bà C đã nộp cho Công ty
TNHH Khu du lịch V số tiền là 66.561.750đđồng. Sau đó, bà C pht hiện ra có
nhiều điều khoản của hợp đồng không đúng như đã được tư vn và quảng co của
Công ty khi bà được mời tham gia mô hình “Sở hữu kỳ nghỉ Alma”. Vì vậy, để bảo
vệ quyền lợi của mình, bà Nguyễn Thị C đã khởi kiện tại Tòa n với nội dung: Đề
nghị Tòa n tuyên bố Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ số PBRC-S-071930 ngày
18/11/2018 vô hiệu và hoàn trả lại cho bà C số tiền đã nộp là 66.561.750 đồng.
Bởi những lý do sau:
- Tại thời điểm Công ty TNHH Khu du lịch V ký kết Hợp đồng sở hữu kỳ
nghỉ với bà C, Công ty TNHH Khu du lịch V chưa có Giy chứng nhận đủ điều
kiện về an ninh, trật tự theo quy định của php luật (do dự n đang trong qu trình
xây dựng); Chưa đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ lưu trú quy định tại điểm c
khoản 1 Điều 49 Luật du lịch. Nên việc “cho thuê phòng” hay “quyền nghỉ dưỡng”
của Công ty TNHH Khu du lịch V đã vi phạm khoản 6 Điều 17 Luật Doanh
nghiệp; khoản 5 Điều 9 Luật du lịch
- Công ty TNHH Khu du lịch V quảng cáo sản phẩm, thông tin dịch vụ cho
khch hàng chưa đầy đủ, chưa chính xc về loại, hạng cơ sở lưu trú du lịch khi
chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận. Ngay từ tiêu đề của bản
Hợp đồng có tên là “Sở hữu kỳ nghỉ”, tuy nhiên khách nghỉ dưỡng lại không có
đầy đủ các quyền sở hữu như quyền Cếm hữu và định đoạt. Như vậy, công ty đã có
hành vi vi phạm tại điểm a khoản 11 Điều 10 Luật bảo vệ quyền lợi của người tiêu
dùng; khoản 8 Điều 9 Luật du lịch.
- Theo xc nhận đặt chỗ ngày 18/11/2018 thì gi trị hợp đồng PBRC-S-
071930 là 19.000 USD, quy đổi theo tỷ gi 23.355đồng/USD thì gi trị hợp đồng
tính theo tiền Việt Nam đồng là 443.745.000 đồng. Việc bo gi, định gi kỳ nghỉ
bằng ngoại tệ (USD) của Công ty TNHH Khu du lịch V đã vi phạm quy định của
Php lệnh Ngoại hối và vi phạm Luật bảo vệ người tiêu dùng, Nghị định số
99/2011/CP của Chính phủ. Ngoài ra, Công ty TNHH Khu du lịch V tự định đoạt
tiền đặt cọc khi không thuộc sở hữu của mình, biến khoản tiền đặt cọc thành khoản
tiền thanh toán là vi phạm Điều 14; khoản 3 Điều 7 Luật đầu tư; điểm a khoản 1
Điều 16 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
3
* Theo bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền
của bị đơn, bà Phạm Thị Kiều H, trình bày:
Ngày 18/11/2018, Bà Nguyễn Thị C đã ký với Công ty TNHH Khu du lịch V
hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ số PBRC-S-071930 (sau đây gọi là “Hợp đồng”), và đã
thanh ton cho Công ty tổng số tiền là 66.561.750đồng, là một phần của khoản
thanh toán theo Hợp đồng thành 2 lần cụ thể là: ngày 18/11/2018 đặt cọc
40.561.750đồng (Hóa đơn gi trị gia tăng số 0003684) và ngày 21/11/2018 đặt cọc
26.000.000đồng (Hóa đơn gi trị gia tăng số 0003794). Công ty TNHH Khu du
lịch V đã thực hiện xut hóa đơn đầy đủ cho cc khoản thanh ton. Nay bà C khởi
kiện ra Tòa án nhân dân N yêu cầu Tòa n tuyên bố Hợp đồng nêu trên là vô hiệu
và yêu cầu Công ty hoàn trả lại số tiền đã thanh ton là 66.561.750đồng; Công ty
TNHH Khu du lịch V không đồng ý vì cc lý do sau đây:
- Công ty TNHH Khu du lịch V đã được Ủy ban nhân dân tỉnh K cp Giy
chứng nhận đầu tư số 371022000419 lần đầu ngày 5/2/2013, thay đổi lần thứ ba
ngày 27/01/2015, Giy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp - mã số doanh nghiệp:
4201550314 đăng ký lần đầu ngày 05/02/2013, đăng ký thay đổi lần thứ 8 ngày
14/5/2020 tại Phòng Đăng ký Kinh doanh - Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh K để đầu
tư, thực hiện Dự n khu nghỉ dưỡng cao cp có tên là “Al” (“Khu Nghỉ dưỡng”
hoặc “Dự n Al”) tại cc lô đt số D7a2, TT4, X6 thuộc Khu Du lịch Bắc Bn Đảo
Cam Ranh, huyện C, tỉnh K và thực hiện cc hoạt động kinh doanh khc phù hợp
với php luật Việt Nam.
- Công ty TNHH Khu du lịch V đã và đang triển khai mô hình chia sẻ quyền
nghỉ dưỡng (“Quyền Sở hữu kỳ nghỉ”) cho cc khch hàng của Công ty. Theo mô
hình này, hàng năm, một người được sử dụng quyền nghỉ dưỡng hàng năm tại một
địa điểm trong một khoảng thời gian tại một thời điểm nht định (tuần nghỉ
dưỡng). Để xc lập quyền nghỉ dưỡng, khch nghỉ dưỡng và doanh nghiệp ký kết
một hợp đồng, gọi là “Hợp đồng Sở hữu kỳ nghỉ”, trong đó, n định thời hạn và
thời điểm nht định khch hàng sẽ sử dụng quyền nghỉ dưỡng của mình. Thông
qua hợp đồng này, Công ty TNHH Khu du lịch V bn quyền nghỉ dưỡng và khch
hàng mua quyền nghỉ dưỡng. Khoản tiền mà khch nghỉ dưỡng đã trả để mua
quyền nghỉ dưỡng là cơ sở để khch hàng được hưởng quyền nghỉ dưỡng hàng
năm đó, đồng thời hàng năm khch nghỉ dưỡng sẽ nộp thêm một khoản phí duy
trì/quản lý cơ sở nghỉ dưỡng tùy thuộc vào hiện trạng hoạt động của khu nghỉ
dưỡng theo từng năm; thời hạn sử dụng quyền nghỉ dưỡng được xc định phù hợp
với thời hạn hoạt động của Dự n (đến năm 2054).
- Hợp đồng ký kết giữa TNHH Khu du lịch V và bà Nguyễn Thị C được xem
là quyền tài sản hình thành trong tương lai. Do đó, tại thời điểm ký kết hợp đồng
bà C nhận thức rõ khu nghĩ dưỡng của công ty TNHH Khu du lịch V vẫn đang
trong qu trình xây dựng, chưa thể cung cp phòng thuê cho bà ngay tại thời điểm
ký kết hợp đồng nhưng bà vẫn đồng ý đặt chỗ và thanh ton tiền đặt cọc là thể hiện
sự đồng ý việc sẽ sử dụng phòng thuê trong tương lai sau khi khu nghĩ dưỡng đi
vào hoạt động. Thực tế, ngày 29/12/2019, Khu nghĩ dưỡng của công ty TNHH
Khu du lịch V chính thức khai trương, đưa vào hoạt động thì kể từ thời điểm này,
công ty TNHH Khu du lịch V bắt đầu chính thức cung cp dịch vụ lưu trú cho
4
khch hàng nên đã đp ứng đầy đủ cc điều kiện kinh doanh dịch vụ lưu trú theo
quy định của php luật.
- Tại buổi giới thiệu, Công ty TNHH Khu du lịch V đã giải thích rõ đây là
hoạt động mua kỳ nghỉ dưỡng, không phải là mua bt động sản nên không có
chuyện gây nhầm lẫn về hợp đồng; Ngoài ra, theo quy định tại Điều 3 về quyền
nghỉ dưỡng, Điều 6 về chuyển nhượng quyền nghỉ dưỡng thì bà C có quyền Cếm
hữu, sử dụng và định đoạt đối với Quyền nghỉ dưỡng của mình theo Hợp đồng đã
ký kết. Về khoản tiền đặt cọc, pháp luật không hạn chế thỏa thuận về sử dụng tiền
cọc. Mục đích sử dụng tiền đặt cọc của Công ty TNHH Khu du lịch V không vi
phạm điều cm của pháp luật.
Bản án dân sự sơ thẩm số 57/2020/DS-ST ngày 17 tháng 11 năm 2020 của
Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh K đã quyết định:
Áp dụng cc Điều 328, Điều 401, Điều 513 và Điều 514 của Bộ luật Dân
sự năm 2015; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 14, Điều 42, Điều 43 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;
Điều 74 Luật Thương mại; Điều 17 Luật Trọng tài thương mại; Mục 4 Chương IV
Luật Du lịch; Điều 147, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTUQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng n phí và lệ phí Tòa n,
Tuyên xử: Không chp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị C về
tuyên bố Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ số PBRC-S-071930 ngày 18/11/2018 được giao
kết giữa bà Nguyễn Thị C với Công ty TNHH Khu du lịch V vô hiệu và hoàn trả
số tiền đặt cọc đã thanh ton là 66.561.750 đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm và quyền khng co
theo quy định.
Ngày 03/12/2020, nguyên đơn bà Nguyễn Thị C có đơn khng co toàn bộ
nội dung bản n sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Đức T vắng mặt có
ý kiến trình bày tại Đơn đề nghị ghi ngày 18/01/2022 với nội dung: nguyên đơn
giữ nguyên nội dung khng co, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên hủy toàn bộ bản n
sơ thẩm vì: Hợp đồng sở hữu kì nghỉ vi phạm điều cm tại khoản 6 Điều 17 Luật
Doanh nghiệp, khoản 5 Điều 9 Luật Du lịch, điểm a khoản 1 Điều 10 của Luật Bảo
vệ quyền lợi của người tiêu dùng, Điều 123 Bộ luật Dân sự; bị đơn cung cp thông
tin sai lệch về dịch vụ cung cp (cụ thể là tên gọi của hợp đồng), không đưa cht
lượng dịch vụ vào Hợp đồng; Tòa n cp sơ thẩm chưa xc định đúng đối tượng
của hợp đồng đang bị tranh chp, cc nhận định của cp sơ thẩm là không có căn
cứ, p dụng sai php luật.
- Đại diện theo ủy quyền của bị đơn là bà Phạm Thị Kiều H, người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp php của bị đơn là bà Lê Phan Thùy A vắng mặt, có ý kiến
trình bày tại Đơn đề nghị ghi ngày 20/01/2022 với nội dung: đề nghị Hội đồng xét
xử bc khng co của nguyên đơn, giữ nguyên nội dung Bản n sơ thẩm.

5
- Đại diện Viện kiểm st nhân dân tỉnh K tham gia phiên tòa pht biểu: Về
việc tuân theo php luật tố tụng của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố
tụng đều đảm bảo đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dụng:
Cp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ Giy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp qua cc
lần thay đổi nên tại thời điểm thụ lý vụ n, việc Tòa n nhân dân thành phố N thụ
lý là vi phạm điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, cc Giy
chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thay đổi lần thứ 8, lần thứ 9 thì trụ sở bị đơn tại
thành phố N nên cp sơ thẩm cần rút kinh nghiệp. Về hình thức, nội dung của Hợp
đồng sở hữu kỳ nghỉ số PBRC-S-071930 ngày 18/11/2020 đều đúng thẩm quyền,
trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, không vi phạm điều cm, việc giao kết,
thực hiện hợp đồng đều trên tinh thần tự nguyện, không bị lừa dối, đe dọa, ép buộc,
cc khoản tiền nộp, Hóa đơn gi trị gia tăng đều thể hiện bằng Việt Nam đồng nên
không có căn cứ chp nhận yêu cầu khởi kiện, nội dung khng co của nguyên
đơn. Tòa án cp sơ thẩm buộc nguyên đơn nộp n phí dân sự sơ thẩm có gi ngạch
đối với số tiền yêu cầu Công ty hoàn trả là không đúng quy định tại điểm a, b
khoản 3 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về
mức thu n phí, lệ phí Tòa n, tạm ứng n phí, tạm ứng lệ phí Tòa n nên đề nghị
Tòa n cp phúc thẩm sửa theo hướng p dụng n phí không có gi ngạch.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu cc tài liệu có trong hồ sơ vụ n được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm và đã nộp tạm ứng án
phí phúc thẩm đều trong thời hạn luật định, nên nội dung kháng cáo nguyên đơn là
hợp lệ và được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn,
người đại diện theo ủy quyền của bị đơn, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của bị đơn đều vắng mặt và có văn bản đề nghị vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử
căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[1.2] Về xc định quan hệ tranh chp:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ Hợp
đồng sở hữu kỳ nghỉ số PBRC-S-071930 ngày 18/11/2018 (sau đây ghi là Hợp
đồng) vô hiệu và buộc bị đơn hoàn trả lại số tiền là 66.561.750đ. Tại Điều 2, Điều
3 Hợp đồng được hai bên thỏa thuận rõ về việc nguyên đơn là khch lưu trú (hay
còn gọi là khách nghỉ dưỡng) thuê phòng và bị đơn đồng ý cho khch nghỉ dưỡng
được thuê phòng. Do đó, Tòa n cp sơ thẩm xc định quan hệ pháp luật tranh
chp được xc định là “Hợp đồng dịch vụ” được quy định tại Điều 513 Bộ luật
Dân sự năm 2015, Điều 14 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; xc định thẩm
quyền thuộc Tòa án theo khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
6
và còn trong thời hiệu khởi kiện quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015,
Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự là đúng.
[1.3] Về xc định thẩm quyền giải quyết:
Hợp đồng đang tranh chp là loại hợp đồng theo mẫu do nhà cung cp dịch
vụ đưa ra, có soạn sn quy định thỏa thuận chọn cơ quan và phương thức giải
quyết tranh chp là Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam theo Quy tắc Tố tụng
Trọng tài của VIAC. Do đó, theo nội dung Án lệ số 42/2021/AL về quyền lựa chọn
Tòa án giải quyết tranh chp của người tiêu dùng trong trường hợp hợp đồng theo
mẫu có thỏa thuận trọng tài thì việc Tòa án thụ lý, giải quyết đối với Hợp đồng là
có căn cứ.
Tại thời điểm kí kết Hợp đồng, theo Giy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
có mã số 4201550314 đăng ký thay đổi lần thứ 5 ngày 15/10/2018 thì Công ty
TNHH Khu du lịch V có trụ sở tại: 22 Ht Giang, phường Phước Hòa, thành phố
N, tỉnh K. Tại thời điểm nguyên đơn khởi kiện (ngày 02/12/2019) và thời điểm
Tòa án thụ lý vụ án (ngày 23/3/2020), theo Giy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
có mã số 4201550314 đăng ký thay đổi lần thứ 7 ngày 20/11/2019 thì Công ty
TNHH Khu du lịch V có trụ sở tại: Lô D7a2, TT4X6 Khu du lịch Bắc Bán đảo
Cam Ranh, xã Cam Hải Đông, huyện C, tỉnh K. Do đó, việc Tòa án nhân dân thành
phố N thụ lý vụ n là không đúng thẩm quyền giải quyết theo quy định tại điểm a
khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tuy nhiên, sau khi Tòa án nhân dân thành phố N thụ lý vụ án cho tới phiên
tòa phúc thẩm, theo Giy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp có mã số 4201550314
đăng ký thay đổi lần thứ 8 ngày 14/5/2020, lần thứ 9 ngày 04/9/2020 thì Công ty
TNHH Khu du lịch V có trụ sở tại: 22 Ht Giang, phường Phước Hòa, thành phố
N, tỉnh K nên Hội đồng xét xử xét thy: tuy tòa n cp sơ thẩm có sự vi phạm tố
tụng nhưng không làm thay đổi bản cht vụ n, đồng thời nếu hủy bản án và giao
hồ sơ cho Tòa n nhân dân thành phố N xét xử sơ thẩm lại sẽ kéo dài thời gian giải
quyết vụ án, ảnh hưởng quyền, lợi ích của cc đương sự là không cần thiết, cp sơ
thẩm cần rút kinh nghiệm.
[2] Về nội dung:
[2.1] Công ty TNHH Khu du lịch V (sau đây gọi tắt là Công ty) được Ủy
ban nhân dân tỉnh K cp Giy chứng nhận đầu tư số 371022000419 ngày
05/02/2013, đăng ký thay đổi lần thứ 8 ngày 14/5/2020 để đầu tư, thực hiện Dự n
khu nghỉ dưỡng cao cp Al, tại lô đt số D7a2, TT4, X6 thuộc Khu du lịch Bắc bn
đảo Cam Ranh, huyện C, tỉnh K. Công ty V được phép kinh doanh dịch vụ lưu trú.
[2.2] Theo quy định tại khoản 3.1 Điều 3 của Hợp đồng thì Khch nghỉ
dưỡng theo Hợp đồng này, đồng ý thuê phòng từ Công ty và Công ty đồng ý cho
Khch nghỉ dưỡng được thuê phòng…Như vậy, bản cht của “Hợp đồng sở hữu kỳ
nghỉ” là hợp đồng cung cp dịch vụ lưu trú không phải là quyền sở hữu bt động
sản.
7
Việc ký kết hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ và việc đặt cọc, giữ chỗ để được sở
hữu kỳ nghỉ phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 108, Điều 134, Điều 328 và
Điều 405 Bộ luật dân sự.
[2.3] Tại thời điểm cc bên ký kết Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ, bà C biết và
buộc phải biết việc Khu nghỉ dưỡng vẫn đang trong qu trình xây dựng, chưa diễn
ra hoạt động đón nhận khch cng như chưa cung cp dịch vụ lưu trú nhưng bà C
vẫn đồng ý trả tiền đặt cọc cho Công ty để giữ chỗ nghĩa là bà đồng ý việc sử dụng
dịch vụ sau khi khu nghỉ dưỡng đi vào hoạt động. Tại thời điểm ký kết Hợp đồng,
Công ty đã được cơ quan nhà nước cp Giy chứng nhận đầu tư thực hiện dự n
Khu nghỉ dưỡng cao cp nhưng chưa cần phải đp ứng cc điều kiện kinh doanh
đối với ngành nghề kinh doanh dịch vụ lưu trú. Chỉ đến khi khai trương, chính thức
đi vào hoạt động thì Công ty mới cung cp dịch vụ lưu trú và buộc phải đp ứng
đầy đủ cc điều kiện kinh doanh dịch vụ lưu trú theo quy định php luật. Phụ lục A
của Hợp đồng xc định rõ bà C đăng ký mua “Loại căn hộ nghỉ dưỡng loại A,
Tuần nghỉ dưỡng thứ 17 trong mỗi năm tính từ năm bắt đầu đến khi hết thời hạn dự
n”, Mục 2.1 Điều 2 của Hợp đồng đã quy định, giải thích rõ về khái niệm, tiêu
chuẩn “Căn hộ nghỉ dưỡng” và việc nộp tiền được thực hiện nhiều lần. Thời điểm
ký kết, nộp tiền giữa các bên đều đầy đủ năng lực pháp luật, đầy đủ năng lực hành
vi dân sự, đối tượng hợp đồng không vi phạm điều cm, cc bên đều tự nguyện,
không bị ai ép buộc, đe dọa. Do đó, Hợp đồng và các Phụ lục Hợp đồng phát sinh
hiệu lực và việc nguyên đơn yêu cầu tuyên bố Hợp đồng vô hiệu do Công ty vi
phạm khoản 6 Điều 17 Luật Doanh nghiệp, khoản 5 Điều 9 Luật Du lịch, điểm a
khoản 1 Điều 10 Luật Bảo vệ người tiêu dùng, là không có cơ sở để chp nhận.
[2.4] Trong cc Giy xc nhận đặt chỗ ngày 18/11/2018, phần gi trị hợp
đồng bên cạnh việc ghi bằng ngoại tệ và tỷ gi bn ngoại tệ thì vẫn ghi gi trị bằng
tiền Việt Nam Đồng, khoản đặt chỗ và tiến độ thanh ton tiền đặt cọc cng ghi
bằng tiền Việt Nam Đồng. Tại phần IV, Phụ lục A của mỗi Hợp đồng sở hữu kỳ
nghỉ đều ghi nhận tại “Khoản thanh ton phải trả khi Công ty xc định Ngày khai
trương chính thức” bằng tiền Việt Nam Đồng.
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện nguyên đơn đã 02 lần thanh
ton cho Công ty và việc thanh ton được thực hiện toàn bộ bằng tiền Việt Nam
Đồng, cụ thể: lần 1 ngày 18/11/2018 thanh ton 40.561.750 đồng, lần 2 ngày
21/11/2018 thanh ton 26.000.000 đồng. Vì vậy, việc ghi gi trị hợp đồng bằng
ngoại tệ tại Văn bản xc nhận đặt chỗ không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp
đồng đã thỏa thuận giữa hai bên. Hóa đơn gi trị gia tăng số 0003684 ngày
18/11/2018 và Hóa đơn gi trị gia tăng số 0003794 ngày 18/11/2018 do nguyên
đơn cung cp cng thể hiện tiền thanh ton là Việt Nam đồng. Do đó, việc nguyên
đơn cho rằng cc Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ bị vô hiệu vì vi phạm Điều 22 của
Php lệnh Ngoại hối là không có căn cứ để chp nhận.
[2.5] Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo
ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn đều xc nhận bà Nguyễn Thị C đã thanh ton
cho Công ty số tiền tổng cộng là 66.561.750 đồng theo cc hóa đơn gi trị gia tăng

8
số 0003684 ngày 18/11/2018, số 0003794 ngày 21/11/2018 nên có cơ sở xc định
số tiền mà bà C đã thanh ton cho Công ty là 66.561.750 đồng.
Theo thỏa thuận tại khoản 5.2 Điều 5 của Hợp đồng thì “sau ngày khai
trương chính thức, tiền đặt cọc sẽ tự động chuyển thành và được xem là một phần
của Khoản thanh ton” và tại khoản 4.1 Điều 4 của Hợp đồng cng quy định
“Khch nghỉ dưỡng theo hợp đồng này cam kết không hủy ngang và đồng ý đặt
chỗc để hưởng Quyền nghỉ dưỡng theo cc điều khoản và điều kiện của Hợp đồng
này. Để đặt chỗ, khch nghỉ dưỡng sẽ thanh ton tiền đặt cọc cho công ty theo
Điều 5.2 và phụ lục C”. Như vậy, việc bà C đồng ý thanh ton tiền cọc cho Công
ty là nhằm mục đích đảm bảo thực hiện Hợp đồng và đã được chuyển thành khoản
thanh ton cho Hợp đồng nên không có căn cứ để chp nhận yêu cầu của bà
Nguyễn Thị C về việc buộc Công ty phải trả lại số tiền 66.561.750 đồng.
[2.6] Hợp đồng và cc phụ lục km theo, Giy xc nhận đặt chỗ được giao
kết giữa bà Nguyễn Thị C và Công ty không thuộc một trong cc trường hợp giao
dịch dân sự vô hiệu được quy định từ Điều 122 đến Điều 129 Bộ luật dân sự. Do
đó cp sơ thẩm không chp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có
căn cứ và nội dung kháng cáo của nguyên đơn không có cơ sở để chp nhận.
[2.7] Đối với ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh K về việc cp sơ thẩm
buộc nguyên đơn nộp án phí có giá ngạch đối với số tiền yêu cầu Công ty hoàn trả
là không đúng, Hội đồng xét xử xét: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu tuyên bố Hợp
đồng vô hiệu và hoàn trả số tiền 66.561.750 đồng, yêu cầu khởi kiện đều không
được chp nhận nên cp sơ thẩm buộc nguyên đơn nộp tiền án phí không có giá
ngạch đối với yêu cầu tuyên bố Hợp đồng vô hiệu và buộc nộp tiền án phí có giá
ngạch với yêu cầu hoàn trả tiền là có căn cứ.
[3] Về n phí: Do khng co không được chp nhận nên bà Nguyễn Thị C
phải chịu n phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc
thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số
AA/2017/0000245 ngày 05/01/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố N.
Bà Nguyễn Thị C đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng cc Điều 328, Điều 401, Điều 513 và Điều 514 của Bộ luật Dân
sự năm 2015;
Áp dụng Điều 14, Điều 42, Điều 43 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;
Điều 74 Luật Thương mại; Điều 17 Luật Trọng tài thương mại; Mục 4 Chương IV
Luật Du lịch;
Áp dụng Án lệ số 42/2021/AL được Hội đồng Thẩm phn Tòa n nhân dân
tối cao thông qua ngày 23/02/2021và được công bố theo Quyết định 42/QĐ-CA
ngày 12/3/2021 của Chnh n Tòa n nhân dân tối cao.

9
Áp dụng khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTUQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng n phí và lệ phí Tòa n
Tuyên xử:
Không chp nhận khng co của bà Nguyễn Thị C, giữ nguyên bản n sơ
thẩm.
1. Không chp nhận yêu cầu của nguyên đơn - bà Nguyễn Thị C về việc
tuyên bố Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ số PBRC-S-071930 ngày 18/11/2018 được giao
kết giữa bà Nguyễn Thị C với Công ty TNHH Khu du lịch V vô hiệu và hoàn trả
số tiền 66.561.750 đồng.
2. Về án phí:
Bà Nguyễn Thị C phải chịu n phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào
tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí
Tòa án số AA/2017/0000245 ngày 05/01/2021 của C cục thi hành án dân sự thành
phố N. Bà Nguyễn Thị C đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
3. Bản n phúc thẩm có hiệu lực php luật kể từ ngày tuyên n (ngày 27
tháng 01 năm 2022).
Nơi nhận:
- Cc đương sự;
- TANDCC, VKSNDCC tại Đà Nng;
- VKSND tỉnh K;
- VKSND TP .N;
- TAND TP. N;
- C cục THADS TP. N;
- Lưu VP, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Trung Thành
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 15/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm