Bản án số 13/2018/HNGĐ-ST ngày 04/04/2018 của TAND huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 13/2018/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 13/2018/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 13/2018/HNGĐ-ST ngày 04/04/2018 của TAND huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Bảo Thắng (TAND tỉnh Lào Cai) |
| Số hiệu: | 13/2018/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 04/04/2018 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Bà Phạm Thị T ly hôn ông Doãn Văn H |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản
1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN BẢO THẮNG Độc lập – Tƣ do – Hạnh phúc
TỈNH LÀO CAI
_______________________________________
_____________________
Bản án số: 13/2018/HNGĐ–ST.
Ngày 04/4/2018.
V/v “Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG, TỈNH LÀO CAI
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Ngọc Thanh.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lý Seo Vần;
2. Bà Trần Thị Huệ .
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Cường – Thư ký Toà án nhân dân
huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai tham gia
phiên tòa: Bà Dương Thị Mai Ngọc – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 4 năm 2018 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Bảo Thắng,
tỉnh Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 307/2017/TLST – HNGĐ,
ngày 14 tháng 12 năm 2017 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
số: 08/2018/QĐXXST–HNGĐ, ngày 12 tháng 3 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị T - Sinh năm 1965.
Địa chỉ: Thôn Cốc S3, xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai.
2. Bị đơn: Ông Doãn Văn H - Sinh năm 1965.
Địa chỉ: Thôn Cốc S3, xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai.
3. Người làm chứng:
+ Anh Doãn Văn H - Sinh năm 1991;
Địa chỉ: Thôn H, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 04 tháng 12 năm 2017 và trong quá trình xét xử,
nguyên đơn bà Phạm Thị Ttrình bầy: Bà Phạm Thị T và ông Doãn Văn H chung
sống với nhau từ năm 1989 đến nay, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện B,
tỉnh Lào Cai, nhưng đến nay giấy đăng ký kết hôn đã bị thất lạc. Trong quá trình
chung sống bà Phạm Thị T và ông Doãn Văn H sống hạnh phúc đến năm 2012 thì
phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông Doãn Văn H nghi ngờ bà Phạm Thị T
không chung thủy, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Từ năm 2012 bà
2
Phạm Thị T và ông Doãn Văn H mặc dù sống chung một nhà nhưng đã ly thân
không có bất cứ quan hệ gì với nhau. Đến nay bà Phạm Thị T nhận thấy tình cảm
vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng kéo dài, bà Phạm Thị T đề nghị Tòa án
nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai, giải quyết cho bà Phạm Thị T được ly
hôn với ông Doãn Văn H.
Về con chung: Bà Phạm Thị T và ông Doãn Văn H có 02 con chung là anh
Doãn Văn H- Sinh ngày 14/4/1991 và chị Doãn Thị H - Sinh ngày 28/11/1992.
Hiện 02 người con chung của bà Phạm Thị T và ông Doãn Văn H đã trưởng thành,
tạo lập cuộc sống riêng nên bà Phạm Thị T không đề nghị Tòa án giải quyết về việc
nuôi con chung.
Về tài sản chung: Khi ly hôn bà Phạm Thị T, không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Tại các tự bản khai cũng như tại phiên tòa, bị đơn ông Doãn Văn H trình
bày: Về quan hệ hôn nhân ông Doãn Văn H thừa nhận có đăng ký kết hôn với bà
Phạm Thị T vào năm 1989 tại UBND xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai, nhưng hiện nay
giấy đăng ký kết hôn đã bị thất lạc, ông Doãn Văn H không thể cung cấp được tài
liệu chứng minh ông và bà Phạm Thị T có đăng ký kết hôn năm 1989. Ông Doãn
Văn H cũng xác định trong quá trình chung sống ông và bà Phạm Thị T có cuộc
sống chung hạnh phúc đến năm 2010 thì vợ chồng phát sinh xẩy ra mẫu thuẫn,
nguyên nhân do bà Phạm Thị T có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác, bản
thân ông Doãn Văn H không chấp nhận được, nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng
trầm trọng. Từ năm 2012 đến nay ông và bà Phạm Thị T sống ly thân không có bất
cứ quan hệ gì với nhau. Nay bà Phạm Thị T xin ly hôn, ông Doãn Văn H đồng ý ly
hôn. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai giải quyết theo quy
định của Pháp luật.
Về con chung: Ông Doãn Văn H thừa nhận ông và bà Phạm Thị T có 02 con
chung như bà Phạm Thị T trình bầy là đúng. Hiện 02 người con chung của ông và
bà Phạm Thị T đã trưởng thành nên ông Doãn Văn H không đề nghị Tòa án giải
quyết về việc nuôi con chung.
Về tài sản chung: Ông Doãn Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà, nguyên đơn bà Phạm Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện
đề nghị Hội đồng xét xử, giải quyết cho bà Phạm Thị T được ly hôn với ông Doãn
Văn H. Ngoài ra bà Phạm Thị T không có yêu cầu gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai tham gia
phiên toà, phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự, trong quá
trình giải quyết vụ án của Thẩm phán; của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp
luật của những người tham gia tố tụng tại phiên toà là đúng theo các quy định của
pháp luật, đảm bảo đúng trình tự luật định; không vi phạm thời hạn chuẩn bị xét
xử; Viện kiểm sát nghiên cứu hồ sơ đảm bảo đúng pháp luật.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 1,
Điều 9; Khoản 1, Điều 14; Khoản 2, Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 4,
Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
3
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên bố không công nhận quan hệ giữa bà Phạm Thị T và ông Doãn Văn H
là vợ chồng.
Tuyên nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo cho các
đương sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hôn nhân: Nguyên đơn, bà Phạm Thị T khởi kiện xin ly hôn với ông
Doãn Văn H. Nguyên nhân là do từ năm 2012 ông Doãn Văn H nghi ngờ bà Phạm
Thị T có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác, dẫn tới trong cuộc sống vợ
chồng thường xuyên đánh và cãi nhau, tình cảm vợ chồng không còn. Từ năm 2012
đến nay ông Doãn Văn H và bà Phạm Thị T mặc dù sống chung một nhà, nhưng đã
ly thân không có bất cứ quan hệ gì với nhau.
Hội đồng xét xử xét thấy: Lời khai của các đương sự phù hợp với các tài liệu
khác có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với lời khai người làm chứng anh Doãn Xuân
H là con đẻ của bà Phạm Thị T và ông Doãn Văn H đã xác định "Từ năm 2012 ông
Doãn Văn H có nghi ngờ bà Phạm Thị T có quan hệ tình cảm với người đàn ông
khác, trong cuộc sống ông Doãn Văn H và bà Phạm Thị T thường xuyên xảy ra
mâu thuẫn, gia đình cũng đã góp ý nhưng không thể thay đổi được. Sau đó ông
Doãn Văn H và bà Phạm Thị T sống ly thân không quan tâm đến nhau". Như vậy,
tình trạng hôn nhân của bà Phạm Thị T và ông Doãn Văn H đã trầm trọng; mục
đích của hôn nhân không đạt được, nên bà Phạm Thị T yêu cầu được ly hôn với
ông Doãn Văn H là có căn cứ.
Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết tại Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng,
tỉnh Lào Cai ông Doãn Văn H và bà Phạm Thị T đều khai có đăng ký kết hôn tại
UBND xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai năm 1989. Nhưng quá trình xác minh tại
UBND xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai cũng không có lưu trữ thông tin về việc đăng
ký kết hôn giữa bà Phạm Thị T và ông Doãn Văn H. Các đương sự cũng không thể
cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh về việc có đăng ký kết hôn. Do đó
không có cơ sở để xác định hôn nhân giữa bà Phạm Thị T và ông Doãn Văn H từ
năm 1989 đến nay là hôn nhân hợp pháp, mà cần xác định bà Phạm Thị T và ông
Doãn Văn H chung sống từ năm 1989 đến nay không đăng ký kết hôn.
Việc chung sống với nhau không đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền là trái quy định tại điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Hôn nhân không hợp
pháp, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng. Do đó cần tuyên bố
không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Phạm Thị T và ông Doãn Văn H là phù
hợp với khoản 2, điều 53 Luật hôn nhân và gia đình.
[2] Về con chung: Quá trình chung sống, bà Phạm Thị T và ông Doãn Văn H
có 02 con chung là anh Doãn Văn H - Sinh ngày 14/4/1991 và chị Doãn Thị H -

4
Sinh ngày 28/11/1992. Hiện 02 con chung của bà Phạm Thị T và ông Doãn Văn H
đã trưởng thành, đã tạo lập cuộc sống riêng nên bà Phạm Thị T và ông Doãn Văn H
không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử
không xem xét giải quyết.
[3] Về tài sản chung: Bà bà Phạm Thị T và ông Doãn Văn H không yêu cầu
Tòa án giải quyết.
[4] Về án phí: Bà Phạm Thị T phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm ly hôn theo
quy định của Pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1, Điều 9; Khoản 1, Điều 14; Khoản 2, Điều 53 Luật Hôn
nhân và gia đình; Khoản 4, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ giữa bà Phạm Thị T và
ông Doãn Văn H là vợ chồng.
2. Về án phí: Bà Phạm Thị T phải chịu 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng)
tiền án phí dân sự sơ thẩm ly hôn. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí,
lệ phí đã nộp 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0007420 ngày 14
tháng 12 năm 2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi
hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi
hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời
hiệu Thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Lào Cai; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện Bảo Thắng (02);
- Chi cục THADS huyện Bảo Thắng;
- UBND xã P;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ; Lưu tập án VP.
Bùi Ngọc Thanh
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm