Bản án số 127/2017/HS-ST ngày 29/12/2017 của TAND TP. Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 127/2017/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 127/2017/HS-ST ngày 29/12/2017 của TAND TP. Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Đồng Xoài (TAND tỉnh Bình Phước)
Số hiệu: 127/2017/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/12/2017
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

A ÁN NHÂNN CNG HÒA XÃ HỘI CH NGHĨA VIT NAM
THỊĐỒNG XOÀI Độc lập- Tự do-Hạnh phúc
TỈNH BÌNH PHƯC
Bản án số: 127/2017/HS-ST
Ngày: 29-12-2017
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Huệ
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Được
2. Ông Trịnh Văn Thành
-Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hoàng Long – Thư ký Tòa án.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị Đồng Xoài tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Đức Đương - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị Đồng Xoài,
tỉnh Bình Phước đưa ra xét xử ng khai vụ án hình sự thẩm thụ số
115/2017/HSST ngày 21 tháng 11 năm 2017, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
159/2017/QĐXX ngày 18/12/2017 đối với các bị cáo:
1.Họ tên: TUẤN A; Sinh năm 1989; Tên gọi khác: C; HKTT: Ấp
N, T, huyện R, tỉnh Bình Phước; Địa chỉ nơi trú: Tổ 3, khu phố M, phường
P, thị xã ĐX, tỉnh Bình Phước; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Con
ông Lê Đăng N (đã chết) và bà Lê Thị Đ -SN: 1965; Tiền án, tiền sự: Không. Tạm
giam từ ngày 28/8/2017 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2.Họ tên: THÀNH H; Sinh năm 1996; Tên gọi khác: D; HKTT
địa chỉ nơi trú: Ấp Minh T, Tân T, huyện ĐP, tỉnh Bình Phước; Trình độ
văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Lê Thành Q-SN 1969 và bà Nguyễn
Thị Ánh N - SN: 1971; Tiền án: không; Tiền sự: Quyết định XPHC số 41 ngày
16/9/2016 của Công an huyện ĐP xử phạt 1.500.000đ về hành vi tàng trữ trái
phép chất ma túy.
Nhân thân: Ngày 30/9/2013 bị Ủy ban nhân dân huyện ĐP ra quyết định
đưa vào trường giáo dưỡng thời gian 20 tháng về hành vi gây rối trật tự công
cộng, chấp hành xong ngày 30/3/2015.
Ngày 29/5/2017 bị Công an huyện ĐP ra quyết định khởi tố vụ án về hành
vi trộm cắp tài sản, hiện chưa xét xử.
2
Tạm giam từ ngày 28/8/2017 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3.Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Huỳnh Ngọc H SN:1977, Địa
chỉ nơi cư trú: Ấp 1, xã Tiến T, thị xã ĐX, tỉnh Bình Phước, có mặt.
4. Những nời làm chứng:
- Trần Ngọc M - SN:1990,
- Trịnh Thị D- SN: 1992, địa chỉ nơi trú: Khu phố 3, phường Tân Đ, thị
xã ĐX, tỉnh Bình Phước.
- Tuấn V SN: 1994, địa chỉ nơi trú: Ấp L, Phước A, huyện
HQ, tỉnh Bình Phước.
- Kiều Tiến A- SN: 1991, địa chỉ nơi cư trú: Tổ 1, ấp T, xã Phước A, huyện
HQ, tỉnh Bình Phước.
- Nguyễn Huỳnh L- SN: 1983, địa chỉ nơi trú: p 1, Tiến T, thị
ĐX, tỉnh Bình Phước.
Các đương sự đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ ngày 27/8/2017 đến ngày 28/8/2017, Tuấn A
hai lần thực hiện hành vi mua bán trái phép ma túy Trần Ngọc M, trong đó một
lần cùng với Lê Thành H cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 27/8/2017, Trần Ngọc M gọi
điện cho Tuấn A hỏi mua 2.300.000 đồng (hai triệu ba trăm nghìn đồng) ma
túy thì Tuấn A đồng ý nói khi nào ma túy thì gọi M đến giao nhận tiến
ma túy. Tuấn A gọi điện thoại cho một người đàn ông tên C (không nhân thân
lai lịch) hỏi mua 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) ma túy thì C đồng ý. Tuấn A
nhờ C chia ma túy thành hai phần bằng nhau thì C đồng ý và hẹn Tuấn A tại quán
phê (không tên quán) nằm trên đường ĐT 741, thuộc ấp 1, Tiến H, thị
ĐX để giao nhận ma túy và tiền. Tuấn A điều khiển xe mô tô biển số 93P1-272.76
đến điểm hẹn đưa cho C số tiền 3.000.000 đồng. C đi ra ngoài khoảng 03 phút rồi
quay lại đưa cho Tuấn A 01 vỏ bao thuốc hiệu Jet n trong 02 bọc ny lon
hàn kín các mép, kích thước mỗi bọc khoảng (3x5)cm (2,5x2,5)cm bên trong
chứa ma túy đá. Sau khi mua được ma túy, Tuấn A mang về phòng trọ thuộc khu
phố Phú M, phường Tân P, thị ĐX lấy 01 bọc ma túy cất giấu phía trước hiên
phòng trọ, bọc nylon chứa ma túy n lại Tuấn A chia làm 03 gói (một gói to
02 gói nhỏ). 02 gói ma túy nhỏ Tuấn A cất vào túi quần để sử dụng n gói ma
túy lớn Tuấn A bán cho M. Tuấn A gọi điện thoại cho M hẹn đến khu vực đường
Thường K thuộc khu phố Phú T, phường Tân P, thị ĐX để giao nhận. Đến
điểm hẹn không thấy M nên Tuấn A để gói ma túy vào vỏ gói thuốc Melia rồi
giấu ven đường cách vị trí Tuấn A đứng khoảng 10m. Khoảng 10 phút sau M
đến gặp Tuấn A, đưa cho Tuấn A 600.000 đồng nói cho M thiếu lại 1.700.000
3
đồng thì Tuấn A đồng ý chỉ chỗ cất giấu ma túy cho M. Số ma túy mua được
M đã sử dụng hết.
Lần thứ hai: Khoảng 09 giờ ngày 28/8/2017, Trần Ngọc M gọi điện thoại
cho Tuấn A hỏi mua 2.300.000 đồng (Hai triệu ba trăm ngàn đồng) tiền ma
túy nhờ chia làm hai phẩn thì Tuấn A nói M trả 1.700.000 đồng nợ vào ngày
27/8/2017 thì Tuấn A mới tiếp tục bán ma túy. M hẹn Tuấn A đến phòng trcủa
M tại Tiến T, thị Đồng Xoài để lấy tiền thì Tuấn A đồng ý. Tại phòng trọ
của M, M trả cho Tuấn A số tiền 1.700.000đồng nên Tuấn A đồng ý tiếp tục bán
ma túy cho M. Tuấn A đi vphòng trọ lấy bịch ma túy giấu trước hiên phòng trọ
chia làm 02 bịch rồi bỏ vào bao thuốc hiệu Melia cất giấu trong người. Tuấn A
đi vào phòng trọ đưa cho Huỳnh Ngọc H (bạn gái Tuấn A) số tiền 1.700.000 đồng
rồi đi ra trước hiên nhà trọ rủ Thành H bạn của H (không lai lịch) sử
dụng ma túy thì cả hai đồng ý. Tuấn A nảy sinh ý định rủ H đi bán ma túy cho M
nên nói với H đi ra ngoài cùng Tuấn A thì H đồng ý (Tuấn A không nói cho H
biết đi bán ma túy).
Khi đi thì Tuấn A đưa cho H 01 tờ tiền mệnh giá 500 đồng (năm trăm đồng)
gấp nhỏ bên trong 02 bọc nylon hàn kín kích thước (1,5x2)cm và (1x2)cm
chứa ma túy đá, Tuấn A nói cho H nhưng H từ chối không nhận thì nói H giữ
giùm, H đồng ý, cất 01 tờ tiền mệnh giá 500 đồng bên trong có 02 bọc ma túy vào
trong bóp da màu nâu đen rồi cất bóp da chứa ma túy vào túi quần bên phải
đang mặc. Tuấn A điều khiển xe mô tô biển số 93P1-272.76 chở Hiển ngồi sau đi
theo hướng đoàn đường vành đai hồ Suối C, mục đích Tuấn A đi bán ma túy
cho M, Tuấn A bỏ gói thuốc hiệu Melia bên trong 02 bọc ma túy đá học
đựng đồ phía trước của xe, đến khu vực quán phê Mây Nước thuộc phường
Tân P, thị xã ĐX, Tuấn A đi vào đường hẻm (không có tên đường) do dằn, sóc vỏ
gói thuốc hiệu Melia bên trong 02 bọc chứa ma túy đá đựng trên hộc xe rớt
xuống ven đường, Tuấn A dừng xe lại kêu H nhặt vỏ gói thuốc Melia bên
trong có 02 bọc ma túy lên và nói H giữ giùm thì H đồng ý. Tuấn A tiếp tục chở H
đi khoảng 50m thì dừng xe lại gọi điện cho M đến điểm hẹn lấy ma túy nhưng M
nói với Tuấn A không có xe, mặc trông con nên nhờ Tuấn A mang ma túy đá đến
phòng trọ cho M thì Tuấn A đồng ý. Tuấn A tiếp tục điều khiển xe chở H đi đến
phòng trọ của M thuộc ấp A, xã Tiến T, thị Đồng Xoài, khi đi đến ngã ba
trường Trung học phổ thông ĐX Tuấn A rẽ vào bên hông trường nói H đưa lại
vỏ gói thuốc hiệu Melia bên trong 02 bọc ma túy đang giữ giùm Tuấn A thì
H đưa lại cho Tuấn A hỏi Tuấn A “Anh đi giao hàng cho chị M h (Tuấn A
hiểu ý của H Tuấn A đi bán ma y đá cho M phải không) thì Tuấn A trả lời
“Ừ” Tuấn A nói H chút nữa Tuấn A đi vào phòng trọ của M lấy tiền còn H
ngoài trông gói thuốc hiệu Melia bên trong có 02 bọc ma túy đá thì H đồng ý,
khi đến cách phòng trọ của M khoảng 20m thì Tuấn A dừng xe lại, Tuấn A ném
gói thuốc hiệu Melia bên trong 02 bọc ma túy đá ch thước (3x4)cm
(2,5x2,5)cm dán bằng keo đen bên ngoài bọc nylon xuống ven đường. Mục đích
của Tuấn A để số ma túy đá này đây cho H trong coi còn Tuấn A đi vào phòng
trọ của M giao dịch bán ma túy, nhận tiền xong mới chỉ cho M biết chỗ cất giấu
ma túy đá để M tự ra lấy, Tuấn A nói với H đứng ra xa một chút nếu thấy ai
4
đến lấy vỏ gói thuốc lá Melia bên trong có 02 bọc ma túy đá thì nói lại với Tuấn A
biết thì H đồng ý, H đi bộ ra ớng quốc lộ 14 cách vỏ gói thuốc hiệu Melia
khoảng 10m thì H đứng đó trông coi còn Tuấn A điều khiển xe vào phòng trọ của
M để giao dịch bán ma túy thì bị lực lượng Công an bắt quả tang Tuấn A, M và H
cùng tang vật, lực lượng công an thu giữ 01 vỏ gói thuốc hiệu Melia cách
phòng trọ của M 20m cách chỗ H đứng 10m, bên trong vỏ gói thuốc hiệu
Melia 02 bọc nylon hàn kín các mép được quán băng keo đen bên ngoài kích
thước mỗi bọc (3x4)cm; (2,5x2,5)cm bên trong chứa ma túy đá; thu giữ trên người
H 01 bóp da màu nâu bên trong có 01 tờ tiền mệnh giá 500 đồng bên trong tờ tiền
gấp nhỏ có 02 bọc nylon hàn kín các mép, kích thước mỗi bọc (1,5x2)cm;
(1x2)cm bên trong chứa ma túy đá đây số ma túy đá mà Tuấn A đưa cho H giữ
giùm.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã ĐX đã tiến hành khám
xét khẩn cấp nơi ở của Lê Tuấn A thu giữ 01 kéo kim loại màu đen dài 17cm.
Tại bản Kết luận giám định số 402/2017/GĐ ngày 01/9/2017 của Phòng
kỹ thuật hình sCông an tỉnh Bình Phước kết luận: Tinh thể màu trắng đựng
trong 02 (hai) gói nylon thu giữ khi bắt quả tang Lê Tuấn A hiệu (M1) được
niêm phong gửi giám định ma túy, trọng lượng 1,5991 gam
Methamphetamin; Tinh thể màu trắng đựng trong 02 (hai) gói nylon (ký hiệu
M2) được niêm phong gửi giám định ma túy, có trọng lượng là 0,1994 gam,
là Methamphetamin.
Tại phiên tòa bị cáo Tuấn A Thành H khai nhận hành vi phạm tội
như nội dung bản o trạng truy tố thống nhất không ý kiến đối với lời
khai của Trần Ngọc M những người tham gia tố tụng khác được hội đồng xét
xử công bố trước phiên tòa.
Bản Cáo trạng số 117/CTr-VKS ngày 21/11/2017 của Viện kiểm sát nhân
dân thị xã Đồng Xoài truy tố bị cáo Tuấn A, Thành H về tội Mua bán trái
phép chất ma túy”; Bị cáo Tuấn A theo điểm b khoản 2 Điều 194; bị cáo
Thành H theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội tranh
luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo như bản cáo trạng đề
nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm điểm p khoản 1 Điều 46, 33, 45, 53 của B
luật hình sự: Xphạt bị cáo Tuấn A mức án từ 07-08 năm tù; bị cáo H mức án
từ 03-04 năm tù.
Bị cáo Lê Tuấn A, Lê Thành H xin giảm nhẹ hình phạt;
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như
sau:
5
[1].Về hành vi, quyết định tố tụng của quan điều tra; Viện kiểm sát nhân
dân thị ĐX, Điều tra viên Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã
thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình
sự. Quá trình điều tra tại phiên tòa bị cáo không ai ý kiến hoặc khiếu nại .
Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2].Về hành vi phạm tội Tuấn A khai nhận: Bị cáo sử dụng ma túy
khoảng tháng 7/2017, nguồn ma túy để sử dụng và bán kiếm lời mua của
người tên C, bán lại cho Trần Ngọc M cụ thể như sau: Ngày 27/8/2017 M điện
thoại cho bị cáo hỏi mua 2.300.000 đồng ma túy, nhưng do không sẵn n bị
cáo hẹn lại, sau đó bị cáo đến gặp C tại một quán phê ven đường thuộc ấp 1,
TH mua 3.000.000đồng ma túy đựng trong vỏ bao thuốc bên trong 02 bọc
nylon hàn kín mép. Bị cáo mang về phòng trọ của mình cất dấu 01 bọc, bọc còn
lại chia làm 03 gói (02 gói nhỏ, 01 gói to), 01 gói to bỏ trong vỏ gói thuốc lá hiệu
Melia mang giao cho M tại đường Thường K, khu phố Phú T, phường Tân P,
M trả 600.000 đồng, còn nợ lại 1.700.000đồng. Lần 2: Ngày 28/8/2017 Mai hỏi
mua tiếp 2.300.000 đồng ma túy, bị cáo yêu cầu trả số nợ cũ mới bán tiếp, M đồng
ý bị cáo đến phòng trọ của M lấy 1.700.000đồng, sau đó về nhà tiếp tục chia
đôi gói ma túy còn lại làm 02 bịch bỏ vào vỏ bao thuốc hiệu Melia để giao
cho M. Riêng 02 gói ma túy nhỏ còn lại hôm trước bị cáo ng tờ tiền mệnh giá
500đồng gói lại và cho Thành H nhưng H không nhận nên nhờ H giữ giùm. Bị
cáo và H chở nhau đến phòng trọ của M tại ấp A, xã Tiến T, đến cách nhà M 20m
bị cáo lấy vỏ bao thuốc đựng ma túy ném xuống ven đường nói Hiển
đứng canh, bị cáo vào trong nhà M giao dịch n ma y thì bị công an bắt quả
tang và thu giữ toàn bộ ma túy. Việc bị cáo bán ma túy cho M ban đầu khi rủ Hiển
đi thì bị cáo không nói, nhưng sau đó H có hỏi bị cáo giao ma túy cho chị M hả thì
bị cáo ừ, tức là H biết.
[3].Bị cáo Thành H khai nhận: Bị cáo cũng sử dụng ma túy từ tháng
4/2017, số ma túy khi công an bắt và thu giữ bị cáo không rõ có nguồn gốc từ đâu,
nhưng ngày 28/8/2017 bị cáo cùng bạn tên H (không lai lịch) đến phòng của
Tuấn A chơi cùng nhau sử dụng ma túy, sau đó Tuấn A rủ đi ra ngoài, trên
đường đi Tuấn A đưa cho bị cáo 01 tờ tiền 500đồng bên trong có vật chất rắn, lúc
này bị cáo biết ma túy Tuấn A cũng nói cho bị cáo nhưng bị cáo không lấy
chỉ giữ giùm. Trong lúc đi đường thì Tuấn A làm rơi gói thuốc hiệu Melia
xuống đường, bị cáo nhặt lên biết trong đó ma túy nên hỏi “Anh đi giao
ng cho chị M hả”, Tuấn A trả lời “ừ”. Do M người cùng sử dụng ma túy nên
bị cáo quen biết, khi đến cổng nhà M, bị cáo đứng ngoài canh gói thuốc hiệu
Melia bên trong đựng ma túy cho Tuấn A vào trao đổi với M, sau đó thì bị
Công an bắt và thu giữ toàn bộ số ma túy.
6
[4]. Lời khai của Trần Ngọc M: M mua ma túy của Tuấn A lần 01 vào
ngày 27/8/2017 với số tiền 2.300.000 đồng, trả tiền làm 02 lần (lần 600.000đ và
lần 1.700.000đ) lần 02 ngày 28/8/2017 với giá 2.300.000đồng thì bbắt quả
tang. Mục đích mua ma túy của Tuấn A để sử dụng.
[5].Đối chiếu lời khai của các bị o tại phiên tòa giống nhau, phù hợp với
lời khai trong qtrình điều tra và lời khai của đối tượng mua ma túy Trần Ngọc
M; phù hợp vthời gian, địa điểm, phương thức thực hiện hành vi phạm tội; biên
bản bắt người phạm tội quả tang, khám xét; biên bản kiểm tra điện thoại của
Tuấn A Trần Ngọc M, vật chứng thu giữ; kết luận giám định (tinh thể màu
trắng đựng trong 04 gói có hiệu M1, M2 được niêm phong gửi giám định
tổng trọng lượng 1,7985 gam Methamphetamin) cùng các tài liệu chứng cứ
khác trong hồ được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, đủ căn cứ kết luận:
Tuấn A mua ma túy vchia nhỏ ra bán lại cho Trần Ngc M 02 lần phạm vào
tội Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm hình phạt được quy định tại
Điều 194 của Bộ luật hình sự với tình tiết định khung tăng nặng “Phạm tội
nhiều lần” theo điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật hình sự. Thành H
người giúp sức cho Tuấn A cùng thực hiện hành vi bán ma túy cho Trần Ngọc
M 01 lần đồng phạm cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy
định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình s.
[6].Xét về năng lực hành vi dân sự: Các bị cáo đều là người đủ năng lực
hành vi dân sự nên nhận thức được ma túy là chất gây nghiện nặng, người sử dụng
sẽ bị lệ thuộc hoàn toàn vào làm mất khả năng điều khiển hành vi, ảnh
hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người dẫn đến các loại tội phạm chiếm
đoạt tài sản do không có tiền mua ma túy sử dụng. Mặc dù biết rõ được tác hại và
hậu quả xảy ra, nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân và hưởng lợi từ việc bán
ma túy, các bị cáo vẫn bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện tội phạm.
[7].Đây vụ án tính chất đồng phạm giản đơn, bcáo Lê Tuấn A giữ vai
trò chính, người trực tiếp thực hiện tội phạm đi mua ma túy từ C về chia nhỏ ra
bán lại cho M nhiều lần để hưởng tiền chênh lệch sử dụng. Không những
một mình bị cáo còn dẫn dắt bị cáo H đi vào con đường phạm tội; Đối với b
cáo Thành H là đồng phạm cùng thực hiện hành vi phạm tội, mặc dù biết bị
cáo A đi bán ma túy cho M nhưng vẫn tiếp tay, cất giấu ma túy trong người, canh
giữ ma túy cho bị cáo Anh giao dịch mua bán ma túy với M. Về nhân thân bị cáo
H đã nhiều lần bị xử phạt hành chính, lần gần đây ngày 16/9/2016 bị Công an
huyện ĐP xử phạt 1.500.000đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy hiện
tại còn đang bị Công an huyện ĐP khởi tố về hành vi trộm cắp tài sản.
Hành vi mà các bị cáo thực hiện nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các
quy định của Nhà nước vđộc quyền quản các chất ma túy trong y học, ảnh
7
hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần xử phạt một mức án nghiêm
tương xứng với tính chất, mức độ do hậu quả đã gây ra.
Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo thành khẩn khai nhận có thái độ ăn năn
hối lỗi, bị cáo Lê Tuấn A có nhân thân tốt chưa tiền án, tiền sự nên được Hội đồng
xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt khi lượng hình.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều không nghề nghiệp ổn định, không
có thu nhập gì nên không áp dụng.
[8].Đối với Trần Ngọc M sử dụng trái phép chất ma túy, quan điều tra
Công an thị xã ĐX đã ra quyết định xphạt hành chính theo quy định của pháp
luật. Đối tượng C bán ma túy cho bị cáo A H cùng sử dụng ma túy tại nhà bị
cáo A không rõ họ tên, nhân thân lai lịch, quan điều tra tiếp tục xác minh làm
rõ và xử lý sau. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
[9].Về vật chứng vụ án:
-02 bì thư được niêm phong số 402M1, 402M2 đựng ma túy còn lại sau giám
định; 01 vỏ gói thuốc hiệu Melia; 01 bóp da màu nâu-đen; 01 kéo kim loại dài
khoảng 17cm là công cụ phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.
-Tờ tiền 500 đồng; 01 điện thoại hiệu Z1 màu trắng-xanh-đen của bị cáo
Tuấn A sử dụng vào việc phạm tội số tiền 1.700.000đồng tiền thu lợi bất
chính cần tịch thu sung qu nhà nước.
-01 điện thoại di động hiệu Masstel màu xanh đen của bị cáo H không liên
quan đến vụ án cần trả lại.
[10] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân n dân thị Đồng Xoài
phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[11.]Về án phí: Các b cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1].Tuyên bố: Lê Tuấn A (C) và Lê Thành H (D) phạm tội Mua bán trái
phép chất ma túy”.
[2].Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33,
45, 53 của Bộ luật hình sự:
Phạt: Lê Tuấn A (C) 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính
từ ngày 28/8/2017.
[3].Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33, 45, 53
của Bộ luật hình sự:
Phạt: Lê Thành H (D) 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính
từ ngày 28/8/2017.
8
[4]. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 76 BLTTHS, Điều 41 BLHS
-Tịch thu tiêu hủy: 02 thư được niêm phong số 402M1, 402M2 đựng ma
túy còn lại sau giám định; 01 vỏ gói thuốc hiệu Melia; 01 bóp da màu nâu-đen;
01 kéo kim loại dài khoảng 17cm.
-Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Số tiền 1.700.500đồng; 01 điện thoại hiệu Z1
màu trắng-xanh-đen.
-Trả lại cho bị cáo H 01 điện thoại di động hiệu Masstel màu xanh đen.
(Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã ĐX theo
biên bản số 0001546, quyển số 0031 ngày 22/11/2017).
[5].Án phí: Áp dụng Điều 22, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14
ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí tòa án: Mỗi bcáo phải chịu 200.000 đồng (Hai
trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[6].Quyền kháng cáo: Các bị cáo, bà Huỳnh Ngọc H được quyền kháng cáo
bản án trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
-TAND tỉnh Bình Phước; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
-Phòng PV27 Công an tỉnh BP;
-Sở tư pháp tỉnh BP;
-VKSND TX. ĐX;
-CCTHADS TX. ĐX;
-Công an thị xã ĐX;
-Người tham gia tố tụng;
-u HSVA; VP.
Lê Thu Huệ
Tải về
Bản án số 127/2017/HS-ST Bản án số 127/2017/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất