Bản án số 122/2021/HS-ST ngày 23/08/2021 của TAND TP. Sơn La, tỉnh Sơn La về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 122/2021/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 122/2021/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 122/2021/HS-ST ngày 23/08/2021 của TAND TP. Sơn La, tỉnh Sơn La về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Sơn La (TAND tỉnh Sơn La) |
| Số hiệu: | 122/2021/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 23/08/2021 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SƠN LA
TỈNH SƠN LA
Bản án số: 122/2021/HS-ST
Ngày 23/8/2021.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bồ Thị Thái, bà Hoàng Thanh Thúy.
- Thư ký phiên toà: Ông Cầm Việt Hùng, Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham
gia phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Dũng, Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La,
tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 131/2021/TLST-
HS ngày 28/7/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 131/2021/QĐXXST-
HS ngày 09/8/2021 đối với bị cáo:
Đỗ Trung K, sinh ngày 10 tháng 8 năm 1990 tại huyện A, tỉnh Hưng
Yên; nơi đăng ký thường trú: Tổ 3, phường B, thành phố C, tỉnh Sơn La; chỗ ở
hiện nay: Tổ 1, phường S, thành phố C, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự
do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tnh: Nam; tôn giáo:
Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Trung Đ và bà Trần Thị M; bị cáo có
vợ Giang Thị Thu T và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam từ
ngày 08/5/2021 đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 40 phút ngày 08/5/2021, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội
phạm về kinh tế - ma túy Công an thành phố Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực
tổ 1, phường K, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La bắt quả tang Đỗ Trung K có
hành vi cất giữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói giấy bạc
bọc bên ngoài cùng bằng băng dnh nhựa màu đen, bên trong có 04 viên nén
đồng dạng hình tròn, màu hồng (K giao nộp, khai nhận là ma túy hồng phiến của
K cất giữ để sử dụng).
2
Cùng ngày 08/5/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn
La thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật
chứng. Kết quả cân tịnh 04 viên nén đồng dạng màu hồng thu giữ của Đỗ Trung
K có khối lượng 0,39 gam. Lấy 02 viên nén màu hồng khối lượng 0,19 gam làm
mẫu gửi giám định, ký hiệu K.
Tại Kết luận giám định số 954 ngày 10/5/2021, Phòng Kỹ thuật hình sự
Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu K là ma túy; loại
Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,19 gam. Tổng khối
lượng ma túy thu giữ là 0,39 gam; loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra, Đỗ Trung K khai nhận: Khoảng 11 giờ 10 phút ngày
08/5/2021, Đỗ Trung K đi bộ từ nhà ở tổ 1 phường Chiềng Sinh, thành phố Sơn
La đến khu vực bến xe khách thuộc tổ 1, phường K, thành phố Sơn La để tìm
mua ma túy sử dụng. K gặp và mua của một người đàn ông (K không biết họ
tên, địa chỉ) 04 viên nén ma túy màu hồng để trong gói giấy bạc màu trắng bọc
bên ngoài bằng băng dnh màu đen với số tiền 200.000 đồng. K cầm gói ma túy
trong lòng bàn tay trái đi tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác bắt quả tang, thu giữ
vật chứng.
Đối với người bán ma túy cho Đỗ Trung K, ngoài lời khai của K không có
tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ điều tra, xử lý.
Bản cáo trạng số 461/CT-VKSTP ngày 27/7/2021 của Viện kiểm sát nhân
dân thành phố Sơn La truy tố Đỗ Trung K về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ
nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình
sự: Xử phạt Đỗ Trung K từ 14 tháng đến 18 tháng tù về tội tàng trữ trái phép
chất ma tuý. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2
Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì công văn của
Công an thành phố Sơn La đã niêm phong. Mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng
lưu kho vụ Đỗ Trung K, sinh năm 1990 - Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bắt
ngày 08/5/2021. Gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; mảnh
băng dnh nhựa màu đen; mảnh giấy bạc; mẫu lưu K1=0,20 gam”.
3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo phải chịu án
ph hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, nhất tr với
cáo trạng truy tố và đề nghị giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
3
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như
sau:
[1] Về quá trình tiến hành tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ
quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát
nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã
thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng
hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định
tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều
hợp pháp.
[2] Về hành vi và trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Xét lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản
bắt người phạm tội quả tang, sơ đồ vị tr bắt giữ; vật chứng đã thu giữ; biên bản
bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng, lấy mẫu gửi giám định và niêm phong
lại; biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định; kết
luận giám định; lời khai của người chứng kiến. Có đủ căn cứ khẳng định: Ngày
08/5/2021, Đỗ Trung K đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 0,39 gam
Methamphetamine để sử dụng. Hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân
dân thành phố Sơn La truy tố bị cáo về tội danh, điều khoản như trên là có căn
cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo xâm phạm chế độ quản lý chất ma tuý của Nhà nước,
thuộc loại tội phạm nghiêm trọng. Bị cáo nhận thức rõ hành vi vi phạm của mình
nhưng vẫn thực hiện. Cần xử phạt nghiêm khắc nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo
và răn đe, phòng ngừa chung.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối
cải, được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều
51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại
Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[3] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo không có tài sản, thu nhập lao
động tự do không ổn định, xét không áp dụng hình phạt bổ sung.
[4] Về vật chứng của vụ án, căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ
luật Tố tụng hình sự: Đối với phong bì niêm phong bên trong có 01 vỏ phong bì
niêm phong ban đầu đã bóc mở, mảnh băng dnh nhựa màu đen, mảnh giấy bạc,
mẫu lưu K1=0,20 gam, xét là chất ma túy còn lại sau khi giám định và đồ vật
liên quan, vật không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.
[5] Về án ph: Bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
4
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình
sự:
Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Trung K phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Xử phạt Đỗ Trung K 17 (Mười bảy) tháng tù. Thời hạn tù tnh từ ngày
tạm giữ, tạm giam (ngày 08/5/2021).
Không áp dụng hình phạt bổ sung - phạt tiền đối với Đỗ Trung K.
2. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2
Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Công an thành phố Sơn La
đã niêm phong, giấy niêm phong số 039115. Mặt trước phong bì ghi: “Vật
chứng lưu kho vụ Đỗ Trung K, sinh năm 1990 - Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Bắt ngày 08/5/2021. Gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở;
mảnh băng dnh nhựa màu đen; mảnh giấy bạc; mẫu lưu K1 = 0,20 gam”.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/7/2021 giữa Công an thành
phố Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố).
3. Về án ph: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1
Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30
tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Toà án.
Bị cáo Đỗ Trung K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai
trăm nghìn đồng).
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Toà án nhân dân tỉnh Sơn La;
- VKSND tỉnh Sơn La;
- Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;
- VKSND thành phố Sơn La;
- Công an thành phố Sơn La;
- Chi cục THADS thành phố Sơn La;
- Trại giam;
- THAHS;
- Bị cáo;
- Lưu: Hồ sơ, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Bản án số 80/2026/KDTM-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 22/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 16/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Bản án số 16/2026/KDTM-PT ngày 14/02/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 14/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm