Bản án số 122/2020/DS-ST ngày 29/09/2020 của TAND huyện Cờ Đỏ, TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 122/2020/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 122/2020/DS-ST ngày 29/09/2020 của TAND huyện Cờ Đỏ, TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Cờ Đỏ (TAND TP. Cần Thơ)
Số hiệu: 122/2020/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/09/2020
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: chị N dòi nợ ông H
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN CỜ Đ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TP. CẦN THƠ
Bản án số: 122/2020/DS-ST
Ngày 29-9-2020
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Viễn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phan Thanh Hải
Bà Nguyễn Thị Huệ
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Hoài Thương - Thư Tòa án nhân dân
huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ tham
gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành
phố Cần Thơ xét xử thẩm vụ án thụ số 28/2020/TLST-DS ngày 26 tháng 02
năm 2020 về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sảntheo Quyết định đưa ván ra
xét xử thẩm số 183/2020/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 8 năm 2020 giữa các
đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị N, sinh năm 1974. Nơi trú: Ấp TH, TH,
huyện CĐ, thành phố Cần Thơ có mặt”
2. Bị đơn: Ông Phan Văn H sinh năm 1970. Nơi trú: Ấp 5, TP, huyện
CD, thành phố Cần T “vắng mặt”
3. Người làm chứng:
Nguyễn Thị Lý, sinh năm 1970 “có mặt”
Ông Phan Văn A, sinh năm 1969 “có mặt”
Nơi cư trú: Ấp TH, xã TP, huyện CĐ, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện ngày 14/02/2020, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên
đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:
2
Vào năm 2010 có cho ông H vay 20 chỉ vàng 24K, lãi suất thỏa thuận
30.000đồng/chỉ/tháng, mục đích vay đdầu kinh doanh trại cưa, hai bên
lập biên nhận nợ giấy tay ghi ngày 09/02/2010. Quá trình vay, ông H trả tiền lãi
được 14.400.000đồng. Đến năm 2014 ông H trả được 09 chỉ vàng 24K. Từ năm
2015 đến nay, ông H không trả vốn lãi. N nhiều lần đòi ông H số nợ trên
nhưng ông H hứa hẹn nhiều lần mà không thực hiện. Nay khởi kiện yêu cầu ông
H trả cho bà 11 chỉ vàng 24K, không yêu cầu tính lãi.
Bị đơn ông Phan Văn H được triệu tập nhiều lần để tiến hành hòa giải nhưng
vắng mặt nên vụ án không hòa giải được.
Tại phiên tòa:
Bà N yêu cầu ông H trả cho bà 11 chỉ vàng 24K, không yêu cầu tính lãi.
Ông H vắng mặt.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Về tố tụng, việc tuân
theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư phiên tòa việc chấp
hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ ván đến trước khi
Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, qua phân tích đánh giá chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử áp
dụng Điều 471, 474 Bộ luật Dân sự năm 2005, buộc ông H phải trả cho bà N 11 chỉ
vàng 24K.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án đã được xem
xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành
phố Cần Thơ nhận định:
[1] Về tố tụng: Ông Phan Văn H là bị đơn không yêu cầu phản tố, được
Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt, không sự kiện
bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào Điều 227; Điều 228 Bộ luật
Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông H.
[2] Về nội dung: Theo N trình bày năm 2010 cho ông H vay 20 chỉ
vàng 24K, lập giấy biên nhận ngày 09/02/2010 (biên nhận do bà Nguyễn Thị L
viết dùm), lãi suất thỏa thuận 30.000đồng/chỉ/tháng, quá trình vay ông H trả được
tiền lãi 14.400.000đồng 09 chỉ vàng 24K, từ năm 2015 đến nay không trả nữa.
N yêu cầu ông H phải trả cho số vàng còn lại 11 chỉ vàng 24K. Xét thấy,
theo biên nhận nợ nguyên đơn cung cấp ngày 09/02/2010 thể hiện ông H ợn
của N 20 chỉ vàng 24k, không thỏa thuận về lãi suất, không ghi nhận việc trả
vốn trả lãi. Tuy nhiên quá trình tố tụng N thừa nhận ông H trả
14.400.000đồng tiền lãi và 09 chỉ vàng 24K vốn. Ông H được triệu tập hợp lệ nhiều
lần nhưng vắng mặt, không ý kiến về việc khởi kiện của nguyên đơn. Tại
phiên tòa, L ông A xác định vchồng là người trực tiếp chứng việc vay
vàng giữa bà N và ông H, các lần giao nhận vàng đều giao tại nhà vợ chồng bà. Xét
3
thấy, mặc dù biên nhận không phải trực tiếp do ông H viết tên. Tuy nhiên tại
phiên tòa người làm chứng xác định trực tiếp chứng kiến việc giao nhận vàng giữa
N ông H. Quá trình tố tụng nội dung khởi kiện của nguyên đơn, lời khai của
người làm chứng những chứng cứ tòa án thu thập được thông báo, niêm yết
công khai tại nơi trú của ông H nhưng không H không ý kiến phản đối. Do
đó, việc ông H vay nợ nhưng vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên N yêu cầu trả nợ
là có căn cứ theo quy định tại Điều 474 Bộ luật Dân sự năm 2005.
[3] Về án phí: Ông Phan Văn H phải nộp 5% án pdân sự thẩm trên tổng
số nợ ông H phải trcho nguyên đơn được Tòa án chấp nhận theo quy đinh tại
khoản 2 Điều 26 Nghquyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Giá
vàng tại thời điểm xét xử loại vàng 24K giá là 5.400.000đồng/chỉ, án phí được
tính như sau: 11 chỉ x 5.400.000đồng = 59.400.000đồng x 5% là 2.970.000đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35; Điều 39; Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố
tụng dân sự; Điều 471; Điều 474 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 17 Luật Phí lệ
phí; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N về việc đòi nợ theo hợp
đồng vay tài sản đối với ông Phan Văn H.
Buộc ông Phan Văn H phải trả cho bà Nguyễn Thị N 11 chỉ vàng 24K.
2. Về án phí: Ông Phan Văn H phải nộp 2.970.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Nguyễn Thị N được nhận lại 1.100.00đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo
biên lai thu số 013026 ngày 26/02/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện CĐ,
thành phố Cần Thơ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thị hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều
9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai, tuyên án có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.
Nguyên đơn quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày
tuyên án; Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân địa phương nơi trú hoặc được
tống đạt hợp lệ.
4
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG X ÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND TPCT; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Đương sự;
- VKSND huyện CĐ;
- Chi cục THADS huyện CĐ;
- Lưu.
Trần Thị Minh Viễn
Tải về
Bản án số 122/2020/DS-ST Bản án số 122/2020/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất