Bản án số 121/2026/LĐ-PT ngày 08/07/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 121/2026/LĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 121/2026/LĐ-PT ngày 08/07/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 121/2026/LĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 08/07/2026
Lĩnh vực: Lao động
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 121/2026/LĐ-PT Bản án số 121/2026/LĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 121/2026/LĐ-PT Bản án số 121/2026/LĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 121/2026/LĐ-PT
Ngày: 08 - 7 - 2026
V/v đơn phương chấm dứt Hợp
đồng lao động.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Châu Kim Anh
Các Thẩm phán:
Trần Thị Thủy
Phạm Thị Thanh Trúc
Thư phiên tòa: Thị Thu Thủy - Thư Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: ông Trần Hồng Long - Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 7 năm 2026, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh xét xử công khai
vụ án Lao động phúc thẩm thụ số
51/2026/TLPT-LĐ, ngày 06 tháng 4 năm 2026 về việc: “Tranh chấp về đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động”.
Do bản án lao động sơ thẩm số 10/2026/LĐ-ST, ngày 23 tháng 01 năm 2026 của
Tòa án nhân dân nhân dân Khu vực 8, Thành phố Hồ CMinh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3787/2026/QĐ-PT,
ngày 10 tháng 6 năm 2026 của a án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa
các đương sự:
Nguyên đơn: ông Du K, sinh năm 1982.
Quốc tịch: Trung Quốc; số hộ chiếu: ********4, ngày cấp 03/6/2015, nơi
cấp: Trung Quốc. Hiện đang cư trú tại Trung Quốc.
Người đại diện theo ủy quyền có ông Võ Đông H, sinh năm 1972.
(theo Hợp đồng ủy quyền số công chứng: 000734, ngày 06/02/2026 lập tại
Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh).
2
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông Du K ông luật sư
Nguyễn Viết T Công ty Luật TNHH Hãng Luật A & Những Cộng sự.
Cùng địa chỉ với ông Võ Đông H: Căn hộ 010, chung K, Số C Khu Ô,
phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Công ty TNHH W1
Địa chỉ: D, đường D, Khu công nghiệp Đ, B, Thành phố Hồ Chí
Minh).
Người đại diện theo pháp luật: ông Zhou G, sinh năm 1981.
Quốc tịch: Trung Quốc; số hộ chiếu: ********6, ngày cấp 03/11/2015, nơi
cấp: Trung Quốc). Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH W1:
1. ông Chong W, sinh năm 1969.
Quốc tịch: Malaysia; số hộ chiếu: ********2 (ngày cấp: 07/02/2014, nơi
cấp: Trung Quốc). Chức vụ: Giám đốc.
2. bà Lê Thị Hồng N, sinh năm 1999.Chức vụ: Chuyên viên pháp chế.
(theo Giấy ủy quyền ngày 17/12/2024 và Giấy ủy quyền ngày 01/11/2025 lập tại
Công ty TNHH W1).
Người phiên dịch: ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1993. Chức vụ: Nhân
viên phòng hành chính. (theo Giấy giới thiệu về việc cử người phiên dịch tham
gia tố tụng số 0111/2025/GGT-WD ngày 01/11/2025 của Công ty TNHH W1.)
Cùng địa chỉ: D, đường D, Khu công nghiệp Đ, B, Thành phố Hồ
Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bảo hiểm Xã hội cơ sở T1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Số A Tỉnh lộ 8, xã T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đào Anh K1. Chức vụ: Giám đốc.
Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Du K
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Du
K có người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Nguyên đơn nhân viên kỹ thuật của Công ty TNHH W1 (gọi tắt là Công
ty), có ký kết hợp đồng lao động từ ngày 28/7/2023 đến hết ngày 28/7/2025 theo
Giấy phép lao động số 001937/BQL-GP thời gian lao động tương ứng. Ngày
25/4/2024, Công ty Đ thông báo chấm dứt hợp đồng lao động vào ngày
3
26/4/2024 đối với nguyên đơn.
Ngày 26/4/2024, nguyên đơn đến Công ty làm việc như thường lệ nhưng
bảo vệ không cho vào với do Công ty đã chấm dt hợp đồng lao động. Việc
Công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trái pháp
luật làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.
Nay nguyên đơn khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết các yêu cầu sau:
1. Buộc Công ty phải thanh toán cho nguyên đơn tiền lương trong những
ngày không được làm việc từ ngày 26/4/2024 cho đến ngày 28/7/2025 16
tháng x 1.500 USD/tháng = 24.000 USD, trong đó có tiền lương tháng 4/2025 là
1.500 USD. nguyên đơn đã về nước không có nhu cầu trở lại làm việc.
2. Buộc Công ty phải thanh toán tiền thưởng Tết là 01 tháng = 1.500 USD;
3. Buộc Công ty phải thanh toán tiền phép Tết 01 lần/năm = 500 USD;
4. Buộc Công ty phải thanh toán tiền phép năm 12 ngày phép năm x 58
USD/ngày (1.500 USD/26 ngày) = 696 USD;
5. Buộc Công ty phải thanh toán tiền phép thăm gia đình 02 lần/năm, mỗi
lần là 1.430 USD, thành tiền là 1.430 USD/lần x 02 lần = 2.860 USD;
6. Buộc Công ty phải thanh toán lãi suất do chậm thanh toán tiền lương từ
tháng 4/2024 đến khi vụ án được giải quyết xong, lãi suất theo quy định của
Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 (V).
7. Buộc Công ty phải tiếp tục nộp bảo hiểm xã hội cho nguyên đơn từ tháng
5/2024 đến ngày 28/7/2025.
Sau đó nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện như sau:
1. Buộc Công ty phải thanh toán tiền lương trong những ngày không làm
việc từ ngày 26/4/2024 cho đến ngày 28/7/2025 15 tháng (thay vì 16 tháng) x
1.500 USD/tháng = 22.500 USD, lý do tiền lương tháng 4/2025 đã được nhận.
Rút lại các yêu cầu số 2 và 3 như sau:
2. Buộc Công ty phải thanh toán tiền thưởng Tết là 01 tháng = 1.500 USD;
3. Buộc Công ty phải thanh toán tiền phép Tết 01 lần/năm = 500 USD;
Theo bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa, bđơn
Công ty TNHH W1 người đại diện theo ủy quyền là ông Chong W và bà Lê
Thị Hồng N trình bày:
4
Về quy trình chấm dứt hợp đồng lao động với nguyên đơn, Công ty xác định đã
thực hiện đúng theo quy định của pháp luật lao động, cụ thể là hàng tháng, Công
ty căn cứ vào kết quả sát hạch nhân viên do 03 Bộ phận đánh giá gồm Bộ phận
IE, Bộ phận Chất lượng Bộ phận Nhân sự để so sánh với “Giá trị mục tiêu”
“Điểm mục tiêu” của Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc, từ đó
sở tính thưởng hoặc nhắc nhở nhân viên nghiêm túc hoàn thành tốt công
việc được giao. Căn cứ “Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc - Bộ
phận sản xuất”, Phụ lục đính kèm ban hành ngày 01/9/2023 Bảng sát hạch
nhân viên từ tháng 10/2023 đến tháng 4/2024 cho thấy rằng nguyên đơn thường
xuyên không hoàn thành công việc được giao. Cụ thể:
- Tháng 12/2023, tổng số điểm sát hạch 66 điểm, thấp hơn 14 điểm so với
điểm tổng thể tiêu chuẩn (80/100). Đồng thời, điểm trung bình của tiêu chí
“Quản lý chất lượng” là 7.5/35 điểm, tương đương 21%.
- Tháng 01/2024, tổng số điểm sát hạch 61.18 điểm, thấp hơn 18.82 điểm so
với điểm tổng thể tiêu chuẩn (80/100). Đồng thời, điểm trung bình của tiêu chí
“Quản lý chất lượng” là 5/35 điểm, tương đương 14%.
- Tháng 02/2024, tổng sđiểm sát hạch 62.37 điểm, thấp hơn 17.63 điểm so
với điểm tổng thể tiêu chuẩn (80/100). Đồng thời, điểm trung bình của tiêu chí
“Quản lý chất lượng” là 4/35 điểm, tương đương 11%.
Căn cứ mục II.2 II.3 Phụ lục đính kèm “Quy chế đánh giá mức độ hoàn
thành công việc - Bộ phận Sản xuất”, trong 03 tháng liên tiếp gần nhất, ông Du
K đều bị xác định “Không hoàn thành công việc” do thuộc trường hợp 1
(Điểm tổng thể dưới 80/100 điểm) trường hợp 3 (Điểm số của một trong các
nhóm tiêu chí (Nhóm 1, 2, 3 hoặc 4) dưới 70% số điểm tối đa của nhóm đó, bất
kể điểm tổng thể bao nhiêu). Do đó, căn cứ mục II.3 Của Phụ lục đính kèm
Quy chế này, ông Du K được xác định “Thường xuyên không hoàn thành
công việc” thuộc tình huống 1 (có ít nhất 03 (ba) tháng liên tiếp bị đánh giá
mức “Không hoàn thành” (dưới 80 điểm)). Quy chế đánh giá mức độ hoàn
thành công việc Phụ lục đính kèm do Công ty B tham khảo ý kiến của
Công đoàn cơ sở theo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.
Nhận thấy hiệu suất công việc của ông Du K không được đảm bảo, lặp đi lặp lại
không dấu hiệu cải thiện. Đồng thời, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 36 của
Bộ luật Lao động năm 2019, Công ty có quyền đơn phương chấm dứt Hợp đồng
lao động trong trường hợp: “Người lao động thường xuyên không hoàn thành
công việc theo hợp đồng lao động được xác định theo tiêu chí đánh giá mức độ
hoàn thành công việc trong quy chế của người sử dụng lao động. Quy chế đánh
5
giá mức độ hoàn thành công việc do người sử dụng lao động ban hành nhưng
phải tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại sở đối với nơi
tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở.
Ngày 11/3/2024, Ban Lãnh đạo Công ty W1 đã tổ chức họp riêng với ông
Du K để trao đổi về vấn đề này theo Thông báo mời họp số 1003/2024/TB-WD,
ban hành ngày 10/3/2024. Trong buổi họp, Công ty W1 đưa ra bản thảo
Thông báo chấm dứt hợp đồng lao động với ông Du K nhưng thông báo này
không được Tổng Giám đốc Công ty W1 ký duyệt nội dung không đúng
với tình trạng quan hệ lao động thực tế giữa ông Du K với Công ty W1. vậy,
ngay trong buổi họp Ban Lãnh đạo Công ty W1 đã thu hồi Thông báo này
ban hành thay thế bằng Thông báo số QP029-01/16002817/TBCDHĐ-WD về
việc chấm dứt Hợp đồng lao động số QP025-03/16002817/HĐLĐ-WD với ông
Du K kể tngày 26/4/2024. Trong buổi họp này, Công ty W1 đã chính thức
chuyển giao Thông báo số QP029-01/16002817/TBCDHĐ-WD về việc chấm
dứt Hợp đồng lao động cho ông Du K. Tuy nhiên, ông Du K đã không đồng ý
nhận văn bản này và cũng từ chối ký xác nhận việc đã được thông báo.
Đến ngày 26/4/2024, Công ty W1 ban hành Quyết định số
16002817/QĐNV-WD chấm dứt Hợp đồng lao động với ông Du K như đã thông
báo trước đó đưa Quyết định này cho ông Du K cổng bảo vệ. Tuy nhiên,
ông Du K liên tục yêu cầu được vào làm việc và không đồng ý nhận Quyết định
chấm dứt hợp đồng lao động. Đến ngày 12/5/2024, Công ty W1 đã chi trả tiền
lương tháng 4/2024 cho ông Du K qua tài khoản Ngân hàng, tổng lương là 1.824
USD theo bảng kê lương chi tiết.
Công ty W1 khẳng định đã đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động số
QP025-03/16002817/HĐLĐ-WD ngày 28/7/2023 đúng căn cứ pháp luật quy
định tại điểm a khoản 1 Điều 36 của Bộ luật Lao động năm 2019 và tuân thủ quy
định về thời hạn báo trước ít nhất 30 ngày đối với Hợp đồng lao động xác
định thời hạn theo điểm b khoản 1 Điều 36 của Bộ luật Lao động năm 2019.
“Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc” do Công ty W1 ban hành
tham khảo ý kiến của Công đoàn sở đúng trình tự, thủ tục theo quy định của
pháp luật. Đồng thời tại thời điểm chấm dứt Hợp đồng lao động, ông Du K
không phải đối tượng thuộc trường hợp người sử dụng lao động không được
thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại
Điều 37 của Bộ luật Lao động 2019. không đơn phương chấm dứt Hợp đồng
lao động trái pháp luật nên Công ty W1 không đồng ý toàn bộ yêu cầu bồi
thường nguyên đơn đã đưa ra từ khi khởi kiện cho đến thời điểm hiện tại.
6
Công ty W1 chỉ chấp nhận thanh toán tiền thăm thân nhân 02 lần cho ông Du K
với số tiền là 1.430 USD.
Trong trường hợp Tòa án căn cứ xác định Công ty W1 có vi phạm trong
quá trình đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động với nguyên đơn, Công ty
W1 một số ý kiến về yêu cầu bồi thường của nguyên đơn như sau: Căn cứ
Điều 41 của Bộ luật Lao động năm 2019, tiền lương làm căn cứ tính bồi thường
khi người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động “tiền
lương theo hợp đồng lao động”, theo Điều 90 của Bộ luật Lao động năm 2019
quy định “Tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ
cấp lương các khoản b sung khác”. Tại Hợp đồng lao động số QP025-
03/16002817/HĐLĐ-WD, ngày 28/7/2023 Quy chế tiền lương chuyên gia
nước ngoài ngày 28/2/2024, tiền lương của ông Du K gồm có: Lương bản:
300 USD/tháng, đến ngày 01/3/2024 tăng lên thành 350 USD/tháng. Các chế độ
phúc lợi khác ghi thành mục riêng trong Hợp đồng lao động, được tính dựa
trên số ngày làm việc thực tế trong tháng; tình hình sản xuất, kinh doanh của
Công tyWorldon mức độ hoàn thành công việc của người lao động, gồm:
Thưởng chuyên cần; thưởng đánh giá KPI; phụ cấp thâm niên: 07 USD; phụ cấp
giao thông: 25 USD; phụ cấp môi trường: 05 USD; phụ cấp trách nhiệm: 40
USD; trợ cấp tăng ca. Như vậy, tiền lương làm căn cứ nh bồi thường trong
trường hợp này 402 USD/tháng, gồm lương bản 350 USD/tháng các
khoản phụ cấp lương 52 USD/tháng (phụ cấp môi trường 05 USD, phụ cấp trách
nhiệm 40 USD và phụ cấp thâm niên 07 USD).
Theo Văn bản số 684/BHXH-QLT, ngày 29/11/2025 người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan là Bảo hiểm Xã hội cơ sở T1 trình bày:
Căn cứ số BHXH 7937687971 mang tên ông Du K, sinh ngày
21/7/1982, quá trình tham gia Bảo hiểm hội từ tháng 12/2018 - đến tháng
4/2024 tại Công ty TNHH W1, đơn vị IC0096Q, địa chỉ: D, đường D,
KCN Đ, nay là xã B, Thành phố Hồ Chí Minh do BHXH cơ sở T1 quản lý.
Ngày 27/4/2024, Công ty TNHH W1 lập hồ điện tử số
19827/2024/07920 (ghi chú GH; 16002817/QĐNV-WD, ngày QĐ/HĐ:
25/4/2024) gửi Bảo hiểm hội sở T1 báo giảm tham gia Bảo hiểm hội
cho ông Du K. Từ tháng 5/2024-07/2025 không có thông tin ông Du K tham gia
BHXH tiếp tục.
Bảo hiểm hội sở T1 đề nghị Tòa án căn cứ quy định của pháp luật để
giải quyết vụ án theo quy định.
7
Tại bản án sơ thẩm số 10/2026/LĐ-ST, ngày 23 tháng 01 năm 2026 Tòa án
nhân dân nhân dân Khu vực 8, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
- Căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 32, Điểm c Khoản 1 Điều 35, Điểm a
Khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 271, Điều 273 280
của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào các Điều 13, Điều 14, Điều 20, Điều 21, Điều 34, Điều 36,
Điều 39 và 41 của Bộ luật Lao động năm 2019;
- Căn cứ vào Điều 357, Điều 468, Điều 584 ca B lut Dân s năm 2015;
- Căn cứ vào điểm a Khoản 1 Điều 2, Khoản 1, Khoản 2 Điều 21, Điều 85
và Điều 86 của ;
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 12, Điểm a Khoản 1 Điều 13 của Luật Bảo
hiểm y tế năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014;
- Căn cứ vào Nghị định số 58/2020/NĐ-CP, ngày 27/5/2020 của Chính phủ
quy định vmức đóng bảo hiểm hội bắt buộc vào quỹ bảo hiểm tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp;
- Căn cứ vào Quyết định số 595/QĐ-BHXH, ngày 14/4/2017 của B1 ban
hành quy trình thu BHXH, BHYT, BHTN, bảo hiểm tai nạn lao động-bệnh nghề
nghiệp, quản lý sổ BHXH, thẻ BHYT;
- Căn cứ vào Khoản 3 Điều 8 của Nghị định 145/2020 ngày 14/12/2020 của
Chính phủ quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao
động về điều kiện lao động và quan hệ lao động;
- Căn cứ vào Điều 6, Điều 7, Điều 26, Điều 30, Điều 31 Điều 32 của
Luật Thi hành án Dân sự năm 2008;
- Căn cứ vào điểm a Khoản 1 Điều 12, Khoản 2 Điều 26 của , ngày 30
tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Du K:
1.1 Buộc Công ty TNHH W1 thanh toán cho ông Du K tiền lương theo
Hợp đồng lao động số QP025-03/16002817/HĐLĐ-WD ngày 28/7/2023 tính từ
26/4/2024 đến ngày 28/7/2025 15 tháng với mức lương 402 USD/tháng x 15
tháng = 6.030 USD, quy đổi thành tiền Việt Nam đồng (VNĐ) 6.030 USD x
26.051 VNĐ/USD = 157.087.530 (Một trăm năm mươi bảy triệu, không trăm
tám mươi bảy nghìn, năm trăm ba mươi) đồng.
8
1.2 Buộc Công ty TNHH W1 thanh toán cho ông Du K tiền phép năm là 12
ngày x 402 USD/26 ngày = 185,5 USD, quy đổi thành tiền Việt Nam đồng
(VNĐ) 185,5 USD x 26.051 VNĐ/USD = 4.832.461 (Bốn triệu, tám trăm ba
mươi hai nghìn, bốn trăm sáu mươi mốt) đồng).
1.3 Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty TNHH W1 đồng ý thanh toán cho
ông Du K tiền phép thăm gia đình 02 lần 1.430 USD, quy đổi thành tiền
Việt Nam đồng (VNĐ) 1.430 USD x 26.051 VNĐ/USD = 37.252.930 (Ba
mươi bảy triệu, hai trăm năm mươi hai nghìn, chín trăm ba mươi) đồng.
1.4 Buộc Công ty TNHH W1 ông Du K tiếp tục đóng bảo hiểm hội
cho ông Du K tại quan Bảo hiểm hội thẩm quyền từ ngày 26/4/2024
đến ngày 28/7/2025 theo quy định pháp luật, mức lương làm sở đóng bảo
hiểm xã hội là 402 USD/tháng.
Tổng cộng số tiền Công ty TNHH W1 phải thanh toán cho ông Du K tại
các mục [1.1], [1.2], [1.3] là 7.645,5 USD, quy đổi thành tiền Việt Nam đồng
(VNĐ) 7,645,5 USD x 26.051 VNĐ/USD = 199.172.921 (Một trăm chín
mươi chín triệu, một trăm bảy mươi hai nghìn, chín trăm hai mươi mốt) đồng.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án
xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự
năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Du K về việc yêu cầu Công ty TNHH
W1 thanh toán các khoản tiền do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái
pháp luật vượt mức 402 USD (chênh lệch 1.098 USD).
3. Không chấp nhận yêu cầu của ông Du K về việc yêu cầu Công ty TNHH
W1 thanh toán lãi suất do chậm thanh toán tiền lương từ tháng 4/2024 đến ngày
xét xử.
4. Đình chỉ các yêu cầu khởi kiện của ông Du K về việc:
4.1. Buộc Công ty TNHH W1 phải thanh toán cho ông Du K tiền thưởng
Tết 01 tháng lương là 01 tháng x 1.500 USD = 1.500 USD;
4.2. Buộc Công ty TNHH W1 phải thanh toán cho ông Du K tiền phép Tết
là 01 lần x 500 USD/lần = 500 USD.
5. Về án phí lao động sơ thẩm:
9
Ông Du K được miễn nộp án phí lao động sơ thẩm.
Công ty TNHH W1 phải chịu án phí lao động thẩm 5.975.188 (Năm
triệu, chín trăm bảy mươi lăm nghìn, một trăm tám mươi tám) đồng.
Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền kháng cáo.
Ngày 03/02/2026, nguyên đơn có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn kháng cáo một phần bản án thẩm đề nghị Hội đồng xét xử
sửa bản án sơ thẩm đối với tiền lương làm căn cử để bồi thường, các phần còn
lại không yêu cầu kháng cáo. Căn cứ cho yêu cầu kháng cáo Công ty ký Hợp
đồng lao động với mức lương thấp nhằm trốn tránh nghĩa vụ đóng BHXH,
Nguyên đơn không biết việc hợp đồng lao động với mức lương này, thực
chất hai bên thỏa thuận bằng lời nói với mức lương trong Hợp đồng từ 1.400
USD đến 1.600USD. Nhưng không cung cấp thêm chứng cứ nào khác.
Đại diện theo ủy quyền của Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện,
yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, ý kiến cho rằng Hợp đồng lao động nguyên
đơn được ghi song ngữ, trong đó tiếng trung, nên nguyên đơn nêu không
biết là không thỏa đáng. Đề nghị giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Hai bên đương sự không tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến
của Viện kiểm sát về việc tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án
giai đoạn phúc thẩm:
V t tng: Thm phán, Hội đồng xét x thc hiện đúng quy định của Bộ
lut T tụng dân sự, đảm bảo cho các đương sự các quyền nghĩa vụ theo
quy định; gửi các Quyết định, Thông báo cho Viện Kiểm sát cùng cấp, đương sự
đầy đủ, đúng thời hạn. Hội đồng xét xử đúng thành phần, phiên tòa diễn ra theo
đúng trình tự và quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị y án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu c tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên a căn cứ vào trình bày của các đương sự, kết quả tranh luận tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của nguyên đơn được làm trong thời hạn
luật định, phù hợp với quy định tại Điều 271, Điều 272 Điều 273 Bộ luật Tố
10
tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Nguyên đơn không phải
đóng tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định. Do đó, chấp nhận về hình thức,
để được xem xét theo trình tự thủ tục phúc thẩm.
[2] Về xét xử vắng mặt các đương sự: Các đương sự vắng mặt đều
người đại diện theo ủy quyền mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử
vắng mặt các đương sự đã người đại diện theo ủy quyền theo quy định tại
đoạn 4 khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về nội dung: Nguyên đơn kháng cáo một phần bản án thẩm liên
quan đến mức tiền lương làm căn cứ bồi thường. Do đó, Hội đồng xét xphúc
thẩm cần đặt ra căn cứ tiền lương mà nguyên đơn được nhận có tiền lương năng
suất lao động nthỏa thuận trong Hợp đồng hay không làm căn cứ giải quyết
yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
[3.1] Xét Hợp đồng lao động số QP025-03/16002817/HĐ-WD ngày
28/7/2023 Quy chế tiền lương chuyên gia nước ngoài ngày 28/2/2024, tiền
lương của ông Du K gồm có: Lương bản: 300 USD/tháng, đến ngày
01/03/2024 tăng lên thành 350 USD/tháng. Các chế độ phúc lợi khác ghi
thành mục riêng trong Hợp đồng lao động, được tính dựa trên số ngày làm việc
thực tế trong tháng; tình hình sản xuất, kinh doanh của Công tyWorldon mức
độ hoàn thành công việc của người lao động, gồm: Thưởng chuyên cần; thưởng
đánh giá KPI; phụ cấp thâm niên: 07 USD; phụ cấp giao thông: 25 USD; phụ
cấp môi trường: 05 USD; phụ cấp trách nhiệm: 40 USD; trợ cấp tăng ca.
[3.2] Căn cứ trình bày của đại diện nguyên đơn tại phiên tòa phúc thẩm,
thừa nhận mức tiền lương nguyên đơn thực nhận có chênh lệch hàng tháng là do
một phần phụ thuộc vào năng suất của ng ty. Đại diện nguyên đơn nêu
nguyên đơn không biết việc hợp đồng với mức lương thấp hơn nhiều so với
thỏa thuận, nhưng không đưa ra được chứng cứ để chứng minh.
[3.3] Căn cứ Điều 41 của Bộ luật Lao động năm 2019, tiền lương làm căn
cứ tính bồi thường khi người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt Hợp đồng
lao động là “tiền lương theo hợp đồng lao động”, Điều 90 của Bộ luật Lao động
năm 2019 quy định “Tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức
danh, phụ cấp lương các khoản bổ sung khác”. Tòa án cấp thẩm nhận
định định tiền lương làm căn cứ tính bồi thường trong trường hợp này 402
USD/tháng, gồm lương bản 350 USD/tháng các khoản phụ cấp lương 52
USD/tháng (phụ cấp môi trường 05 USD, phụ cấp trách nhiệm 40 USD phụ
cấp thâm niên 07 USD), là có cơ sở để chấp nhận. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
11
[4] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội
đồng xét xử không xem xét.
[5] Án phí phúc thẩm nguyên đơn được miễn theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi,
bổ sung năm 2025);
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp,
quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Giữ nguyên bản án lao động thẩm số 10/2026/LĐ-ST, ngày 23 tháng 01
năm 2026, Tòa án nhân dân nhân dân Khu vực 8, Thành phố Hồ Chí Minh,
không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn. Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Du K:
1.1. Buộc Công ty TNHH W1 thanh toán cho ông Du K tiền lương theo
Hợp đồng lao động số QP025-03/16002817/HĐLĐ-WD ngày 28/7/2023 tính từ
26/4/2024 đến ngày 28/7/2025 15 tháng với mức lương 402 USD/tháng x 15
tháng = 6.030 USD, quy đổi thành tiền Việt Nam đồng (VNĐ) 6.030 USD x
26.051 VNĐ/USD = 157.087.530đ (Một trăm năm mươi bảy triệu không trăm
tám mươi bảy ngàn năm trăm ba mươi đồng).
1.2. Buộc Công ty TNHH W1 thanh toán cho ông Du K tiền phép năm
12 ngày x 402 USD/26 ngày = 185,5 USD, quy đổi thành tiền Việt Nam đồng
(VNĐ) 185,5 USD x 26.051 VNĐ/USD = 4.832.461đ (Bốn triệu tám trăm ba
mươi hai nghìn bốn trăm sáu mươi mốt đồng).
1.3. Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty TNHH W1 đồng ý thanh toán cho
ông Du K tiền phép thăm gia đình 02 lần 1.430 USD, quy đổi thành tiền
Việt Nam đồng (VNĐ) 1.430 USD x 26.051 VNĐ/USD = 37.252.93(Ba
mươi bảy triệu hai trăm năm mươi hai ngàn chín trăm ba mươi đồng).
1.4. Buộc Công ty TNHH W1 và ông Du K tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội
cho ông Du K tại quan Bảo hiểm hội thẩm quyền từ ngày 26/4/2024
đến ngày 28/7/2025 theo quy định pháp luật, mức lương làm sở đóng bảo
hiểm xã hội là 402 USD/tháng.
Tổng cộng số tiền Công ty TNHH W1 phải thanh toán cho ông Du K tại
các mục [1.1], [1.2], [1.3] 7.645,5 USD, quy đổi thành tiền Việt Nam đồng
12
(VNĐ) 7,645,5 USD x 26.051 VNĐ/USD = 199.172.921đ (Một trăm chín
mươi chín triệu một trăm bảy mươi hai ngàn chín trăm hai mươi mốt đồng).
Các mục [1.1], [1.2], [1.3] thi hành tại quan Thi hành án Dân sự
thẩm quyền.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối
với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án
xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự
năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Du K về việc yêu cầu Công ty
TNHH W1 thanh toán các khoản tiền do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động trái pháp luật vượt mức 402 USD (chênh lệch 1.098 USD).
3. Không chấp nhận yêu cầu của ông Du K về việc yêu cầu Công ty
TNHH W1 thanh toán lãi suất do chậm thanh toán tiền lương từ tháng 4/2024
đến ngày xét xử.
4. Đình chỉ các yêu cầu khởi kiện của ông Du K về việc:
4.1. Buộc Công ty TNHH W1 phải thanh toán cho ông Du K tiền thưởng
Tết 01 tháng lương là 01 tháng x 1.500 USD = 1.500 USD;
4.2. Buộc Công ty TNHH W1 phải thanh toán cho ông Du K tiền phép
Tết là 01 lần x 500 USD/lần = 500 USD.
5. Về án phí lao động :
- Ông Du K được miễn nộp án phí lao động;
- ng ty TNHH W1 phải chịu án phí lao động thẩm 5.975.188đ
(Năm triệu chín trăm bảy mươi lăm ngàn một trăm tám mươi tám đồng).
Thi hành tại cơ quanThi hành án Dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân
sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành
án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
13
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- VKSND TP. Hồ Chí Minh;
- THADS TP. Hồ Chí Minh;
- TAND khu vực 8;
- THA DS khu vực 8;
- Đương sự (để thi hành);
- Lưu: VT, HSVA. 20b
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Châu Kim Anh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 121/2026/LĐ-PT Bản án số 121/2026/LĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 121/2026/LĐ-PT Bản án số 121/2026/LĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất