Bản án số 120/2019/DS-PT ngày 01/11/2019 của TAND tỉnh Bắc Giang về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản về quyền sở hữu tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 120/2019/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 120/2019/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 120/2019/DS-PT ngày 01/11/2019 của TAND tỉnh Bắc Giang về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản về quyền sở hữu tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản về quyền sở hữu tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Bắc Giang |
| Số hiệu: | 120/2019/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 01/11/2019 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | tranh chấp về quyền sở hữu tài sản và các quyền khác về tài sản giữ cty TNHH điện tử T - ông C1 |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG
Bản án số: 120/2019/DS-PT
Ngày 01/11/2019
“V/v tranh chấp về quyền sở hữu tài
sản và các quyền khác về tài sản”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Xuân Lộc.
Các thẩm phán: Bà Phạm Thị Minh Hiền và bà Trần Thị Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Bắc Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:
Ông Lương Thất Tùng - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 16/10/2019 và 01/11/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: số 133/2019/TLPT- DS
ngày 13/8/2019 về việc "Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản và các quyền khác về
tài sản".
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 10/2019/DS-ST ngày 02/7/2019 của Toà án
nhân dân huyện V, tỉnh Bắc Giang có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 147/2019/QĐ-PT ngày 12/9/2019,
và quyết định hoãn phiên tòa số: 168/2019/QĐ-PT ngày 27/9/2019 giữa các đương
sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH điện tử T
Địa chỉ: X, xã H, huyện V, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Văn Tr – Chức vụ: Chủ tịch HĐTV
kiêm Giám đốc công ty (có mặt tại phiên tòa)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty TNHH Điện tử T: Ông
Triệu Hạnh Hiển – Luật sư Văn Phòng luật sư Triệu Hiển thuộc Đoàn luật sư tỉnh
Bắc Giang (có mặt tại phiên tòa)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Đăng C1 – SN 1966
Địa chỉ: Số nhà 2A phố Chợ Đôn, đường Thiên Lôi, phường Nghĩa Xá, quận
Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Ngọc Th – SN 1986
Địa chỉ: Y, đường Z, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
(Giấy ủy quyền ngày 29/7/2019) – có mặt tại phiên tòa
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Công ty phát triển hạ tầng Khu công nghiệp tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Q, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
2
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Ngọc C2 – Chức vụ: Chủ tịch
HĐQT Công ty (vắng mặt)
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Đăng C1 - Là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Toà án, nguyên đơn – Công ty Trách
nhiệm hữu hạn Điện tử T (viết tắt: Công ty TNHH Điện tử T) do ông Vũ Văn Tr –
Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Giám đốc Công ty làm đại diện theo pháp luật
trình bày:
Ngày 04/4/2017, Công ty TNHH Điện tử T tham gia và trúng đấu giá tài sản
do Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang giao cho Công ty đấu giá tổ chức bán
đầu giá tài sản của Công ty TNHH A tại thửa đất số C, tờ bản đồ quy hoạch chi tiết
khu công nghiệp, địa chỉ: Khu công nghiệp Đ, xã H, huyện V, tỉnh Bắc Giang.
Công ty TNHH Điện tử T đã trúng đấu giá với số tiền 11.847.819.000 đồng. Sau
khi hoàn tất thủ tục, ngày 28/6/2017, Ban quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Bắc
Giang cấp giấy chứng nhận đầu tư số 2512846764 cho dự án Nhà máy sản xuất
linh kiện điện tử và gia công linh kiện điện tử của Công ty TNHH Điện tử T thực
hiện trên diện tích 9.889m2 đất tại lô C có địa chỉ như trên. Ngày 10/7/2017, Công
ty phát triển hạ tầng Khu công nghiệp Bắc Giang ký hợp đồng số 02/2017/HĐTĐ
cho Công ty TNHH Điện tử T thuê lại 9.889m2 đất theo giấy chứng nhận đăng ký
đầu tư. Ngày 12/10/2018, Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Giang cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 668006 đối với diện tích 9.889m2 đất tại
thửa đất số C, tờ bản đồ quy hoạch chi tiết khu công nghiệp, địa chỉ: Khu công
nghiệp Đ, xã H, huyện V, tỉnh Bắc Giang cho Công ty TNHH Điện tử T. Tuy
nhiên, hiện nay có một số tài sản của ông Nguyễn Đăng C1 nằm trên diện tích
2.185m2 (trong tổng 9.889m2 đất) của Công ty TNHH Điện tử T gồm: phân xưởng
2 của Nhà xưởng 2 (xưởng 3) diện tích 1.800m2, nhà kho (xưởng 4) diện tích
316m2, trạm điện (trạm biến áp) gồm 02 máy, diện tích 69m2. Công ty TNHH
Điện tử T đã nhiều lần đề nghị ông C1 di dời số tài sản trên ra khỏi diện tích đất
của Công ty TNHH Điện tử T nhưng ông C1 không thực hiện. Việc ông C1 không
di chuyển tài sản đi gây thiệt hại cho Công ty TNHH Điện tử T vì không thể sử
dụng phần diện tích 2.185m2 đất do trên đất còn tài sản của ông C1. Nay ông yêu
cầu Tòa án nhân dân huyện V buộc ông Nguyễn Đăng C1 di dời toàn bộ tài sản,
công trình, nhà xưởng, nhà kho, trạm điện thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn
Đăng C1 ra khỏi diện tích 2.185m2 đất Công ty TNHH Điện tử T được nhà nước
cho thuê sản xuất kinh doanh và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngoài ra, Công ty TNHH Điện tử T không yêu cầu ông C1 phải bồi thường gì.
Ông Nguyễn Đăng C1 là bị đơn có lời khai trong hồ sơ trình bày: Trước đây,
ông là cổ đông của Công ty TNHH A. Do điều kiện Công ty khó khăn nên Công ty
có hỏi vay vốn ông. Ông đồng ý cho Công ty TNHH A vay vốn đồng thời Công ty
TNHH A phải thế chấp cho ông tài sản bảo đảm gồm phân xưởng 2 của Nhà
xưởng 2 (xưởng 3) diện tích 1.800m2, nhà kho (xưởng 4) diện tích 316m2, trạm
điện (trạm biến áp) gồm 02 máy, diện tích 69m2 của Công ty TNHH A có địa chỉ
Khu công nghiệp Đ, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Ông xác định số tài sản này hiện
đang thuộc quyền sở hữu của ông. Hiện số tài sản này đang bỏ không, không vận
3
hành gì. Việc Công ty TNHH Điện tử T thuê lại 9.889m2 đất cũng như tham gia
bán đấu giá và được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư của cơ quan có thẩm
quyền như thế nào thì ông không nắm được. Nay Công ty TNHH Điện tử T buộc
ông di dời toàn bộ tài sản, công trình nhà xưởng, nhà kho, trạm điện ra khỏi diện
tích 2.185m2 đất thì ông đề nghị Công ty TNHH Điện tử T đưa ra mức giá hợp lý
để ông xem xét. Ông đề nghị Tòa án mở phiên họp, phiên hòa giải để các bên
thống nhất, thỏa thuận. Vì bận công việc nên ông sẽ ủy quyền cho Luật sư thay mặt
ông tham gia tố tụng vụ án này.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan – Công ty phát triển hạ tầng Khu
công nghiệp tỉnh Bắc Giang do ông Ngô Ngọc C2 – Chủ tịch Hội đồng quản trị
Công ty làm đại diện theo pháp luật có lời khai trình bày trong hồ sơ như sau:
Công ty TNHH Điện tử T tham gia và trúng đấu giá tài sản do Cục thi hành án dân
sự tỉnh Bắc Giang giao cho Công ty đấu giá tổ chức bán đấu giá tài sản của Công
ty TNHH A tại thửa đất số C, tờ bản đồ quy hoạch chi tiết khu công nghiệp, địa
chỉ: Khu công nghiệp Đ, xã H, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Sau khi hoàn tất thủ tục
pháp lý Công ty TNHH Điện tử T được cấp giấy chứng nhận đầu tư cho dự án Nhà
máy sản xuất và gia công linh kiện điện tử, được thực hiện trên diện tích 9.889m2
tại thửa đất số C có địa chỉ như trên. Theo thẩm quyền, ngày 10/7/2017, Công ty
phát triển hạ tầng Khu công nghiệp tỉnh Bắc Giang ký hợp đồng số
02/2017/HĐTD cho Công ty TNHH Điện tử T thuê lại 9.889m2 đất theo giấy
chứng nhận đầu tư. Trước khi thực hiện việc chuyển giao quyền sở hữu, Công ty
phát triển hạ tầng Khu công nghiệp tỉnh Bắc Giang đã có công văn yêu cầu Công
ty TNHH A xử lý tài sản trên đất. Tuy nhiên, hiện nay số tài sản trên diện tích đất
2.185m2 ông được biết là thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Đăng C1 (bị đơn
trong vụ án). Công ty phát triển hạ tầng Khu công nghiệp tỉnh Bắc Giang cũng có
văn bản đề nghị ông C1 di dời số tài sản trên nhưng ông C1 không thực hiện. Nay
Công ty TNHH Điện tử T khởi kiện buộc ông C1 di dời tài sản trên đất thì đề nghị
Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật.
Với nội dung nêu trên, bản án dân sự sơ thẩm số: 10/2019/DS-ST ngày
02/7/2019 của Toà án nhân dân huyện V đã quyết định: Áp dụng: khoản 2 Điều 26,
Điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 177, khoản 2
Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 158,159,
163, 164, 169, 189, 190, 191 Bộ luật dân sự 2015;
Khoản 7 Điều 166 Luật đất đai 2013;
Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Điện tử T, buộc ông
Nguyễn Đăng C1 phải di dời các tài sản của ông Nguyễn Đăng C1 nằm trên diện
tích 2.185m2 đất của Công ty TNHH Điện tử T có địa chỉ tại Lô C - khu công
nghiệp Đ, xã H, huyện V, tỉnh Bắc Giang gồm:
- Phân xưởng 2 của Nhà xưởng 2 (xưởng 3) diện tích 1.800m2 tính từ bức
tường của phân xưởng 1 nhà xưởng 2 (xưởng 2) ra 3,5m có đặc điểm: xây tường
gạch, mái lợp tôn chống nóng, dựng khung sắt, cửa sổ bằng nhôm kính, gác xép
4
khung thép. Trong phân xưởng có, nhà kho (xưởng 4) diện tích 316m2, trạm điện
(trạm biến áp) gồm 02 máy, diện tích 69m2). Trong phân xưởng có 14 cửa nhôm
kính, 05 camera,48 bóng đèn tuýp, 04 quạt thông gió.
- Nhà kho (xưởng 4) diện tích 316m2 kết cấu tường gạch, mái lợp tôn bao
quanh, tường bao che 110cm diện tích 150,4m2
- Trạm biến áp: diện tích 69m2 gồm: 02 máy (01 máy MBI công suất
750KVA, 01 máy MIBA công suất 320KVA) có 03 cột ly tâm cao thế (12m), 02
bộ cầu dao chém Ngng, 02 bộ FCO, 02 bộ chống sét Vam thuộc 22KV.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền yêu cầu thi hành
án, lãi suất chậm thi hành án và quyền kháng cáo cho các bên đương sự.
Ngày 20/7/2019, ông Nguyễn Đăng C1 là bị đơn nhận được bản án sơ thẩm,
ngày 31/7/2019 ông C1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp
phúc thẩm xử hủy bản án này để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, ông
Th là người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Đăng C1 là bị đơn kháng cáo
không rút kháng cáo. Các đương sự không thoả thuận được với nhau về giải quyết
vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu ý kiến: Việc tuân
theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm
của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố
tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án
chấp hành đúng quy định của pháp luật. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử áp
dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS, để không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn
Đăng C1, giữ nguyên bản án sơ thẩm; ông C1 phải chịu án phí theo quy định của
pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
tại phiên tòa, ý kiến tranh luận tại phiên toà. Sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại
diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang. Hội đồng xét xử nhận định:
Xét kháng cáo của ông Nguyễn Đăng C1, Hội đồng xét xử thấy:
[1] Trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, ngày 05/9/2019 TAND tỉnh
Bắc Giang có nhận được đơn đề nghị của ông Nguyễn Đăng C1 trình bày: Liên
quan đến khối tài sản gồm: 02 trạm biến áp (750 + 320KVA-22/0,4KV) và nhà
xưởng số 3, nhà xưởng số 4 tại nhà máy công ty TNHH A- địa chỉ: Khu công
nghiệp Đ, huyện V, tỉnh Bắc Giang theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của
các đương sự số: 08/2017/QĐST-DSTC của TAND huyện V, tỉnh Bắc Giang ngày
21/8/2017. Trong giai đoạn sơ thẩm, do không hiểu biết pháp luật (tôi thấy chưa ký
hợp đồng mua bán công chứng, chưa làm các thủ tục đăng ký với Nhà nước thì tài
sản vẫn là của tôi) nên ông có lời khai với TAND huyện V là số tài sản này hiện
đang thuộc quản lý của ông. Đến nay ông được Luật sư của mình giải thích nên
thấy rằng lời khai trong giai đoạn sơ thẩm là không đúng sự thật và xin khai lại với
TAND tỉnh Bắc Giang như sau:
5
[2] Sau khi nhận bàn giao từ Công ty TNHH A thì ông đã chuyển nhượng
toàn bộ khối tài sản này cho ông Lê Tiến H (sinh năm 1977, CMND số:
012238202 do Công an thành phố Hà Nội cấp ngày 02/5/2012, Hộ khẩu: Tổ B, M,
quận C, thành phố Hà Nội) theo hợp đồng mua bán tài sản gắn liền với đất ngày
09/10/2017 và Hợp đồng ủy quyền công chứng: 5335.2017/HĐUQ; Quyển số:
23/TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng Công chứng Gia Khánh, thành phố Hà Nội
ngày 11/10/2017. Việc mua bán đã thực hiện xong, ông đã nhận đủ tiền chuyển
nhượng và đã bàn giao toàn bộ khối tài sản trên cho ông H. Ông không còn liên
quan gì đến khối tài sản này kể từ ngày11/10/2017.
[3] Ông Nguyễn Đăng C1 đề nghị đưa ông Lê Tiến H vào tham gia tố tụng
với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Ông đề nghị được vắng
mặt trong toàn bộ giai đoạn phúc thẩm. Ngoài ra, ông đã ủy quyền cho ông Lê
Ngọc Th tham gia tố tụng.
[4] Kèm theo đơn đề nghị của ông Nguyễn Đăng C1 là Hợp đồng mua bán
tài sản gắn liền với đất ngày 09/10/2017; Hợp đồng ủy quyền công chứng:
5335.2017/HĐUQ; quyển số: 23/TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng
Gia Khánh, thành phố Hà Nội ngày 11/10/2017; Biên bản bản giao tài sản ngày
11/10/2017.
[5] Ngày 16/9/2019 ông Lê Ngọc Th là người đại diện theo ủy quyền của
ông Nguyễn Đăng C1 đề nghị đưa ông Lê Tiến H, bà Chu Thị Thanh Ng vào tham
gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
[6] Ngày 02/10/2019 ông Lê Tiến H có đơn đề nghị xem xét quyền sở hữu
tài sản là đối tượng của vụ án: Đề nghị TAND tỉnh Bắc Giang nhận định rõ việc
ông là chủ sở hữu của khối tài sản gồm: 02 trạm biến áp (750 + 320KVA-
22/0,4KV) và nhà xưởng số 3, nhà xưởng số 4 tại nhà máy công ty TNHH A- địa
chỉ: Khu công nghiệp Đ, huyện V, tỉnh Bắc Giang mà không liên quan đến ông
Nguyễn Đăng C1
[6.1] Công ty TNHH điện tử T khởi kiện ông Nguyễn Đăng C1 là không
đúng người bị kiện
[6.2] Đề nghị xác định lại tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong
vụ án và hướng dẫn Công ty TNHH điện tử T khởi kiện lại cho đúng người khởi
kiện.
[6.3] Đề nghị hủy bản án sơ thẩm số: 10/2019/DS-ST ngày 02/7/2019 của
TAND huyện V trả hồ sơ để giải quyết lại vụ án từ đầu để ông có điều kiện tham
gia, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình
[7] Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng mua bán tài sản gắn liền với đất
ngày 09/10/2017 giữa ông Nguyễn Đăng C1 và ông Lê Tiến H gồm tài sản: 02
trạm biến áp (750 + 320KVA-22/0,4KV) và nhà xưởng số 3, nhà xưởng số 4 tại
nhà máy công ty TNHH A- địa chỉ: Khu công nghiệp Đ, huyện V, tỉnh Bắc Giang
không được công chứng, chứng thực theo quy định tại khoản 3 Điều 167 Luật đất
đai và thuộc trường hợp không đủ điều kiện mua bán theo quy định tại Điều 189
Luật đất đai. Do đó, không có giá trị pháp lý để làm phát sinh quyền và nghĩa vụ
của các bên kể từ thời điểm xác lập. Theo Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc
Giang cho biết là các công trình xây dựng gắn liền với đất tại lô C thuộc Khu công
6
nghiệp Đ của ông Nguyễn Đăng C1 chưa thực hiện đăng ký và cấp quyền sở hữu
tài sản gắn liền với đất theo quy định tại Điều 95 Luật đất đai năm 2013
[8] Tại Tòa án cấp sơ thẩm, không có đương sự nào trình bày về việc ông
Nguyễn Đăng C1 đã chuyển nhượng khối tài sản nêu trên của ông C1. Mặt khác
ông C1 vẫn khai và thừa nhận là tài sản của mình. Nên Công ty TNHH điện tử T
khởi kiện đối với ông Nguyễn Đăng C1 yêu cầu di dời tài sản trên đất là có căn cứ,
xác định đúng người bị kiện trong vụ án.
[9] Tại Tòa án cấp phúc thẩm, ông Lê Ngọc Th là người đại diện theo ủy
quyền của ông Nguyễn Đăng C1 và ông Lê Tiến H là người mua tài sản của ông
C1 đề nghị được tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ
liên quan ở cấp phúc thẩm. Hội đồng xét xử xét thấy, việc mua bán tài sản giữa
ông C1 và ông H như đã phân tích ở trên không đủ điều kiện mua bán, không đúng
quy định của pháp luật, nên không có cơ sở xác định ông H là chủ sở hữu khối tài
sản đứng tên ông C1 theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
số: 08/2017/QĐST-DSTC của TAND huyện V, tỉnh Bắc Giang ngày 21/8/2017. Vì
vậy, không có căn cứ để đưa ông H vào tham gia tố tụng với tư cách là người có
quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án tại giai đoạn phúc thẩm.
[10] Theo hợp đồng ủy quyền công chứng: 5335.2017/HĐUQ; quyển số:
23/TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng Gia Khánh, thành phố Hà Nội
ngày 11/10/2017 giữa ông Nguyễn Đăng C1 và bà Chu Thị Thanh Ng thì bà Ng
được thay mặt ông C1 liên hệ với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ
tục thi hành án đối với “quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự”
theo quy định hiện hành; được lập và ký các hợp đồng, giao dịch để bán, chuyển
nhượng các tài sản nêu trên phù hợp với quy định của pháp luật . . . Hội đồng xét
xử xác định quyền sở hữu đối với tài sản nêu trên là của ông C1, nên bà Ng thực
hiện công việc ủy quyền của ông C1 theo pháp luật, bà Ng không phải là người có
quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
[11] Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định về thủ tục
tố tụng đối với vụ án, thu thập chứng cứ và chứng minh theo đúng quy định tại Bộ
luật tố tụng dân sự, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự. Nên
không có căn cứ để hủy bản án sơ thẩm theo như kháng cáo của bị đơn. Về nội
dung: Công ty TNHH điện tử T tham gia và trúng đấu giá tài sản do Cục Thi hành
án dân sự tỉnh Bắc Giang giao cho Công ty tổ chức bán đấu giá tài sản của Công ty
TNHH A tại thửa đất C tờ bản đồ quy hoạch chi tiết khu công nghiệp, địa chỉ: Khu
Công nghiệp Đ, xã H, huyện V, tỉnh Bắc Giang diện tích 9.889m2. Ngày
28/6/2017, Công ty TNHH điện tử T được Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh
Bắc Giang cấp giấy chứng nhận đầu tư số 2512846764 cho dự án Nhà máy sản
xuất linh kiện điện tử và gia công linh kiện điện tử thực hiện trên diện tích đất
9.889m2. Đến ngày 10/7/2017 Công ty phát triển hạ tầng khu công nghiệp tỉnh Bắc
Giang ký hợp đồng số 02/2017/HĐTĐ cho Công ty TNHH điện tử T thuê lại
9.889m2 đất theo giấy chứng nhận đầu tư. Ngày 12/10/2018, Sở Tài nguyên và
Môi trường tỉnh Bắc Giang cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 668006
đối với diện tích 9.889m2 đất cho Công ty TNHH điện tử T. Tại quyết định công
nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 08 ngày 21/8/2017 của TAND huyện V đã
7
công nhận ông Nguyễn Đăng C1 và Công ty TNHH A thỏa thuận ông C1 có quyền
sở hữu, quản lý, sử dụng toàn bộ tài sản thế chấp gồm 02 trạm biến áp (750-
320KVA-22/O.4KV) và nhà xưởng số 3, nhà xưởng số 4 của Công ty TNHH A có
địa chỉ Khu công nghiệp Đ, huyện V, tỉnh Bắc Giang trên diện tích đất 9.889m2
của Công ty TNHH điện tử T đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
(ông C1 không có quyền sử dụng đất). Để đảm bảo quyền lợi của tổ chức sử dụng
đất, Công ty TNHH điện tử T đã khởi kiện buộc ông C1 di dời toàn bộ số tài sản
nêu trên trên diện tích đất của Công ty TNHH điện tử T là có căn cứ. Do vậy,
không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Đăng C1, giữ nguyên bản án sơ thẩm
theo quy định tại khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[12] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của ông Nguyễn Đăng C1 không
được chấp nhận, nên phải chịu án phí theo quy định tại khoản 1 Điều 148 của Bộ
luật tố tụng dân sự
[13] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị, hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Không chấp
nhận kháng cáo của ông Nguyễn Đăng C1, giữ nguyên bản án sơ thẩm
Áp dụng: khoản 2 Điều 26, Điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều
144, Điều 147, khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 158,159, 163,
164, 169, 189, 190, 191 Bộ luật dân sự ;
Khoản 7 Điều 166, khoản 3 Điều 167 và Điều 189 Luật đất đai;
Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Điện tử T, buộc ông
Nguyễn Đăng C1 phải di dời các tài sản của ông Nguyễn Đăng C1 nằm trên diện
tích 2.185m2 đất của Công ty TNHH Điện tử T có địa chỉ tại Lô C - khu công
nghiệp Đ, xã H, huyện V, tỉnh Bắc Giang gồm:
- Phân xưởng 2 của Nhà xưởng 2 (xưởng 3) diện tích 1.800m2 tính từ bức
tường của phân xưởng 1 nhà xưởng 2 (xưởng 2) ra 3,5m có đặc điểm: xây tường
gạch, mái lợp tôn chống nóng, dựng khung sắt, cửa sổ bằng nhôm kính, gác xép
khung thép. Trong phân xưởng có, nhà kho (xưởng 4) diện tích 316m2, trạm điện
(trạm biến áp) gồm 02 máy, diện tích 69m2). Trong phân xưởng có 14 cửa nhôm
kính, 05 camera,48 bóng đèn tuýp, 04 quạt thông gió.
- Nhà kho (xưởng 4) diện tích 316m2 kết cấu tường gạch, mái lợp tôn bao
quanh, tường bao che 110cm diện tích 150,4m2
- Trạm biến áp: diện tích 69m2 gồm: 02 máy (01 máy MBI công suất
750KVA, 01 máy MIBA công suất 320KVA) có 03 cột ly tâm cao thế (12m), 02
bộ cầu dao chém Ngng, 02 bộ FCO, 02 bộ chống sét Vam thuộc 22KV.
2. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Đăng C1 phải hoàn trả cho Công ty
TNHH điện tử T số tiền 3.000.000đ chi phí thẩm định định giá tài sản.

8
3. Về án phí: Ông Nguyễn Đăng C1 phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ
thẩm. Trả lại Công ty TNHH điện tử T 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên
lai số AA/2012/05226 ngày 20/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V.
Về án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Đăng C1 phải chịu 300.000đ, nhưng
được trừ vào số tiền 300.000đ đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai số
AA/2012/05531 ngày 31/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V; xác
nhận ông C1 đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong
tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi
của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468
Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi gửi:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
-VKSND tỉnh Bắc Giang;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
-Toà án nhân dân huyện V;
Đã ký
-Chi cục THADS huyện V;
-Các đương sự;
-Lưu HS; VP.
Lương Xuân Lộc
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng