Bản án số 120/2019/DS-PT ngày 01/11/2019 của TAND tỉnh Bắc Giang về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản về quyền sở hữu tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 120/2019/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 120/2019/DS-PT ngày 01/11/2019 của TAND tỉnh Bắc Giang về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản về quyền sở hữu tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản về quyền sở hữu tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bắc Giang
Số hiệu: 120/2019/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 01/11/2019
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: tranh chấp về quyền sở hữu tài sản và các quyền khác về tài sản giữ cty TNHH điện tử T - ông C1
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG
Bản án số: 120/2019/DS-PT
Ngày 01/11/2019
“V/v tranh chấp về quyền sở hữu tài
sản và các quyền khác về tài sản”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Xuân Lộc.
Các thẩm phán: Bà Phạm Thị Minh Hiền và bà Trần Thị Hà
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Thanh Hoa - Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Bắc Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:
Ông Lương Thất Tùng - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 16/10/2019 01/11/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: số 133/2019/TLPT- DS
ngày 13/8/2019 về việc "Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản và các quyền khác về
tài sản".
Do bản án dân sự thẩm số: 10/2019/DS-ST ngày 02/7/2019 của Toà án
nhân dân huyện V, tỉnh Bắc Giang có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 147/2019/QĐ-PT ngày 12/9/2019,
và quyết định hoãn phiên tòa số: 168/2019/QĐ-PT ngày 27/9/2019 giữa các đương
sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH đin t T
Địa ch: X, xã H, huyn V, tnh Bc Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Văn Tr Chc v: Ch tch HĐTV
kiêm Giám đốc công ty (có mặt tại phiên tòa)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty TNHH Điện tử T: Ông
Triệu Hạnh Hiển Luật Văn Phòng luật Triệu Hiển thuộc Đoàn luật tỉnh
Bắc Giang (có mặt tại phiên tòa)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Đăng C1 SN 1966
Địa ch: S nhà 2A ph Ch Đôn, đường Thiên Lôi, phường Nghĩa Xá, quận
Lê Chân, thành ph Hải Phòng.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Ngọc Th SN 1986
Địa ch: Y, đường Z, phường L, qun Đ, thành ph Hà Ni.
(Giấy ủy quyền ngày 29/7/2019) – có mặt tại phiên tòa
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Công ty phát trin h tầng Khu công nghiệp tnh Bc Giang.
Địa ch: Q, xã S, thành phố B, tnh Bc Giang.
2
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Ngọc C2 Chc v: Ch tch
HĐQT Công ty (vắng mặt)
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Đăng C1 - Là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khi kin và các lời khai ti Toà án, nguyên đơn Công ty Trách
nhim hu hn Đin t T (viết tắt: Công ty TNHH Đin t T) do ông Vũ Văn Tr
Ch tch Hi đồng thành viên kiêm Giám đốc Công ty làm đại diện theo pháp luật
trình bày:
Ngày 04/4/2017, Công ty TNHH Đin t T tham gia và trúng đấu giá i sn
do Cc thi hành án dân sự tnh Bắc Giang giao cho Công ty đấu gtổ chức bán
đầu giá tài sn của Công ty TNHH A ti tha đất s C, t bn đồ quy hoch chi tiết
khu công nghiệp, địa chỉ: Khu công nghiệp Đ, H, huyn V, tnh Bc Giang.
Công ty TNHH Đin t T đã trúng đấu giá với s tin 11.847.819.000 đồng. Sau
khi hoàn tt th tc, ngày 28/6/2017, Ban quản lý các Khu công nghip tnh Bc
Giang cp giy chng nhn đầu tư s 2512846764 cho d án Nhà máy sản xut
linh kin đin t và gia công linh kiện đin t của Công ty TNHH Đin t T thc
hiện trên diện tích 9.889m2 đất tại C địa ch như trên. Ngày 10/7/2017, Công
ty phát triển h tầng Khu công nghiệp Bắc Giang hợp đồng s 02/2017/HĐTĐ
cho Công ty TNHH Đin t T thuê lại 9.889m2 đất theo giy chng nhn đăng
đầu tư. Ngày 12/10/2018, S Tài Nguyên Môi trường tnh Bc Giang cp Giy
chng nhn quyn s dng đất s CM 668006 đối vi diện tích 9.889m2 đất ti
tha đất s C, t bn đồ quy hoch chi tiết khu công nghiệp, địa chỉ: Khu công
nghip Đ, xã H, huyn V, tnh Bắc Giang cho Công ty TNHH Đin t T. Tuy
nhiên, hiện nay một s tài sn của ông Nguyễn Đăng C1 nằm trên diện tích
2.185m2 (trong tng 9.889m2 đất) của Công ty TNHH Đin t T gồm: phân xưởng
2 ca Nhà xưởng 2 (xưởng 3) diện tích 1.800m2, nhà kho (xưởng 4) diện tích
316m2, trm đin (trm biến áp) gồm 02 máy, diện ch 69m2. Công ty TNHH
Đin t T đã nhiu ln đề ngh ông C1 di di s tài sản trên ra khỏi diện tích đất
của Công ty TNHH Đin t T nhưng ông C1 không thực hin. Việc ông C1 không
di chuyn tài sn đi gây thiệt hại cho Công ty TNHH Đin t T không th s
dng phn din tích 2.185m2 đất do trên đất còn i sn của ông C1. Nay ông yêu
cầu Tòa án nhân dân huyện V buộc ông Nguyễn Đăng C1 di di toàn b tài sn,
công trình, nhà xưởng, nhà kho, trm đin thuc quyn s hu của ông Nguyễn
Đăng C1 ra khi diện tích 2.185m2 đất ng ty TNHH Đin t T được nhà nước
cho thuê sản xut kinh doanh và được cp Giy chng nhn quyn s dng đất.
Ngoài ra, Công ty TNHH Đin t T không yêu cầu ông C1 phi bi thường gì.
Ông Nguyễn Đăng C1 là bị đơn có lời khai trong h sơ trình bày: Trước đây,
ông là c đông của Công ty TNHH A. Do điu kiện Công ty khó khăn nên Công ty
hỏi vay vốn ông. Ông đồng ý cho Công ty TNHH A vay vn đồng thời Công ty
TNHH A phi thế chấp cho ông i sn bo đảm gồm phân xưởng 2 ca Nhà
xưởng 2 (xưởng 3) diện tích 1.800m2, nhà kho (xưởng 4) diện tích 316m2, trạm
đin (trm biến áp) gồm 02 máy, diện tích 69m2 của Công ty TNHH A địa ch
Khu ng nghiệp Đ, huyn V, tnh Bắc Giang. Ông xác định s tài sn này hin
đang thuc quyn s hu của ông. Hiện s tài sn này đang b không, không vận
3
hành gì. Việc Công ty TNHH Đin t T th li 9.889m2 đất cũng như tham gia
bán đấu giá được cp giy chng nhn đăng đầu tư ca cơ quan thm
quyn như thế nào thì ông không nắm được. Nay Công ty TNHH Đin t T buc
ông di di toàn b tài sản, công trình nhà xưởng, nhà kho, trm đin ra khi din
tích 2.185m2 đất thì ông đề ngh Công ty TNHH Đin t T đưa ra mức giá hợp
để ông xem xét. Ông đề ngh Tòa án mở phiên họp, phiên hòa giải để các bên
thng nht, tha thuận. Vì bận công việc nên ông sẽ y quyn cho Lut sư thay mt
ông tham gia t tng v án này.
Người có quyền li nghĩa v liên quan Công ty phát trin h tng Khu
công nghiệp tnh Bắc Giang do ông Ngô Ngọc C2 Ch tch Hi đồng qun tr
Công ty m đại din theo pháp luật lời khai trình bày trong h sơ như sau:
Công ty TNHH Đin t T tham gia và trúng đấu giá i sn do Cc thi hành án dân
s tnh Bắc Giang giao cho Công ty đấu giá t chức bán đấu giá i sn của ng
ty TNHH A ti tha đất s C, t bn đồ quy hoch chi tiết khu công nghip, địa
chỉ: Khu công nghiệp Đ, H, huyn V, tnh Bc Giang. Sau khi hoàn tt th tc
pháp lý Công ty TNHH Đin t T được cp giy chng nhn đầu tư cho d án Nhà
máy sản xut và gia công linh kin đin t, được thc hin trên diện tích 9.889m2
ti tha đất s C địa ch như trên. Theo thẩm quyn, ngày 10/7/2017, Công ty
phát triển h tầng Khu công nghiệp tnh Bắc Giang hp đồng s
02/2017/HĐTD cho Công ty TNHH Đin t T thuê lại 9.889m2 đất theo giy
chng nhn đầu tư. Trước khi thc hin vic chuyn giao quyn s hữu, Công ty
phát triển h tầng Khu công nghiệp tnh Bc Giang đã công văn yêu cầu Công
ty TNHH A x i sản trên đất. Tuy nhiên, hin nay s tài sản trên diện tích đất
2.185m2 ông được biết là thuc quyn s hu của ông Nguyễn Đăng C1 (b đơn
trong v án). ng ty phát triển h tng Khu ng nghiệp tnh Bc Giang cũng
văn bn đề ngh ông C1 di di s tài sản trên nhưng ông C1 không thực hin. Nay
Công ty TNHH Đin t T khi kin buộc ông C1 di di tài sản trên đất tđề ngh
Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật.
Với nội dung nêu trên, bản án dân sự thẩm số: 10/2019/DS-ST ngày
02/7/2019 của Toà án nhân dân huyện V đã quyết định: Áp dụng: khoản 2 Điu 26,
Đim a khon 1 Điu 35, khon 1 Điu 39, Điu 144, Điu 147, Điu 177, khon 2
Điu 227, Điu 228, Điu 271, Điu 273 B lut t tụng dân sự; các điu 158,159,
163, 164, 169, 189, 190, 191 B luật dân sự 2015;
Khon 7 Điu 166 Lut đất đai 2013;
Điu 26 Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ca y ban
thường v Quc Hi quy định v mc thu, min, gim, thu, np, quản s
dụng án phí l phí Tòa án, xử:
Chp nhận yêu cầu khi kin của Công ty TNHH Đin t T, buộc ông
Nguyễn Đăng C1 phi di dời các i sn ca ông Nguyễn Đăng C1 nằm trên diện
tích 2.185m2 đất của Công ty TNHH Đin t T địa ch tại C - khu công
nghip Đ, xã H, huyn V, tnh Bc Giang gm:
- Phân xưởng 2 ca Nhà xưởng 2 (xưởng 3) diện tích 1.800m2 tính t bc
tường của phân xưởng 1 nhà xưởng 2 (xưởng 2) ra 3,5m đặc điểm: xây tường
gạch, mái lợp tôn chống nóng, dựng khung st, ca s bằng nhôm kính, gác p
4
khung thép. Trong phân xưởng , nhà kho (xưởng 4) diện tích 316m2, trm đin
(trm biến áp) gồm 02 máy, diện tích 69m2). Trong phân xưởng 14 cửa nhôm
kính, 05 camera,48 bóng đèn tuýp, 04 quạt thông gió.
- Nhà kho (xưởng 4) diện tích 316m2 kết cu tường gạch, mái lợp tôn bao
quanh, tường bao che 110cm diện tích 150,4m2
- Trm biến áp: diện tích 69m2 gồm: 02 máy (01 máy MBI ng sut
750KVA, 01 máy MIBA công suất 320KVA) 03 cột ly tâm cao thế (12m), 02
b cầu dao chém Ngng, 02 b FCO, 02 b chống sét Vam thuộc 22KV.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền yêu cầu thi hành
án, lãi suất chậm thi hành án và quyền kháng cáo cho các bên đương sự.
Ngày 20/7/2019, ông Nguyễn Đăng C1 là bị đơn nhận được bản án thẩm,
ngày 31/7/2019 ông C1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp
phúc thẩm xử hủy bản án này để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, ông
Th người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Đăng C1 bđơn kháng o
không rút kháng cáo. Các đương skhông thoả thuận được với nhau vgiải quyết
vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu ý kiến: Việc tuân
theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm
của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố
tụng dân sự kể từ khi thụ vụ án đến trước thời điểm Hội đồng t xử nghị án
chấp hành đúng quy định của pháp luật. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử áp
dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS, để không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn
Đăng C1, giữ nguyên bản án thẩm; ông C1 phải chịu án phí theo quy định của
pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ trong hồ vụ án được thẩm tra
tại phiên tòa, ý kiến tranh luận tại phiên toà. Sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại
diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang. Hội đồng xét xử nhận định:
Xét kháng cáo của ông Nguyễn Đăng C1, Hội đồng xét xử thấy:
[1] Trong qtrình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, ngày 05/9/2019 TAND tỉnh
Bắc Giang nhận được đơn đề nghị của ông Nguyễn Đăng C1 trình bày: Liên
quan đến khối tài sản gồm: 02 trạm biến áp (750 + 320KVA-22/0,4KV) nhà
xưởng số 3, nhà xưởng số 4 tại nhà máy công ty TNHH A- địa chỉ: Khu công
nghiệp Đ, huyện V, tỉnh Bắc Giang theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của
các đương sự số: 08/2017/QĐST-DSTC của TAND huyện V, tỉnh Bắc Giang ngày
21/8/2017. Trong giai đoạn sơ thẩm, do không hiểu biết pháp luật (tôi thấy chưa ký
hợp đồng mua bán công chứng, chưa làm các thủ tục đăng ký với Nhà nước thì tài
sản vẫn của tôi) nên ông lời khai với TAND huyện V số tài sản này hiện
đang thuộc quản của ông. Đến nay ông được Luật của mình giải thích n
thấy rằng lời khai trong giai đoạn sơ thẩm là không đúng sự thật và xin khai lại với
TAND tỉnh Bắc Giang như sau:
5
[2] Sau khi nhận bàn giao từ Công ty TNHH A tông đã chuyển nhượng
toàn bộ khối tài sản này cho ông Tiến H (sinh năm 1977, CMND số:
012238202 do ng an thành phố Nội cấp ngày 02/5/2012, Hộ khẩu: Tổ B, M,
quận C, thành phố Nội) theo hợp đồng mua bán tài sản gắn liền với đất ngày
09/10/2017 Hợp đồng ủy quyền công chứng: 5335.2017/HĐUQ; Quyển số:
23/TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng Công chứng Gia Khánh, thành phố Nội
ngày 11/10/2017. Việc mua bán đã thực hiện xong, ông đã nhận đủ tiền chuyển
nhượng đã bàn giao toàn bkhối i sản trên cho ông H. Ông không còn liên
quan gì đến khối tài sản này kể từ ngày11/10/2017.
[3] Ông Nguyễn Đăng C1 đề nghị đưa ông Tiến H vào tham gia tố tụng
với cách người quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Ông đề nghị được vắng
mặt trong toàn bộ giai đoạn phúc thẩm. Ngoài ra, ông đã ủy quyền cho ông
Ngọc Th tham gia tố tụng.
[4] Kèm theo đơn đề nghị của ông Nguyễn Đăng C1 Hợp đồng mua bán
tài sản gắn liền với đất ngày 09/10/2017; Hợp đồng ủy quyền công chứng:
5335.2017/HĐUQ; quyển số: 23/TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng
Gia Khánh, thành phố Nội ngày 11/10/2017; Biên bản bản giao tài sản ngày
11/10/2017.
[5] Ngày 16/9/2019 ông Ngọc Th người đại diện theo ủy quyền của
ông Nguyễn Đăng C1 đề nghị đưa ông Tiến H, Chu Thị Thanh Ng vào tham
gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
[6] Ngày 02/10/2019 ông Lê Tiến H đơn đề nghị xem xét quyền sở hữu
tài sản đối tượng của vụ án: Đề nghị TAND tỉnh Bắc Giang nhận định việc
ông là chủ sở hữu của khối tài sản gồm: 02 trạm biến áp (750 + 320KVA-
22/0,4KV) nxưởng số 3, nhà xưởng số 4 tại nhà máy công ty TNHH A- địa
chỉ: Khu công nghiệp Đ, huyện V, tỉnh Bắc Giang không liên quan đến ông
Nguyễn Đăng C1
[6.1] Công ty TNHH điện tử T khởi kiện ông Nguyễn Đăng C1 không
đúng người bị kiện
[6.2] Đề nghị xác định lại cách tham gia tố tụng của các đương strong
vụ án hướng dẫn Công ty TNHH điện tử T khởi kiện lại cho đúng người khởi
kiện.
[6.3] Đề nghhủy bản án thẩm số: 10/2019/DS-ST ngày 02/7/2019 của
TAND huyện V trả hồ sơ để giải quyết lại vụ án từ đầu để ông điều kiện tham
gia, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình
[7] Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng mua bán tài sản gắn liền với đất
ngày 09/10/2017 giữa ông Nguyễn Đăng C1 ông Tiến H gồm tài sản: 02
trạm biến áp (750 + 320KVA-22/0,4KV) nhà xưởng số 3, nhà xưởng số 4 tại
nhà máy công ty TNHH A- địa chỉ: Khu công nghiệp Đ, huyện V, tỉnh Bắc Giang
không được công chứng, chứng thực theo quy định tại khoản 3 Điều 167 Luật đất
đai và thuộc trường hợp không đủ điều kiện mua bán theo quy định tại Điều 189
Luật đất đai. Do đó, không giá trị pháp để làm phát sinh quyền nghĩa vụ
của các bên kể từ thời điểm xác lập. Theo Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Bắc
Giang cho biết các công trình xây dựng gắn liền với đất tại lô C thuộc Khu công
6
nghiệp Đ của ông Nguyễn Đăng C1 chưa thực hiện đăng cấp quyền sở hữu
tài sản gắn liền với đất theo quy định tại Điều 95 Luật đất đai năm 2013
[8] Tại Tòa án cấp thẩm, không đương sự nào trình bày về việc ông
Nguyễn Đăng C1 đã chuyển nhượng khối tài sản nêu trên của ông C1. Mặt khác
ông C1 vẫn khai thừa nhận tài sản của mình. Nên Công ty TNHH điện tử T
khởi kiện đối với ông Nguyễn Đăng C1 yêu cầu di dời tài sản trên đất là căn cứ,
xác định đúng người bị kiện trong vụ án.
[9] Tại Tòa án cấp phúc thẩm, ông Ngọc Th người đại diện theo ủy
quyền của ông Nguyễn Đăng C1 ông Tiến H người mua tài sản của ông
C1 đề nghị được tham gia ttụng với cách người quyền lợi và nghĩa vụ
liên quan cấp phúc thẩm. Hội đồng xét xử xét thấy, việc mua bán tài sản giữa
ông C1 và ông H như đã phân tích ở trên không đủ điều kiện mua bán, không đúng
quy định của pháp luật, nên không sở xác định ông H chủ sở hữu khối tài
sản đứng tên ông C1 theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
số: 08/2017/QĐST-DSTC của TAND huyện V, tỉnh Bắc Giang ngày 21/8/2017. Vì
vậy, không căn cứ để đưa ông H vào tham gia tố tụng với cách người
quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án tại giai đoạn phúc thẩm.
[10] Theo hợp đồng ủy quyền công chứng: 5335.2017/HĐUQ; quyển số:
23/TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng Gia Khánh, thành phố Nội
ngày 11/10/2017 giữa ông Nguyễn Đăng C1 Chu Thị Thanh Ng thì Ng
được thay mặt ông C1 liên hệ với các quan nhà nước thẩm quyền để làm thủ
tục thi hành án đối với “quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự”
theo quy định hiện hành; được lập các hợp đồng, giao dịch đbán, chuyển
nhượng các tài sản nêu trên phù hợp với quy định của pháp luật . . . Hội đồng xét
xử xác định quyền sở hữu đối với tài sản nêu trên của ông C1, nên Ng thực
hiện công việc ủy quyền của ông C1 theo pháp luật, Ng không phải người
quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
[11] Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định về thủ tục
tố tụng đối với vụ án, thu thập chứng cứ chứng minh theo đúng quy định tại Bộ
luật tố tụng dân sự, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự. Nên
không căn cứ để hủy bản án thẩm theo như kháng cáo của bị đơn. Về nội
dung: Công ty TNHH điện tử T tham gia trúng đấu giá tài sản do Cục Thi hành
án dân sự tỉnh Bắc Giang giao cho Công ty tổ chức bán đấu giá tài sản của Công ty
TNHH A tại thửa đất C tờ bản đồ quy hoạch chi tiết khu công nghiệp, địa chỉ: Khu
Công nghiệp Đ, xã H, huyện V, tỉnh Bắc Giang diện ch 9.889m2. Ngày
28/6/2017, Công ty TNHH điện tử T được Ban quản các khu công nghiệp tỉnh
Bắc Giang cấp giấy chứng nhận đầu số 2512846764 cho dự án Nhà máy sản
xuất linh kiện điện tử gia công linh kiện điện tử thực hiện trên diện tích đất
9.889m2. Đến ngày 10/7/2017 Công ty phát triển hạ tầng khu công nghiệp tỉnh Bắc
Giang hợp đồng số 02/2017/HĐTĐ cho Công ty TNHH điện tử T thuê lại
9.889m2 đất theo giấy chứng nhận đầu tư. Ngày 12/10/2018, Sở Tài nguyên
Môi trường tỉnh Bắc Giang cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 668006
đối với diện tích 9.889m2 đất cho Công ty TNHH điện tử T. Tại quyết định công
nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 08 ngày 21/8/2017 của TAND huyện V đã
7
công nhận ông Nguyễn Đăng C1 và Công ty TNHH A thỏa thuận ông C1 có quyền
sở hữu, quản lý, sử dụng toàn b tài sản thế chấp gồm 02 trạm biến áp (750-
320KVA-22/O.4KV) nhà xưởng số 3, nhà xưởng số 4 của Công ty TNHH A
địa chỉ Khu công nghiệp Đ, huyện V, tỉnh Bắc Giang trên diện tích đất 9.889m2
của Công ty TNHH điện tử T đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sdụng đất
(ông C1 không quyền sử dụng đất). Để đảm bảo quyền lợi của tổ chức sử dụng
đất, Công ty TNHH điện tử T đã khởi kiện buộc ông C1 di dời toàn bộ số tài sản
nêu trên trên diện tích đất của Công ty TNHH điện tử T n cứ. Do vậy,
không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Đăng C1, giữ nguyên bản án thẩm
theo quy định tại khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[12] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của ông Nguyễn Đăng C1 không
được chấp nhận, nên phải chịu án phí theo quy định tại khoản 1 Điều 148 của Bộ
luật tố tụng dân sự
[13] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị, hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Ttụng n sự năm 2015; Không chấp
nhận kháng cáo của ông Nguyễn Đăng C1, giữ nguyên bản án sơ thẩm
Áp dng: khoản 2 Điu 26, Đim a khon 1 Điu 35, khon 1 Điu 39, Điu
144, Điu 147, khoản 1 Điều 148 B lut t tụng dân s; các điu 158,159, 163,
164, 169, 189, 190, 191 B luật dân sự ;
Khon 7 Điu 166, khoản 3 Điều 167 và Điều 189 Lut đất đai;
Điu 26, khoản 1 Điều 29 Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 ca y ban thường v Quc Hi quy định v mc thu, min, gim,
thu, np, quản lý s dụng án phí và l phí Tòa án, xử:
1. Chp nhận yêu cu khi kin của Công ty TNHH Đin t T, buộc ông
Nguyễn Đăng C1 phi di dời các i sn ca ông Nguyễn Đăng C1 nằm trên diện
tích 2.185m2 đất của Công ty TNHH Đin t T địa ch tại C - khu công
nghip Đ, xã H, huyn V, tnh Bc Giang gm:
- Phân xưởng 2 ca Nhà xưởng 2 (xưởng 3) diện tích 1.800m2 tính t bc
tường của phân xưởng 1 nhà xưởng 2 (xưởng 2) ra 3,5m đặc điểm: xây tường
gạch, mái lợp tôn chống nóng, dựng khung st, ca s bằng nhôm kính, gác p
khung thép. Trong phân xưởng có, nhà kho (xưởng 4) diện tích 316m2, trm đin
(trm biến áp) gồm 02 máy, diện tích 69m2). Trong phân xưởng 14 cửa nhôm
kính, 05 camera,48 bóng đèn tuýp, 04 quạt thông gió.
- Nhà kho (xưởng 4) diện tích 316m2 kết cu tường gạch, mái lợp tôn bao
quanh, tường bao che 110cm diện tích 150,4m2
- Trm biến áp: diện tích 69m2 gồm: 02 máy (01 máy MBI ng sut
750KVA, 01 máy MIBA công suất 320KVA) 03 cột ly tâm cao thế (12m), 02
b cầu dao chém Ngng, 02 b FCO, 02 b chống sét Vam thuộc 22KV.
2. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Đăng C1 phải hoàn trả cho Công ty
TNHH điện tử T số tiền 3.000.000đ chi phí thẩm định định giá tài sản.
8
3. Về án phí: Ông Nguyễn Đăng C1 phải chịu 300.000đ án phí dân sự
thẩm. Trả lại Công ty TNHH điện tử T 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên
lai số AA/2012/05226 ngày 20/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V.
V án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Đăng C1 phải chịu 300.000đ, nhưng
được trừ vào số tiền 300.000đ đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai số
AA/2012/05531 ngày 31/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V; xác
nhận ông C1 đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
Ktừ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong
tất cả các khoản tiền, ng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi
của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468
Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bcưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b 9 Luật
thi hành án n sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi gửi:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
-VKSND tỉnh Bắc Giang;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
-Toà án nhân dân huyện V;
Đã ký
-Chi cục THADS huyện V;
-Các đương sự;
-Lưu HS; VP.
Lương Xuân Lộc
Tải về
Bản án số 120/2019/DS-PT Bản án số 120/2019/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất