Bản án số 12/2024/HS-ST ngày 29/02/2024 của TAND huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 12/2024/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 12/2024/HS-ST ngày 29/02/2024 của TAND huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Văn Lãng (TAND tỉnh Lạng Sơn)
Số hiệu: 12/2024/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/02/2024
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 21-10-2023 tại KM4 + 580, Quốc lộ A, thuộc thôn T, xã M, huyện V, tỉnh Lạng Sơn xảy ra vụ tai nạn giao thông giữa xe ô tô tải biển kiểm soát 29H-844.xx do Lưu Văn H điều khiển hướng T – Đ với người điều khiển xe mô tô 29V5-348.xx do Hoàng Văn L điều khiển va chạm vào xe mô tô 12T1-236.xx do Lý Đình K điều khiển phía trước dẫn đến Hoàng Văn L bị ngã ra đường và Hoàng Văn L bị xe ô tô của Lưu Văn H cán qua đầu tử vong. Nguyên nhân tai nạn do Lưu Văn H điều khiển xe vượt xe ô tô không đúng quy định. Vi phạm khoản 2 Điều 14 của Luật giao thông đường bộ “xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt”
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN
NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN LÃNG
TỈNH LẠNG SƠN
Bản án số: 12/2024/HS-ST
Ngày 29-02-2024
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Công Tâm;
Bà Lương Thị Phượng.
- Thư phiên tòa: Lăng Thị Em - Thư Tòa án nhân dân huyện
Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng n
tham gia phiên tòa: Ông Nông Văn Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 02 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng,
tỉnh Lạng Sơn xét xử thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2024/TLST-
HS ngày 29 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét x số
10/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2024, đối với bị cáo:
Lưu Văn H, sinh ngày 28 tháng 8 năm 1986 tại huyện S, thành phố
Nội. Nơi cư trú: Thôn N, xã H, huyện S, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lái xe;
trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc
tịch: Việt Nam; con ông Lưu Văn T, sinh năm 1967 Đỗ Thị T, sinh năm
1961; vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1986 và 02 con, con lớn sinh năm 2010,
con nhỏ sinh năm 2012; tiền án: Không có, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa
bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử kỷ luật; bị áp dụng
biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09-11-2023 đến nay, có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại Hoàng Văn L: Ông Hoàng Văn C,
sinh năm 1976 (là anh trai). Địa chỉ: Thôn N, L, huyện H, tỉnh Cao Bằng;
đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Công ty trách nhiệm
hữu hạn dịch vụ thương mại vận tải M, địa chỉ: Thôn H, M, huyện L,
thành phố Nội, người đại diện theo pháp luật ông Nguyễn Quang T Giám
đốc; người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1986, địa chỉ:
Thôn T, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội; có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người tham gia tố tụng khác:
- Người làm chứng:
1. Anh Lý Tử L, sinh năm 2000; vắng mặt.
2. Anh Lý Đình K, sinh năm 2000; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Lưu Văn H i xe thuê cho ng ty trách nhim hữu hạn dịch vụ thương
mại vận tải M, địa ch thôn H, M, huyn L, thành ph Nội. Ngày 21-10-
2023, Lưu n H điu khiển xe ô tải biển kiểm soát 29H-844.xx đi từ C về
thành phố Nội. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày Lưu Văn H điều khiển xe
về đến KM4 + 580, Quốc lộ A, thuộc thôn T, M, huyện V, tỉnh Lạng Sơn
đoạn đường thẳng, trời tối. Lúc này nhiều xe ô đi cùng chiều phía trước xe
ô do Lưu Văn H điều khiển, các xe lần lượt vượt 01 chiếc xe ô cứu hộ (xe
chuyên dụng chở máy xúc). Sau khi nhìn thấy chiếc xe ô đi phía trước đang
vượt qua khỏi chiếc xe cứu hộ đi cùng chiều (xe vẫn đang làn đường ngược
chiều) thì Lưu Văn H cũng ra tín hiệu xi nhan và điều khiển xe ô để vượt.
Trong lúc đang điều khiển xe vượt chiếc xe ô trên, thì nhìn thấy 02 chiếc xe
đi làn đường ngược chiều. Xe biển kiểm soát 12T1-236.xx do
Đình K, sinh năm 2000 điều khiển phía sau chở Tử L, sinh năm 2000 cùng
trú tại thôn K, C, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn điều khiển đi phía trước, xe
biển kiểm soát 29V5 - 348.xx do Hoàng n L, sinh năm 1984, trú tại xóm N,
L, huyện H, tỉnh Cao Bằng điều khiển đi phía sau. Lúc này, Đình K nhìn
thấy xe ô tô của Lưu Văn H vượt lên nên đã phải điều khiển xe đi chậm lại và ép
sát vào lề đường bên phải để tránh và nhường đường thì xe mô tô do Hoàng Văn
L điều khiển không làm chủ tốc độ, không giữ khoảng cách an toàn nên đã đâm
vào đuôi xe tô của Đình K, làm Hoàng Văn L bị ngã văng ra bên trái
đường. Lúc này, xe ô tô tải 29H - 844.xx do Lưu Văn H điều khiển đang vượt đi
đến (ở khu vực giữa đường, 2/3 xe nằm làn đường ngược chiều), Lưu Văn H
đánh lái sang phải để tránh nhưng bánh xe phía sau bên lái xe ô của Lưu Văn
H đã cán qua phần đầu của Hoàng Văn L gây tai nạn. Lưu Văn H dừng xe xuống
kiểm tra thấy Hoàng Văn L đã tử vong nên đã đến Công an trình báo sự việc.
Sau khi tiếp nhận thông tin, cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện
Văn Lãng tổ chức khám nghiệm hiện trường xác định: Tại nơi xảy ra tai nạn
được mô tả theo hướng T - Đ thuộc địa thôn T, xã M, huyện V, tỉnh Lạng Sơn là
đường hai chiều được trải nhựa bằng phẳng, có vạch kẻ đường nét đứt màu vàng
giữa, mặt đường rộng 8,0m, mép đường bên trái rộng 0,5m, mép đường bên
phải rộng 0,7m, hai bên đường có rãnh thoát nước.
Kết quả khám nghiệm hiện trường: Xác định các dấu vết, điểm mốc như
sau chọn cột Km4 + 600 nằm phía bên phải hướng T - Đ làm điểm mốc mép
đường bên trái Quốc l4A hướng T Đ làm chuẩn, cụ thể xác định các dấu vết
đo đạc như sau:
Số (1) là vị trí của xe mô biển kiểm soát 12T1-236.xx được dựng bên
trái đường hướng T – Đ, phần đầu xe hướng T, phần đuôi xe hướng Đ, trục bánh
trước cách mép đường bên trái 0,1m, trục bánh sau trùng với mép đường.
Khoảng cách trục bánh trước của xe mô tô 12T1-236.xx đến cột Km4+600 Quốc
lộ 4A là 20,1m.
Số (2) vị txe biển kiểm soát 29V5-348.xx đang nằm đổ ngang
đường, sườn xe bên trái tiếp giáp với mặt đường, bánh xe phía trước nằm trên
miệng rãnh thoát nước. Đo thẳng vuông góc trục bánh trước đến mép đường bên
trái là 0,6m. Đo thẳng vuông góc trục bánh sau đến mép đường bên trái là 0,4m.
Khoảng cách ttrục bánh trước xe môtô 29V5-348.xx đến trục bánh trước xe
môtô 12T1-236.xx là 5,3m.
Số (3) là vị trí của nạn nhân đang nằm trên mặt đường, lưng của nạn nhân
tiếp giáp với mặt đường, đầu của nạn nhân hướng mép đường bên phải, hai chân
của nạn nhân duỗi thẳng hướng mép đường bên trái. Khoảng cách tđiểm giữa
hai bàn chân nạn nhân đến trục bánh sau của xe môtô biển kiểm soát 29V5-
348.xx 0,7m; khoảng cách từ đầu nạn nhân đến trục bánh sau của xe
29V5 348.xx 2,0m. Đo thẳng vuông góc tđiểm giữa hai bàn chân nạn nhân
đến mép đường bên trái là 1,15m; đo thẳng vuông góc từ đầu nạn nhân đến mép
đường bên trái là 2,50m.
Số (4) là vị trí đầu vết lốp xe có diện là 0,9m x 0,17m, nằm ở chiều đường
bên trái hướng T - Đ, chiều hướng từ trước về sau (hướng T về Đ). Khoảng
cách từ đầu nạn nhân đến đầu vết lốp 2,9m. Đo thẳng vuông góc đầu vết lốp
đến mép đường bên trái 2,7m. Khoảng cách từ đầu vết lốp đến trục bánh sau
của xe môtô biển kiểm soát 29V5-348.xx 3,9m. Đo thẳng vuông góc cuối vết
lốp đến mép đường bên trái là 3,06m.
Số (5) là vị trí dấu vết mài trượt đứt quãng, liên tục để lại trên mặt đường,
chiều hướng từ trước về sau (chiều hướng Đ về T) có diện là 4,65m x 0,01m.
Đo thẳng vuông c đầu vết mài trượt đến mép đường bên trái là: 0,7m. Vị trí
của cuối vết mài trượt nằm trên mép đường bên trái, tại vị trí để chân nhẫm bên
trái người điều khiển của xe môtô biển kiểm soát 29V5-348.xx.
Số (6) vị trí xe ôtô tải biển kiểm soát 29H-844.xx, đầu xe hướng Đ,
đuôi xe hướng T, đang đỗ bên phải đường khoảng cách từ trục bánh số 2 bên trái
xe đến vị trí đầu vết mài trượt là 26,45m. Đo thẳng vuông góc trục bánh số 2 bên
trái xe đến mép đường bên trái là 5,15m. Đo thẳng vuông góc trục bánh số 1 bên
trái xe đến mép đường bên trái là 5,6m.
Quá trình tổ chức khám nghiệm hiện trường, cơ quan điều tra tiến hành
tạm giữ các đồ vật, tài liệu sau: 01 xe ô tô tải biển kiểm soát 291-844.xx; 01 giấy
đăng xe ô 29H 844.xx, mang tên chủ xe Công ty trách nhiệm hữu hạn
dịch vụ thương mại và vận tải M; 01 giấy chứng nhận kiểm định số EA
1837390, biển đăng ký 51C-878.47 hiệu lực đến hết ngày 10/01/2024; 01
giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô, số
CI123CB0049569, của xe ô 29H-844.xx cấp ngày 21/02/2023; 01 xe
biển kiểm soát 29V5 348.xx; 01 giấy chứng nhận đăng xe máy biển kiểm
soát 29V5-348.xx mang tên Nguyễn Văn D; 01 giấy phép lái xe hạng A1, số
040084002460 mang tên Hoàng Văn L; 01 căn cước công dân mang tên Hoàng
Văn L; 01 xe biển kiểm soát 12T1 - 236.xx; 01 đăng xe tô, biển
kiểm soát 12T1-236.xx, mang tên Lý Đình K; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang
tên Lý Đình K; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS số: 22XM
220503904, Biển kiểm soát 12T1-236.xx; 01 giấy phép lái xe hạng A1, D mang
tên Lưu Văn H.
Tại Bản kết luận giám định kỹ thuật số 120/GĐKT-ĐK ngày 14-1-/2023
của Công ty cổ phần đăng kiểm xe giới L Kết luận: Tình trạng an toàn kỹ
thuật xe cơ giới, đối với:
+ Xe ô tải biển kim soát 29H-844.xx: Tại thi điểm kim tra các hệ
thng an toàn ca xe đầy đ, hot động nh thưng và đảm bo an toàn kỹ thuật.
+ Xe biển kiểm soát 29V5 - 348.xx: Tại thời điểm kiểm tra các hệ
thống an toàn của xe đầy đủ, hoạt động bình thường và đảm bảo an toàn kỹ thuật.
+ Xe biển kiểm soát 12T1236.xx: Tại thời điểm kiểm tra các hệ
thống an toàn của xe dầy đủ, hoạt động bình thường và đảm bảo an toàn kỹ thuật.
Tại bản kết luận giám định pháp y về từ thi số 1075/KLGDTT - PC09
ngày 25-10-2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Lạng Sơn xác định:
Nguyên nhân chết của Hoàng Văn L: Chấn thương sọo.
Căn cứ kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám
phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông, lời khai của Lưu Văn H, lời
khai của người làm chứng những tài liệu, chứng cứ thu thập được; xác định
nguyên nhân xảy ra vtai nạn trên do lỗi hỗn hợp giữa xe ô tải biển kiểm
soát 29H-844.xx do Lưu Văn H điều khiển xe biển kiểm soát 29V5 -
348.xx do Hoàng Văn L điều khiển. Khi Lưu Văn H đánh lái sang phải đtránh
nhưng bánh xe phía sau bên lái xe ô của Lưu Văn H đã cán qua phần đầu của
Hoàng Văn L gây tai nạn; cthể lỗi như sau: Lưu Văn H khi điều khiển xe ô
tham gia giao thông đã vượt xe không đúng quy định vi phạm khoản 2 Điều 14
Luật giao thông đường bộ. Khoản 2 Điều 14 quy định vượt xe: “xe xin vượt chỉ
được vượt khi không chướng ngại vật phía trước, không xe chạy ngược
chiều trong đoạn đường định vượt”. Hoàng Văn L khi điều khiển xe mô tô tham
gia giao thông đã không giảm tốc độ để dừng lại một cách an toàn khi gặp
chướng ngại vật. Vi phạm khoản 1, Điều 12 Luật giao thông đường bộ, quy định
tốc độ xe khoảng cách giữa các xe: “Người lái xe, người điều khiển xe máy
chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường phải giữ
một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình" Khoản 1,
Điều 5 Thông số 31/2019/ГТ- BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông
vận tải quy định về tốc độ khoảng cách an toàn của xe giới, xe máy
chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ, quy định các trường hợp phải giảm
tốc độ: “Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm
tốc độ để thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau: 1.
chướng ngại vật trên đường”.
Theo kết quả biên bản kiểm tra nồng độ cồn trong thể hồi 22 giờ 45
phút, ngày 21-10-2023 đối với Lưu n H đã kết luận: Tại thời điểm kiểm tra
nồng độ cồn trong cơ thể là 0mg/l khí thở.
Tại Phiếu kết quả xét nghiệm danh mục miễn dịch II, chất gây nghiện đối
với Lưu Văn H, thời điểm lấy mẫu 23-10-2023 kết quả: Không m thấy.
Tại bản Cáo trạng số 12/CT-VKS ngày 26-01-2024 của Viện kiểm sát
nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Lưu Văn H v ti Vi
phạm quy định v tham gia giao thông đường b quy định tại điểm a khon 1
Điu 260 ca B lut Hình s năm 2015.
Tại phiên tòa b cáo Lưu Văn H đã khai nhận toàn bhành vi phạm tội
của bản thân như nêu trên. Về phần bồi thường thiệt hại, bị cáo trình bày trước
khi mở phiên tòa, bị cáo gia đình bị hại đã thỏa thuận được với nhau về việc
bồi thường thiệt hại, cụ thể bị cáo gia đình bị hại thỏa thuận thống nhất tổng
số tiền bị cáo phải bồi thường cho gia đình bị hại là 180.000.000đ (Một trăm tám
mươi triệu đồng). Bị cáo đề nghị Tòa án ghi nhận việc thỏa thuận về bồi thường
thiệt hại nói trên giữa bị cáo và gia đình bị hại.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt người đại diện theo ủy quyền của bị hại anh
Hoàng Văn L là ông Hoàng Văn C trình bày: Về phần bồi thường thiệt hại, trước
khi mở phiên tòa tgia đình anh bị cáo đã thỏa thuận được với nhau, cụ thể
bị cáo phải bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền 180.000.000đ (Một
trăm tám mươi triệu đồng); ngoài ra không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm.
Về phần hình phạt, ông đnghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo
được hưởng án treo.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Nguyễn Đức T
trình bày: Chiếc xe ô tải biển kiểm soát 29H 844.xx sau khi tai nạn không
hỏng nên anh không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại. Đối với yêu cầu
bồi thường, anh và bị cáo đã tự thoả thuận bị cáo có trách nhiệm bồi thường thiệt
hại hết cho gia đình bị hại nên không có ý kiến gì.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân n huyện Văn Lãng, tỉnh
Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị
cáo Lưu Văn H phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 65; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm
2017, xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cho
hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về bồi thường dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 591 của Bộ luật Dân
sự năm 2015.
Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo gia đình bị hại, cụ thể: Bị cáo đã
bồi thường thiệt xong cho gia đình bị hại với số tiền 180.000.000đ (Một trăm
tám mươi triệu đồng).
3. Về xử vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố
tụng hình sự năm 2015, trả lại cho bị cáo Lưu Văn H 01 (một) giấy phép lái xe
hạng A1, D s 010118041578, cấp ngày 21-4-2022.
4. Về án phí: B cáo phải chịu án phí theo quy định.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng: Bị cáo đã nhận ra sai
phạm của mình, rất ăn năn hối hận, mong được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên snội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong qtrình điều tra, truy tố xét xử, các hành vi, quyết định tố
tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố
tụng hình sự, các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ đầy đủ. Bị cáo
những người tham gia ttụng không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết
định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi,
quyết định tố tụng của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã
thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
[2] V t tng, ti phiên tòa vng mặt người đại din hp pháp ca b hi
ông Hoàng Văn Cường, người có quyn lợi, nghĩa v liên quan đến v án anh
Nguyễn Đức Toàn, vắng mặt người làm chứng anh Lý Tử L, anh Lý Đình K xét
thấy người đại diện hợp pháp của bị hại, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến vụ án đơn xin xét xvắng mặt, người làm chứng đã đầy đlời khai
trong hồ vụ án, việc vắng mặt những người tham gia tố tụng trên không nh
ởng đến phiên tòa ngày hôm nay. Do đó Hội đồng xét x tiến hành xét x v
án theo quy đnh tại Điều 292 Điu 296 ca B lut T tng hình s năm 2015.
[3] Xét thy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai
của bị cáo tại quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường,
kết luận giám định về thương tích các chứng cứ, tài liệu khác trong hồ
vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, do đó đủ căn cứ xác định: Khoảng 20 giờ
30 phút ngày 21-10-2023 tại KM4 + 580, Quốc lộ A, thuộc thôn T, xã M, huyện
V, tỉnh Lạng Sơn xảy ra vụ tai nạn giao thông giữa xe ô tải biển kiểm soát
29H-844.xx do Lưu Văn H điều khiển hướng T Đ với người điều khiển xe
tô 29V5-348.xx do Hoàng Văn L điều khiển va chạm vào xe mô tô 12T1-236.xx
do Đình K điều khiển phía trước dẫn đến Hoàng Văn L bị ngã ra đường
Hoàng Văn L bị xe ô của Lưu Văn H cán qua đầu tử vong. Nguyên nhân tai
nạn do Lưu Văn H điều khiển xe vượt xe ô tô không đúng quy định. Vi phạm
khoản 2 Điều 14 của Luật giao thông đường bộ “xe xin vượt chỉ được vượt khi
không chướng ngại vật phía trước, không xe chạy ngược chiều trong đoạn
đường định vượt”. Hành vi của Lưu Văn H vượt xe không đảm bảo an toàn dẫn
đến hậu quả tai nạn giao thông chết người xảy ra đã đủ yếu tố cấu thành tội Vi
phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại điểm a khoản 1
Điều 260 của Bluật Hình sự năm 2015 thuộc trường hợp nghiêm trọng.
vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã
truy tố đối với bị o Lưu Văn H về tội Vi phạm quy định vtham gia giao
thông đường bộ, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự
2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, thấy rằng hành
vi bị cáo thực hiện đã xâm phạm tới khách thể trật tự an toàn giao thông
tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Khi thực hiện hành vi phạm
tội bị cáo người đủ tuổi đầy đủ năng lực hành vi trách nhiệm hình sự,
tuy nhiên do không tuân thủ đầy đủ các quy định khi tham gia giao thông đường
bộ mà bị cáo đã gây ra tai nạn giao thông, gây thiệt hại đến tính mạng của bị hại
như đã nêu trên.
[5] Về phần bồi thường thiệt hại, bị cáo gia đình bị hại đã thoả thuận
xong số tiền bồi thường thiệt hại 180.000.000đ (Một trăm tám mươi triệu
đồng), bị cáo đề nghị Tòa án ghi nhận việc thỏa thuận về bồi thường thiệt hại nói
trên giữa bị cáo và gia đình bị hại. Xét thấy sự thỏa thuận này giữa bị cáo gia
đình bị hại là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức
hội, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận về việc bồi thường thiệt
hại giữa bị cáo gia đình bị hại, c thể: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại xong cho
gia đình bị hại với tổng số tiền là 180.000.000đ (Một trăm tám mươi triệu đồng).
ngoài ra không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm.
[6] Để có mức hình phạt phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của bị
cáo, cần xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối
với bị cáo như sau:
[7] Về nhân thân: Bị o nời có nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự.
[8] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[9] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại quan điều tra tại
phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của
bản thân, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại với số tiền 180.000.000đ (Một
trăm tám mươi triệu đồng), người đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị xin giảm
nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo. Do đó bị cáo được hưởng các tình
tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật
Hình sự năm 2015.
[10] Xét thấy bị cáo Lưu Văn H nhân thân tốt, chưa tiền án tiền sự.
Bị cáo không tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhiều tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015,
trong đó có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều
51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy
định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo nơi trú
ràng, quá trình tại ngoại địa phương luôn chấp hành tốt các chủ trương, chính
sách của Đảng Nhà nước, không hành vi vi phạm pháp luật. Xét trong vụ
tai nạn bị hại cũng một phần lỗi. Do đó xét thấy không cần thiết phải cách ly
bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cho bị cáo được hưởng hình phạt tù cho hưởng án
treo cũng là đủ sức răn đe, phòng ngừa chung trong hội, qua đó thể hiện sự
khoan hồng của pháp luật, phù hợp với quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự
năm 2015; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật
Hình sự về án treo; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của
Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 Nghị quyết số 02/VBHN-
TANDTC ngày 07 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
Tối cao hợp nhất Nghị quyết hướng dẫn Điều 65 của B luật Hình sự về án treo.
[11] Theo khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 còn hình
phạt bổ sung là người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành
nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Tuy nhiên theo biên
bản xác minh ngày 03-01-2024 tại Ủy ban nhân dân H, huyện S, thành phố
Nội bị cáo Lưu Văn H không tài sản riêng, nguyên nhân xảy ra tai nạn
cũng lỗi một phần của bị hại do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với
bị cáo.
[12] Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 của Bluật Tố
tụng hình sự năm 2015 trả lại cho bị cáo Lưu Văn H 01 (một) giấy phép lái xe
hạng A1, D số 010118041578, cấp ngày 21-4-2022 do không liên quan đến
hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án.
[13] Đối với vật chứng, tài sản, tài liệu cơ quan điều tra đang tạm giữ qua
điều tra xác định được chủ sở hữu chủ sở hữu đơn xin để quản sdụng
nên cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả cho các chủ sở hữu gồm: 01 (một) xe ô
tải biển kiểm soát 29H-844.xx; 01 giấy đăng ký xe ô tô 29H 844.xx, mang tên
chủ xe Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vthương mại và vận tải M; 01 (một)
giấy chứng nhận kiểm định số EA 1837390, biển đăng 51C-878.xx, hiệu
lực đến hết ngày 10/01/2024; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách
nhiệm dân sự của chủ xe ô số CI123CB0049569 của xe ô biển kiểm soát
29H-844.xx cấp ngày 21/02/2023 cho anh Nguyễn Đức T người được anh
Nguyễn Quang T giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ thương mại và
vận tải M chủ sở hữu theo ủy quyền; 01 (một) xe biển kiểm soát 29V5
348.xx; 01 (một) giấy chứng nhận đăng xe máy biển kiểm soát 29V5-
348.xx mang tên Nguyễn Văn D; 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1, số
040084002460 mang tên Hoàng Văn L cho anh Hoàng Văn C đại diện gia đình
quản ; 01 (một) xe biển kiểm soát 12T1 - 236.xx; 01 (một) đăng xe
tô, biển kiểm soát 12T1-236.xx mang tên Đình K, 01 (một) giấy phép lái
xe hạng A1, số 240188015791 mang tên Đình K; 01 (một) giấy chứng nhận
bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự số 22XM 220503904, biển kiểm soát
12T1-236.xx cho anh Lý Đình K là chủ sở hữu.
[14] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự
năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản sử dụng án phí, lệ phí Tán, bcáo người bị kết án nên
phải chịu tiền án phí hình sự thẩm 200.000 đồng để nộp ngân sách Nhà
nước.
[15] Căn cứ điểm f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14
ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, trước khi mở phiên tòa,
bị cáo người đại diện theo ủy quyền của các bị hại đã thỏa thuận được với
nhau về việc bồi thường thiệt hại đề nghị Tòa án ghi nhận việc bồi thường
thiệt hại, do đó bị cáo không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[16] Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng
hình sự năm 2015, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại quyền kháng
cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[17] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, mức
hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ các nội dung liên quan đúng quy định
pháp luật, nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 65; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm
2017;
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; các Điều 331, 333
của Bộ luật T tụng Hình sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 584, 585, 591 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a, f khoản 1 Điều
23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường
vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án
phí, lệ phí Toà án.
1. Tuyên bố bị cáo Lưu Văn H phạm tội Vi phạm quy định về tham gia
giao thông đường bộ.
Xử phạt bị cáo Lưu Văn H 01 (một) năm 03 (ba) tháng cho hưởng án
treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày xét xử
thẩm ngày 29-02-2024.
Giao bị cáo Lưu Văn H cho Ủy ban nhân dân H, huyện S, thành phố
Nội giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo
trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân H, huyện S, thành phố Nội
trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi trú, thì thực hiện
theo quy định tại Điều 68, khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm
nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án
thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt
của bản án đã cho hưởng án treo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về bồi thường thiệt hại: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo
gia đình bị hại, cụ thể: Bị cáo đã bồi thường xong cho gia đình bị hại với số
tiền là 180.000.000đ (một trăm tám mươi triệu đồng).
3. Về xử vật chứng: Trả lại cho bị cáo Lưu Văn H 01 (một) giấy phép
lái xe hạng A1, D số 010118041578, cấp ngày 21-4-2022.
(Vt chứng trên đang được lưu giữ ti Chi cc Thi hành án dân s huyn
Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn, có đặc điểm như được mô t trong biên bn giao nhn
vt chng ngày 01-02-2024 gia cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Văn
Lãng và Chi cc Thi hành án dân s huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Lưu Văn H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn)
đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại
quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Những người quyền lợi, nghĩa v liên quan đến vụ án vắng mặt tại
phiên tòa quyền kháng cáo những vấn đề liên quan trực tiếp tới quyền lợi,
nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc
ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Lạng sơn;
- VKSND tỉnh Lạng Sơn;
- Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND H.Văn Lãng, T. Lạng Sơn;
- Công an H.Văn Lãng, T. lạng Sơn;
- CCTHADS H.Văn Lãng, T. Lạng Sơn;
- Bị cáo;
- B hi;
- Người có QLNVLQ đến ván;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Nguyễn Thị Thùy Linh
Tải về
Bản án số 12/2024/HS-ST Bản án số 12/2024/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất