Bản án số 12/2021/HNGĐ-ST ngày 08/03/2021 của TAND huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 12/2021/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 12/2021/HNGĐ-ST ngày 08/03/2021 của TAND huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang về tranh chấp hôn nhân và gia đình
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Tân Yên (TAND tỉnh Bắc Giang)
Số hiệu: 12/2021/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 08/03/2021
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC GIANG
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 12/2021/HNGĐ-ST
Ngày 08-3-2021
V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Thân Trọng Khôi
Các hội thẩm nhân dân: Ông: Dương Minh Thiết
Ông: Nguyễn Quang Vinh
- Thư phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Tĩnh - Thư Tòa án nhân dân huyện Lạng
Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham
gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Tuyết - Kiểm sát viên
Ngày 08/3/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
xét xthẩm ng khai vụ án thụ số: 442/2020/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 12
năm 2020 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử
số: 10/2021/QĐXXST-DS ngày 20/01/2021; Quyết định hoãn phiên tòa số:
10/2021/QĐST-DS ngày 08/02/2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh B, sinh năm 1996 (có mặt);
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Bị đơn: Anh Đặng Đình D, sinh năm 1988 (vắng mặt);
Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Nguyễn Thị
Thanh B trình bày: Việc ly hôn giữa chị anh D được Tòa án giải quyết tại Quyết
định công nhận thuận tình ly hôn số: 81/2015/QĐST-HNGĐ ngày 13/5/2015. Khi đó
chị anh D thỏa thuận chị nuôi con Đặng Đình D1, sinh ngày 19/02/2014, không
đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con để anh D tự nguyện đóng góp,
nhưng từ đó anh D không đóng góp. Nên chị đề nghị Tòa án giải quyết buộc anh D
phải cấp dưỡng nuôi con theo pháp luật, với mức là 1.000.000đ/1 tháng kể từ nay đến
khi con tròn 18 tuổi.
* Bị đơn, anh Đặng Đình D trình bày: Chị B trình bày về thời gian ly hôn
đúng. Khi ly hôn anh chị B thỏa thuận để chị B nuôi con Đặng Đình D1, sinh
ngày 19/02/2014, không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con, từ khi ly hôn
thỉnh thoảng anh sang thăm hỏi con cho tiền, vỉ sữa tươi, quần áo, tổng cộng anh
không nhớ đã cho trị giá bao nhiêu tiền. Hiện tại anh đang làm nghề thợ mộc (làm
công đục trạm tại nhà), thu nhập khoảng 3.000.000đ/1 tháng. Bản thân đang phải nuôi
2
mẹ già (bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1943). Nên việc chị B đề nghị anh phải góp cấp
dưỡng nuôi con, anh đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
- Tại phiên tòa hôm nay: Chị B mặt giữ nguyên yêu cầu trên. Anh D vắng
mặt, mặc dù đã được Tòa án thông báo phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai.
Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa: Về việc chấp hành pháp luật tố tụng
của thẩm phán, thư ký, hội thẩm nhân dân, các đương sự trong suốt quá trình thụ lý giải
quyết vụ án tại phiên tòa hôm nay đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật ttụng
dân sự. Tại phiên tòa hôm nay chị B mặt, anh D vắng mặt, mặc đã được Tòa án
thông báo phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai. Do vậy đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử vụ án
theo quy định của pháp luật. Đề nghị xử buộc Anh Đặng Đình D trách nhiệm góp
cấp dưỡng nuôi con chung (là Đặng Đình D1, sinh ngày 19/02/2014), cho chị Nguyễn
Thị Thanh B với mức 1.000.000đ/01 tháng để chị B nuôi con, kể từ tháng 4/2021 đến
khi con tròn 18 tuổi; anh D phải chịu tiền án phí dân sthẩm. Ngoài ra còn đề nghị
tuyên quyền kháng cáo
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu đầy đủ, toàn diện các chứng cứ tài liệu trong hồ vụ án
được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên, căn cứ vào kết quả
tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp, phạm vi khởi kiện, thẩm quyền giải quyết
thủ tục tố tụng: Tại đơn khởi kiện những lời khai tiếp theo nguyên đơn, chị
Nguyễn Thị Thanh B, sinh năm 1996; Nơi trú: Thôn Đ, T, huyện Lạng Giang,
tỉnh Bắc Giang, khởi kiện yêu cầu cấp dưỡng nuôi con đối với anh Đặng Đình D, sinh
năm 1988; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Nội dung: Chị
B yêu cầu anh D góp cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn 1.000.000đ/ tháng từ
nay đến khi con 18 tuổi. Như vậy đây là quan hệ pháp luật tranh chấp hôn nhân và gia
đình “yêu cầu góp cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.
Thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành đầy đủ trình tự thtục tố tụng trong quá
trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa hôm nay chị B mặt, anh D vắng mặt, mặc dù đã
được Tòa án thông báo phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai. Nên HĐXX áp dụng Điều 228
Bộ luật Tố tụng dân sự tiếp tục xét xử vụ án theo pháp luật.
[2] Nội dung sự việc: Việc ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thanh B với anh Đặng
Đình D được Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang giải quyết tại Quyết định công nhận
thuận tình ly hôn sự thỏa thuận của các đương sự số: 81/2015/QĐST-HNGĐ ngày
13/5/2015; khi ly hôn chị B, anh D thỏa thuận để chị B nuôi con là Đặng Đình D1, sinh
ngày 19/02/2014; về cấp dưỡng nuôi con các bên thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải
quyết. Nay chị B khởi kiện yêu cầu anh D góp cấp dưỡng nuôi con với mức
1.000.000đ/1 tháng từ nay đến khi con 18 tuổi, nhưng anh D không đồng ý, muốn
để tự bản thân anh sẽ trách nhiệm đối với con. HĐXX xét thấy yêu cầu khởi kiện
góp cấp dưỡng nuôi con của chị B là hoàn toàn phù hợp. Căn cứ vào nhu cầu thiết yếu
của cháu D1 khả năng thu nhập thực tế của anh D, để bảo đảm quyền lợi mọi cho
con, cần buộc anh D phải trách nhiệm góp cấp dưỡng nuôi con cho chị B với mức
1.000.000đ/1 tháng để chị B nuôi con, kể từ tháng 4/2021 đến khi con tròn 18 tuổi, xét
là phù hợp cần chấp nhận.
3
[3] Về án phí: Anh Đặng Đình D phải chịu 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con,
chị B không phải chịu tiền án phí, hoàn trả chị B tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
* Áp dụng Điều 28; 35; 147; 228; 235; 246; 264 của Bluật Ttụng n sự.
Điều 81; 82; 83; 110; 116; 117 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Điều 26; 27 Nghị
quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.
1/ Xử buộc Anh Đặng Đình D trách nhiệm góp cấp dưỡng nuôi con chung (là
Đặng Đình D1, sinh ngày 19/02/2014), cho chị Nguyễn Thị Thanh B với mức
1.000.000đ/01 tháng để chị B nuôi con, kể từ tháng 4/2021 đến khi con tròn 18 tuổi.
- Về án phí: Anh Đặng Đình D phải chịu 300.000đ tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.
Hoàn trả chị Nguyễn Thị Thanh B 300.000đ tiền tạm ứng án phí chị B đã nộp, theo
biên lai thu sAA/2019/0002741 ngày 15/12/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện
Lạng Giang.
Kể từ khi Bản án hiệu lực pháp luật, người được thi hành án đơn đề nghị
thi hành, người phải thi hành án không thi hành, hoặc thi hành chưa xong; thì hàng
tháng còn phải chịu khoản tiền lãi xuất của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi
xuất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự, tương ứng với thời gian chưa thi
hành án tại thời điểm thanh toán.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a 9 Luật thi hành án dân sự; thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Báo cho đương sự mặt biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể
từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể
từ ngày nhận tống đạt bản án vắng mặt.
Án xử sơ thẩm công khai./.
Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- TAND tỉnh Bắc Giang.
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- VKSND huyện Lạng Giang
- Chi cục THA huyện Lạng Giang
- Các đương sự
(đã ký)
- Lưu
Thân Trọng Khôi
Tải về
Bản án số 12/2021/HNGĐ-ST Bản án số 12/2021/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất