Bản án số 118/2024/DS-PT ngày 28/06/2024 của TAND tỉnh Bình Thuận về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 118/2024/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 118/2024/DS-PT ngày 28/06/2024 của TAND tỉnh Bình Thuận về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bình Thuận
Số hiệu: 118/2024/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/06/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thấm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Phước Hiệu
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thành; bà Phạm Phong Lan
- Thư phiên tòa: Cao Thị Mai - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh
Bình Thuận
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa:
Trần Thị Kim Trang, Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sTòa án nhân dân tỉnh Bình
Thuận xét xử công khai vụ án thụ số 67/2024/TLPT-DS ngày 02/5/2024, về
việc "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, đòi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.".
Do Bản án dân sự thẩm số 08/2024/DSST, ngày 29/02/2024 của Tòa án
nhân dân thành phố Phan Thiết bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2024/QĐ-PT, ngày 22 tháng 5
năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lưu Thị Cẩm V, sinh năm 1976; Địa chỉ: Khu phố A,
phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Châu Tấn V1, sinh
năm 1984; Địa chỉ: Khu phố G, phường P, thành phố phan T, tỉnh Bình Thuận.
- Bị đơn:
1. Ông Phạm Việt Q, sinh năm 1981; Địa chỉ ĐKNKTT: Xóm G, thôn C,
xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 118/2024/DS-PT
Ngày: 28 - 6 - 2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản; đòi giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất
bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng.
2
Chỗ hiện nay: Số I, đường V, khu phC, phường X, thành phố P, tỉnh
Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Q: Mai Thị Lệ N, sinh m
1982; Địa chỉ: SI, đường V, khu phố C, phường X, thành phố P, tỉnh Bình
Thuận.
2. Bà Mai ThLN, sinh năm 1982; Địa chỉ: Số I, đường V, khu phố C,
phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người kháng cáo: Bà Mai Thị Lệ N.
Tại phiên tòa phúc thẩm mặt ông Châu Tấn V1, Mai ThLệ N; các
đương sự khác vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo hồ sơ án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Bà Lưu Thị Cẩm V và người đại diện theo ủy quyền – ông Châu Tấn V1,
thống nhất trình bày:
Ngày 18/01/2023, vợ chồng ông Phạm Việt Q Mai Thị LN đã đ
nghị bà Lưu Thị Cẩm V cho vay số tiền 1.850.000.000đồng, nhằm mục đích
thanh toán khoản vay thế chấp tài sn nhà đất, tại ngân ng N1 chi
nhánh huyện H (sau đây gọi tắt Ngân hàng A), để ông bà làm thủ tục vay tiền
tại Ngân hàng B Chi nhánh B1 (sau đây gọi tắt Ngân hàng B ) do Ngân
hàng B có khả năng cho vay hạn mức cao hơn.
Khi bà V biết được thông tin vợ chồng ông Q đã được Ngân hàng B đồng ý
cho vay và đã ký hồ sơ vay vốn, bà V đã đồng ý cho vợ chồng ông Q vay số tiền
trên. Sau đó hai bên có nhờ ông Phạm Nguyên K, sinh năm 1989 - là nhân viên
Ngân hàng B Chi nhánh B1) viết giúp Giấy vay tiền đngày 18/01/2023, theo
đó nội dung vay tiền thề hiện như sau: V cho ông Phạm Việt Q vay stiền
1.850.000.000đ; Thời hạn vay tiền hai ngày: ngày 18 19/01/2023; Mục
đích vay: cá nhân mượn tiền để tất toán khoản vay tại Ngân hàng N2, thế chấp
lại Quyền sử dụng đất căn nhà mới xây tại thửa đất số 254 tờ bản đồ số 11,
theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 069445 do Sở tài nguyên và môi
trường tỉnh B cấp cho Mai Thị Lệ N vào ngày 29/4/2021 (sau đây gọi tắt
thửa 254); Bên cho vay V ng với bên vay tiền ông Q đại diện vợ
chồng ông đã ký tên điểm chỉ vào giấy vay tiền này.
Khi được V bàn giao tiền vay (giao bằng tiền mặt) thì vợ chồng ông Q
đã thanh toán khoản vay tại Ngân hàng A và lấy tài sản thế chấp là nhà và đất tại
thửa đất số 254 (bà N đang thế chấp tại Ngân hàng A) lấy bản chính giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất sCV 069445 do Stài nguyên môi trường tỉnh B
cấp cho bà Mai Thị Lệ N vào ngày 29/4/2021, thế chấp cho bà V.
3
Tuy nhiên đến ngày 18/01/2023, ông Q N đã không vay tiền của
Ngân hàng B để trả khoản nợ cho V như đã cam kết. V đã nhiều lần yêu
cầu trả nợ nhưng ông Q và bà N vẫn không thực hiện việc trả nợ. Do vậy bà Lưu
Thị Cẩm V đã khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết các nội dung cụ thể như sau:
- Buộc ông Phạm Việt Q và bà Mai Thị Lệ N liên đới trả lại cho bà V, toàn
bộ số tiền vay là 1.850.000.000đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 18/01/2023 cho
đến ngày Tòa án xét xử giải quyết vụ án với mức lãi suất là 10%/năm.
- Đồng thời kể từ ngày tiếp theo ngày Tòa án xét xử giải quyết vụ án cho
đến ngày thực hiện xong việc trả nợ, vợ chồng ông Q N phải chịu tiền lãi
của số tiền chưa thanh toán, với mức lãi suất 10%/năm cho đến ngày thanh toán
trả nợ xong.
Đối với yêu cầu phản tố của Mai Thị Lệ N: đề nghị V trả lại bản
chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 069445 do Sở tài nguyên
môi trường tỉnh Bình Thuận, đối với thửa đất số 254 tờ bản đồ số 11, tại phường
X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận: Bà V công nhận đang giữ bản chính giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất này, nhưng chỉ đồng ý trả lại bản chính giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất nêu trên cho bà N, chỉ khi nào vợ chồng
bà N thực hiện xong nghĩa vụ trả khoản tiền vay nêu trên cho bà V.
Về vn đề Mai Thị Lệ N đề nghị bồi thường khoản tiền đắp tổn thất
tinh thần: V xác định đến quan N làm việc đòi nợ nhưng không
gây rối xúc phạm danh dự nhân phẩm của N, nên bà V không đồng ý bồi
thường.
Về án phí: Bà V đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật;
2. Bị đơn ông Phạm Việt Q đã được Tòa án tống đạt các thông báo thụ
vụ án các văn bản ttụng của tòa án nhưng ông Q không nộp bản tự khai,
Mai Thị Lệ N Đại diện theo ủy quyền của ông Q ng không nộp bản tự
khai. Tại phiên tòa với tư cách Đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Việt Q -
Bà Mai Thị Lệ N trình bày ý kiến của ông Q như sau:
Ông Phạm Việt Q xác nhận vay khoản tiền 1.850.000.000đồng của
Lưu Thị Cẩm V theo Giấy vay tiền đề ngày 18/01/2023, chtên phạm V
dấu tay điểm chỉ phần bên vay tại Giấy vay tiền là do ông Q ký tên, điểm chỉ và
viết họ tên;
Khoản tiền vay này ông Q vay để tất toán khoản vay tín dụng tại Ngân
hàng A chi nhánh huyện H do Trần Thị H (Mẹ ông Q vay), để giải chấp
thửa đất số 254 tờ bản đồ số 11, tại phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 069445 do Sở tài nguyên
môi trường tỉnh B cấp cho Mai Thị Lệ N vào ngày 29/4/2021. Ông Q xác
định: quyền sử dụng thửa đất số 254, tờ bản đồ số 11, tại phường X, thành phố
4
P, tỉnh Bình Thuận căn nhà xây dựng trên thửa đất là tài sản riêng của N,
chứ không phải tài sản chung vợ chồng.
Do vậy ông Q xác định việc vay tiền của V do một mình ông Q vay,
không liên quan đến N, ông Q sẽ chịu trách nhiệm trả cho V khoản tiền
vay 1.850.000.000đồng tiền lãi phát sinh với mức lãi suất 10%/năm như
Nguyên đơn đã yêu cầu.
3. Tại bản tự khai, đơn phản tố đề ngày 02/11/2023 tại phiên tòa
thẩm, với tư cách là đồng bị đơn - Bà Mai Thị Lệ N trình bày ý kiến của bà như
sau:
Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 254, tờ bản đồ số 11, tại phường X,
thành phố P, tỉnh Bình Thuận, là tài sản riêng của được thừa kế từ cha mẹ bà
theo văn bản thỏa thuận phân chia di sản số công chứng 000411, quyển số
01/2021 ngày 17/3/2021 của Văn phòng C, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình
Thuận.
Sau khi cha mẹ cho đất, bà đã vay tiền Ngân hàng A số tiền 650 triệu đồng
(Theo hợp đồng tín dụng số 4811-LAV-202202642 ngày 7/8/2022 a án
đã thu thập) đã vay thêm tiền của anh em bạn bè, người thân xây nhà trên
thửa đất này; Nhà trên thửa đất này cũng là tài sản riêng của bà, tuy nhiên bà
ông Q chỉ thỏa thuận với nhau chứ chưa lập bất kỳ văn bản tài liệu nào thỏa
thuận về vấn đề này.
xác nhận ký kết thế chấp tài sản và nđất tại thửa đất y để bảo
đảm cho khoản vay tín dụng là 1,8 tỷ đồng của bà Trần Thị H (mẹ chồng của bà)
tại Ngân hàng A chi nhánh huyện H, theo Hợp đồng thế chấp quyền sdụng
đất số 212710552B/HĐTC ngày 04/0/2021 đã được công chứng số 03362,
Quyển số 04/2021TP/CC-SCC/HĐGD ngày 05/10/2021 của văn phòng C1, thị
trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Về việc ông Q vay tiền của bà V theo Giấy vay tiền đề ngày 18/01/2023, bà
không biết gì, việc vay tiền này do một nh ông Q thực hiện. Bà xác định
ngày 18/01/2023 Ngân hàng A chi nhánh huyện H gọi bà đến nhận lại Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất bảo với khoản vay đã được H giải
ngân, nên trlại tài sản thế chấp cho bà, đã mang giấy chứng nhận quyền s
dụng đất này về nhà cất giữ, nhưng chưa xóa thế chấp. Sau đó ông Q đã lấy giấy
chứng nhận quyền s dụng đất này thế chấp cho V từ lúc nào cũng không
biết.
không biết bà Lưu Thị Cẩm V ai và bà cũng chưa từng vay mượn bất
cứ khoản tiền nào của bà Lưu Thị Cẩm V, bà cũng không bao giờ giao bản chính
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 069445, cho bà V đề vay tiền.
Do vậy bà không đồng ý cùng với ông Phạm Việt Q trả khoản nợ gốc và lãi
5
theo yêu cầu khởi kiện của bà V.
Đồng thời bàđơn yêu cầu phản tố hai nội dung:
- Đề nghị Lưu Thị Cẩm V phải trả lại bản chính Giấy chứng quyền sử
dụng đất số CV 069445 do Sở tài nguyên môi trường tỉnh B cấp cho Mai
Thị Lệ N vào ngày 29/4/2021, đối với thửa đất số 254, tờ bản đồ s 11, tại
phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận;
- N yêu cầu V bồi thường 30 triệu đồng tiền thiệt hại tổn thât tinh
thần, vào ngày 07/3/2023 V đã gây rối xúc phạm danh dự nhân phẩm của
tại quan làm việc của - Phòng Tài nguyên Môi trường huyện H, tỉnh
Bình Thuận.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bà rút một phần yêu cầu phản tố, chỉ yêu cầu bà Lưu
Thị Cẩm V phải bồi thường tiền tổn thất tinh thần với mức 10 tháng lương cơ
sở: 10 tháng x 1.800.000đ =18 triệu đồng.
Tại Bản án dân sự thẩm số 08/2024/DS-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024
của Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết đã quyết định:
1/ Căn cứ vào các quy định: Điều 357, Điều 463, khoản 01 điều 466, khoản
01 khoản 02 điều 468 Bộ luật dân snăm 2015; điểm a khoản 03 Điều 167
Luật Đất đai 2013; Điều 27; Điều 30 , khoản 01 , khoản 03 điều 37 Luật Hôn
nhân gia đình, khoản 01 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2014; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Luật
thi hành án dân sự.
2/ Tuyên xử:
2.1 Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn- Bà Lưu Thị Cẩm V:
Tuyên buộc ông Phạm Việt Q Mai Thị Lệ N phải liên đới trả lại cho
Lưu Thị Cẩm V khoản tiền vay theo giấy vay tiền đề ngày 18/01/2023 bao
gồm : Tiền gốc: 1.850.000.000đồng (Một tỷ tám trăm năm mươi triệu đồng
chẵn) và tiền lãi phát sinh từ ngày 18/01/2023 đến ngày Tòa án giải quyết xét xử
sơ thẩm là ngày 29/02/2024 là 200.408.650đồng (Hai trăm triệu bốn trăm lẻ tám
ngàn sáu trăm năm mươi đồng); Tổng cộng nợ gốc và lãi ông Q và bà N phải trả
cho V 2.050.408.650 đồng (Hai tỷ không trăm năm mươi triệu bốn lẻ tám
ngàn sáu trăm năm mươi đồng);
Kể từ ngày 01/3/2024 ( Ngày tiếp theo của ngày xét xử thẩm) cho đến
khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn
phải thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại khoản 02 Điều 468 Bộ luật Dân
sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2.2 Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của Bị đơn Mai Thị Lệ N:
Tuyên buộc bà Lưu Thị Cẩm V phải trả lại cho bà Mai Thị Lệ N: Bản chính giấy
6
chứng nhận quyền sử dụng đất sCV 069445 do Stài nguyên môi trường
tỉnh B cấp cho bà Mai Thị Lệ N vào ngày 29/4/2021, đối với thửa đt số 254, tờ
bản đồ số 11, tại phường X , thành phố P , tỉnh Bình Thuận.
2.3 Không chấp nhận yêu cầu phản tố của Mai Thị Lệ N vvấn đề yêu
cầu Lưu Thị Cẩm V phải bồi thường tổn thất tinh thần do xúc phạm danh dự
nhân phẩm là 18 triệu đồng.
2.4 Về án phí sơ thẩm:
- Ông Phạm Việt Q bà Mai Thị Lệ N phải nộp số tiền án phí thẩm
dân sự là: 73.008.000đồng.
- Bà Lưu thị Cẩm V2 phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm, số tiền
này khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà V2 đã nộp, hoàn trả lại cho Lưu Thị
Cẩm V số tiền tạm ứng án phí là 33.450.000đồng, theo biên lai số 0015697 ngày
19/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết.
- N được miễn án phí đối với yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần
danh dự nhân phẩm theo điểm d khoản 01 điều 12 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Hoàn
trả lại cho Mai Thị Lệ N số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng theo biên lai
số 0001137 ngày 28/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan
Thiết.
Ngoài ra, Tòa án cấp thẩm còn tuyên về quyền và nghĩa vụ thi hành án
và quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm: Bị đơn bà Mai Thị Lệ N kháng cáo, yêu cầu Tòa án
cấp phúc thẩm sửa án thẩm theo hướng không buộc cùng liên đới với ông
Q trả nợ cho bà V. Đồng thời chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử phúc
thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà N, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
- Bà N giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận sau khi phân tích,
đánh giá toàn bộ tài liệu, chứng cứ của vụ án phát biểu ý kiến về việc tuân
theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án giai đoạn phúc thẩm và quan
điểm giải quyết vụ án như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã
thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ vụ án để
xét xử phúc thẩm đến trước khi nghị án; các đương sự tham gia tố tụng chấp
hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
7
- Về nội dung vụ án: Trên sở tài liệu, chứng cứ thu thập được trong
hồ sơ vụ án, xét thấy Tòa án cấp thẩm đã xét xử tuyên bản án căn c
pháp luật. Do đó, kháng cáo của bà N là không có căn cứ, đề nghị bác kháng cáo
của bà N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại
phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa ý kiến của đại diện Viện kiểm sát,
Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Xét thấy bà Mai Thị Lệ N kháng cáo trong thời hạn và đúng quy định pháp
luật nên vụ án được xem xét theo trình tự thủ tục phúc thẩm.
Tòa án cấp thẩm thụ giải quyết đúng quy định tại điểm a khoản 1
Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Ttụng dân sự; Tòa án cấp thẩm xác
định quan htranh chấp cần giải quyết đúng quy định tại khoản 2, 3, 6 Điều 26
Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét kháng cáo của bà Mai Thị Lệ N, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Căn cứ vào tài liệu do nguyên đơn giao nộp là “Giấy vay tiền đề ngày
18/01/2023 (bản photo); sự thừa nhận của bà Mai Thị Lệ N (Người đại diện theo
ủy quyền của ông Phạm Việt Q), lời khai của người làm chứng Phạm Nguyên K,
cùng tài liệu kèm theo tài liệu chứng cứ do Ngân hàng A chi nhánh huyện
H cung cấp thì căn cứ xác định: Ngày 18/01/2023, ông Phạm Việt Q đã vay
của Lưu Thị Cẩm V 1.850.000.000 đồng. Mục đích ông Q vay nhằm trả
bớt khoản vay do Trần ThH (mẹ ông Q) vay tại Ngân hàng A chi nhánh
huyện H để lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 254, tờ bản
đồ số 11 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV069445 Mai Thị
Lệ N đã thế chấp để đảm bảo khoản vay trước đó của Trần Thị H tại Ngân
hàng A – chi nhánh huyện H.
Thực tế ngày 18/01/2023, bà Trần Thị H Mai Thị Lệ N đã mặt tại
Ngân hàng A chi nhánh huyện H để thanh toán số tiền 1.824.000.000 đồng
bà N đã nhận lại Giấy chứng nhận QSDĐ số CV 069445.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập từ Ngân hàng TMCP B - Chi
nhánh B1 bao gồm:
- Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án/dự án vay vốn đ ngày
17/01/2023;
- Biên bản định giá TSBĐ quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất
ngày 17/01/2023;
8
- Bảng thông tin người liên quan kèm theo giấy đề nghị cấp tín dụng
ngày 17/01/2023;
- Thông báo cấp tín dụng ngày 18/01/2023;
- Hợp đồng tín dụng ngày 18/01/2023;
Các tài liệu trên đều có chữ ký của người đề nghị vay vốn là ông Phạm Việt
Q Mai Thị Lệ N; Nội dung thể hiện, ông Q N đã tên để vay số
tiền 3.500.000.000 đồng dùng tài sản thế chấp để bản đảm khoản vay
quyền sử dụng đất tại thửa đất số 254, tờ bản đồ số 11 theo giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số CV069445 do Sở tài nguyên và i trường tỉnh B cấp cho
bà Mai Thị Lệ N vào ngày 29/4/2021.
Theo ông K V khai: Khi thực hiện thủ tục trtiền tất toán khoản
vay tại ngân hàng A vào ngày 18/01/2023 đều mặt N cùng với ông Q,
V, bà Trần Thị H và ông Phạm Nguyên K.
Như vậy, các tình tiết, sự kiện diễn ra phù hợp với lời trình bày của nguyên
đơn lời trình bày của người làm chứng ông Phạm Nguyên K, phù hợp với tài
liệu thu thập từ ngân hàng A ngân hàng B2, phù hợp với nội dung Giấy vay
tiền đề ngày 18/01/2023. Do đó có căn cứ xác định: Tuy bà N không tên vào
giấy vay số tiền 1.850.000.000 đồng ngày 18/01/2023 tV nng N biết
và đồng ý việc ông Q vay tiền bà V để trả nợ cho Ngân hàng A, nhằm xóa tài
tài sản thế chấp quyền s dụng đất theo giấy chứng nhận QSDĐ số CV
069445 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 29/4/2021 đứng tên bà
Mai Thị Lệ N để vợ chồng bà tiến hành làm thủ tục thế chấp để vay vốn từ Ngân
hàng B. Do đó yêu cầu của bà Lưu Thị Cẩm V về việc buộc ông Q và bà N phải
liên đới tr khoản nợ 1.850.000.000đ cho V theo giấy vay tiền đề ngày
18/01/2023 là có căn cứ.
[2.2] Về tiền lãi:
Xét thấy Tòa án cấp thẩm xác định hợp đồng vay tiền không về lãi
suất để tính tiền lãi của số tiền vay 1.850.000.000 đồng, từ ngày cho vay
18/01/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ, với mức lãi suất là 10%/năm
phù hợp với quy định tại khoản 1 khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự năm
2015.
[2.3] Về yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần của N đối với V: Xét
thấy chứng cdo N cung cấp không chứng minh được hành vi của V đã
gây ra cho N những thiệt hại cụ thể về danh dự nhân phẩm. Do đó, Tòa án
cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu phản tố này của bà N là có căn cứ.
Từ những căn cứ nhận định trên, Hội đồng t xử phúc thẩm xét thấy,
Tòa án cấp sơ thẩm khi xét xử vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật về
tố tụng dân sự; đã tiến hành xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ; áp dụng pháp
9
luật để giải quyết vụ án đảm bảo khách quan, có căn cứ pháp luật. Do đó, không
căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bà Mai Thị Lệ N, cần giữ nguyên Bản án
thẩm như quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận đúng
pháp luật.
[3] Về án pphúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên N
phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Những quyết định khác của bản ánthẩm không có kháng cáo, không
bị kháng nghị hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Mai Thị Lệ N. Giữ nguyên Bản án dân
sự thẩm số 08/2024/DS-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Toà án nhân n
thành phố Phan Thiết.
1/ Căn cứ vào các Điều 357, Điều 463, khoản 1 điều 466, khoản 1 và
khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; điểm a khoản 3 Điều 167 Luật Đất
đai 2013; Điều 27; Điều 30, khoản 1, khoản 3 điều 37 Luật Hôn nhân gia
đình, khoản 1 điều 147 B luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Luật
thi hành án dân sự.
2/ Tuyên xử:
2.1 Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn- Bà Lưu Thị Cẩm V:
Buộc ông Phạm Việt Q và bà Mai Thị Lệ N phải liên đới trả lại cho bà Lưu
Thị Cẩm V khoản tiền vay theo giấy vay tiền đề ngày 18/01/2023 bao gồm: Tiền
gốc: 1.850.000.000đồng (Một tỷ tám trăm năm mươi triệu đồng chẵn) và tiền lãi
phát sinh từ ngày 18/01/2023 đến ngày Tòa án giải quyết xét xử sơ thẩm là ngày
29/02/2024 200.408.650đồng (Hai trăm triệu bốn trăm lẻ tám ngàn sáu trăm
năm mươi đồng); Tổng cộng nợ gốc i ông Q bà N phải trả cho V
2.050.408.650 đồng (Hai tỷ không trăm năm mươi triệu bốn lẻ tám ngàn sáu
trăm năm mươi đồng);
Kể từ ngày 01/3/2024 ( Ngày tiếp theo của ngày xét xử thẩm) cho đến
khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn
phải thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân
sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2.2 Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của Bị đơn – bà Mai Thị Lệ N:
10
Buộc Lưu Thị Cẩm V phải trả lại cho Mai Thị Lệ N: Bản chính giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất sCV 069445 do Stài nguyên môi trường
tỉnh B cấp cho bà Mai Thị Lệ N vào ngày 29/4/2021, đối với thửa đt số 254, tờ
bản đồ số 11, tại phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
2.3 Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Mai Thị Lệ N về việc yêu cầu
bà Lưu Thị Cẩm V phải bồi thường tổn thất tinh thần do xúc phạm danh dự nhân
phẩm với số tiền 18 triệu đồng.
2.4 Về án phí sơ thẩm:
- Ông Phạm Việt Q bà Mai Thị Lệ N phải nộp số tiền án phí thẩm
dân sự là: 73.008.000đồng.
- Bà Lưu thị Cẩm V2 phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm, số tiền
này được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí V2 đã nộp, hoàn trả lại cho
Lưu Thị Cẩm V số tiền tạm ng án phí 33.450.000đồng, theo biên lai s
0015697 ngày 19/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết.
- Bà Mai Thị Lệ N được miễn án pđối với yêu cầu tiền bồi thường tiền
tổn thất tinh thần danh dự nhân phẩm theo điểm d khoản 01 điều 12 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Hoàn
trả lại cho Mai Thị Lệ N số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng theo biên lai
số 0001137 ngày 28/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan
Thiết.
2.5 Về án phí phúc thẩm: Mai Thị Lệ N phải chịu 300.000 đồng án phí
dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng, tạm ứng án phí đã nộp
theo biên lai số 0001394 ngày 20/3/2024 của Chi cục thi nh án dân sự thành
phố Phan Thiết. Bà N đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi nh án dân sự, người phải thi hành án dân s
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi
hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày
28/6/2024)./.
Nơi nhận:
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- VKSND tỉnh Bình Thuận;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND TP. Phan Thiết;
- VKSND TP. Phan Thiết;
- Chi Cục THADS TP. Phan Thiết;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án; Tòa DS; Tổ HCTP.
Trần Phước Hiệu
11
Tải về
Bản án số 118/2024/DS-PT Bản án số 118/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 118/2024/DS-PT Bản án số 118/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất