Bản án số 117/2021/DS-ST ngày 24/12/2021 của TAND huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 117/2021/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 117/2021/DS-ST ngày 24/12/2021 của TAND huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang về tranh chấp hợp đồng tín dụng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Cai Lậy (TAND tỉnh Tiền Giang)
Số hiệu: 117/2021/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/12/2021
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay giữa Ngân hàng và C
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG
Bản án số: 117/2021/DS-ST
Ngày 24/12/2021
V/v Tranh chấp hợp đồng tín
dụng”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Phúc.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hiền
2. Bà Trần Thị Cúc
- Thư ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Hồng Nhung Cán bộ Tòa
án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Ngày 24 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở a án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh
Tiền Giang, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số
149/2021/TLST- DS ngày 15 tháng 4 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín
dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2021/QĐXXST-DS ngày 19 tháng
11 năm 2021 Quyết định hoãn phiên tòa số 125/2021/QĐST-DS ngày 06 tháng 12
năm 2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: NGÂN HÀNG V. Địa chỉ trụ sở chính: 89 LH, phường L, quận
Đ, Thành phố H. Địa chỉ liên lạc: Tầng 1, số 96 CT, P.A, Q.B, Tp. M.
Người đại diện theo pháp luật: ông NGÔ CHÍ D - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng
quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: ông ĐỖ THÀNH T- Chức vụ: Phó Giám đốc
Trung tâm Xử lý nợ pháp lý.
Theo Văn bản ủy quyền số 25/2020/UQ-HĐQT ngày 07/07/2020 của Chủ tịch
Hội đồng quản trị.
Ủy quyền lại cho anh Phan Văn D, sinh năm 1993. Địa chỉ: Số 06, đường L,
2
phường A, thành phố T, tỉnh LA (xin vắng mặt).
2. Bị đơn: Nguyễn Thị L, Sinh năm: 1973 ông Hoàng C, sinh năm 1980.
Cùng địa chỉ: ấp H, xã X, huyện C, tỉnh T (cùng vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày ghi ngày 15/3/2021, trong qtrình giải quyết vụ
án, đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng V trình bày:
Ngân hàng V đã cho ông Hoàng C và bà Nguyễn Thị L ký hợp đồng tín dụng
với Ngân hàng V VPBank chi nhánh Long An, theo hợp đồng tín dụng số
5965209/LAN/HĐTD ngày 28/01/2016 và hợp đồng thẻ tín dụng số 157-P-829083 với
số tiền 125.000.000 đồng, mục đích vay tiêu dùng. Tài sản bảo đảm cho khoản vay
nêu trên là quyền sở hữu, sử dụng xe ô tô tải nhãn hiệu CHANAN, số loại SC1022, số
khung RPMKN2F3CFN000046, số máy JL465QBF5BAK000676 mang biển số 63C-
073.55 do ông Lê Hoàng C đứng tên, do phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Tiền
Giang cấp ngày 28/01/2016. Theo hợp đồng thế chấp xe ô số
5965209/LAN/HĐTCSP ngày 28/01/2016.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông,đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo các
Hợp đồng đã ký. Phía VPBank đã nhiều lần liên hệ và tạo điều kiện nhưng ông, bà cố
tình không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Ngân hàng V quyết định khởi kiện
ông C, L ra Tòa án nhân dân thẩm quyền để giải quyết theo đúng quy định của
pháp luật.
Đối với HĐTD số 5965209/LAN/HĐTD ngày 28/01/2016 ông, đã đóng được
số tiền, 121.568.102 đồng, trong đó nợ gốc là 78.373.771 đồng và nợ lãi là 43.194.331
đồng, ông C, Lđã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 21/04/2020. Tạm tính đến ngày
24/12/2021 ông C, bà L còn nợ Ngân hàng số tiền 43.342.675 đồng trong đó nợ gốc là
36.636.219 đồng, nợ lãi là 6.706.456 đồng.
Nay yêu cầu L, ông C trả cho Ngân hàng V số tiền 43.342.675 đồng ngay khi
án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 25/12/2021 nếu L, ông C không thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ
cho Ngân hàng thì còn phải tiếp tục trả lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số
5965209/LAN/HĐTD ngày 28/01/2016.
Trường hợp L, ông C không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, đề nghị Tòa án tuyên
phát mại tài sản thế chấp là quyền sở hữu, sử dụng xe ô tô tải nhãn hiệu CHANAN, số
loại SC1022, số khung RPMKN2F3CFN000046, số máy JL465QBF5BAK000676
mang biển số 63C-073.55 do ông Lê Hoàng C đứng tên, do phòng cảnh sát giao thông
Công an tỉnh Tiền Giang cấp ngày 28/01/2016.
3
Ngân hàng V xin rút lại mt phần yêu cầu khởi kiện yêu cầu ông C, bà L trả số
tiền 10.000.000 đồng theo hợp đồng thẻ tín dụng số 157-P-829083.
* Quá trình giải quyết ván, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án nêu
yêu cầu của nguyên đơn, toàn bộ các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện, thông
báo về phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, thông báo về
kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa
vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập hợp lệ nhưng ông C, bà L vắng
mặt không do cũng không văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi
kiện của Ngân ng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu trong hồ vụ án đã được thẩm tra tại phiên
tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Xét thấy đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng V là Phan
Văn D xin vắng mặt tại phiên tòa, bị đơn Nguyễn Thị L và ông Lê Hoàng C đã được
Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt lần thứ 2, không do
nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 227, Điều 228
Bộ luật tố tụng dân sự. Đại diện của nguyên đơn Ngân hàng V xin rút lại một phần yêu
cầu khởi kiện, đây quyền tự định đoạt của của đương sự theo quy địn tại Điều 5 Bộ
luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả
số tiền vay theo hợp đồng tín dụng đã nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp
luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26
của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung yêu cầu: Ngân hàng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, Bị đơn vắng
mặt không lý do, Hội đồng xét xử nhận định:
3.1. Hợp đồng tín dụng cho vay tiền giữa Ngân hàng với Nguyễn Thị L
ông Hoàng C lập thành văn bản, nội dung không trái pháp luật, không trái đạo
đức xã hội, phù hợp với quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự, n được pháp luật
công nhận.
3.2. Nguyễn Thị L ông Hoàng C đã nhận đủ tiền vay nhưng không thực
hiện đúng cam kết trả nợ cho Ngân hàng theo thỏa thuận. Tính đến ngày 24/12/2021
(ngày xét xử), theo hợp đồng cho vay số 5965209/LAN/HĐTD ký ngày 28/10/2016 bà
Nguyễn Thị L và ông Lê Hoàng C còn nợ 43.342.675 đồng (có bảng kê m theo) nên
Ngân hàng yêu cầu Nguyễn Thị L ông Hoàng C nghĩa vụ trả tiền còn nợ
4
ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật sở và phù hợp quy định pháp luật. Căn
cứ Điều 466 của Bộ luật dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận khởi kiện của ngân hàng.
3.3. Về yêu cầu đối với tài sản thế chấp: Xét hợp đồng thế chấp số
5965209/LAN/HCM/HĐTCSP ngày 28/11/2016 đã được công chứng đã đăng
giao dịch bảo đảm đúng theo quy định của pháp luật nên được pháp luật công nhận.
Nếu bà Nguyễn Thị L và ông Hoàng C chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân
hàng quyền đề nghị quan thẩm quyền biên, bán tài sản thế chấp đbảo đảm
cho nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng.
[4] Về tiền lãi: Xét Ngân hàng yêu cầu kể từ ngày kể từ ngày 25/12/2021 nếu
bà L, ông C không thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì còn phải tiếp tục
trả lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 5965209/LAN/HĐTD ngày
28/01/2016 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ còn thiếu là phù hợp với quy định
tại Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng nên chấp nhận.
[5] Về án phí: Bà Nguyễn Thị L ông Lê Hoàng C phải chịu án phí dân sự
thẩm trên số tiền phải thực hiện nghĩa vụ cho Ngân hàng theo quy định tại Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí lệ phí Tòa
án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 5, Điều 227 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân
sự, Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 của Luật các tchức tín dụng;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng V.
1. Buộc Nguyễn Thị L ông Hoàng C trả cho Ngân hàng V stiền
43.342.675 đồng
ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
2. Kể từ ngày 25/12/2021, nếu Nguyễn Thị L ông Hoàng C không
thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì phải tiếp tục trả lãi theo hợp đồng
tín dụng số 5965209/LAN/HĐTD ngày 28/10/2016 cho đến khi thanh toán xong
khoản nợ còn thiếu.
3. Ngân hàng V xóa thế chấp và trả lại cho Nguyễn Thị Lông Lê Hoàng C
01 giấy chứng nhận đăng xe ô biển kiểm soát 63C 073.55 do Phòng cảnh sát
giao thông Công an Tiền Giang cấp ngày 26/01/2016 khi Nguyễn ThL ông
Hoàng C hoàn thành nghĩa vtrả nợ cho Ngân hàng. Nếu Nguyễn Thị L ông
5
Hoàng C không thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì Ngân hàng V có quyền đề nghị Cơ quan
thẩm quyền kê biên, bán tài sản thế chấp xe ô tải nhãn hiệu CHANGAN, số loại
SC1022, số khung RPMKN2F3CFN000046, số máy JL465QBF5BAK000676645046,
biển kiểm soát 63C 073.55 do Phòng cảnh sát giao thông Công an Tiền giang cấp ngày
26/01/2016 để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của Nguyễn Thị L và ông Hoàng C
cho Ngân hàng ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
4. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng V đối với yêu cầu Nguyễn Thị
L và ông Lê Hoàng C trả cho số tiền 10.000.000đ theo đồng hợp đồng cho vay số 157-
P-829083 ngày 28/10/2016. Ngân hàng V quyền khởi kiện yêu cầu a án giải
quyết lại theo quy định tại khoản 1 Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự.
5. Về án phí: Bà Nguyễn Thị L ông Lê Hoàng C phải chịu số tiền 2.167.000
đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại cho Ngân hàng V1.500.000 đồng tiền tạm ứng
án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000118 ngày 15/4/2021 của Chi cục thi hành
án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng o bản án trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt
khi tuyên án mà do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính tngày nhận được
bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận
thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi
hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành
án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Tiền Giang; THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện Cai Lậy;
- Chi cục THADS huyện Cai Lậy;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
Hà Văn Phúc
6
Tải về
Bản án số 117/2021/DS-ST Bản án số 117/2021/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất