Bản án số 11/2026/KDTM-PT ngày 11/09/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp về mua bán hàng hóa

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 11/2026/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 11/2026/KDTM-PT ngày 11/09/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về mua bán hàng hóa
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Thái Nguyên
Số hiệu: 11/2026/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/09/2026
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH Kinh doanh thương mại xuất nhập khẩu Sortuda Việt Nam. Giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 06/2026/KDTM-ST ngày 11/6/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 11/2026/KDTM-PT Bản án số 11/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 11/2026/KDTM-PT Bản án số 11/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 11/2026/KDTM - PT
Ngày: 11 tháng 9 năm 2026.
V/v tranh chấp hợp đồng mua bán
hàng hóa.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Toàn.
Các thẩm phán: Ông Hoàng Hữu Truyền.
Bà Nguyễn Thị Thuỷ.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt - Thư
ký Toà án nhân dân tỉnh Thái nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái nguyên tham gia phiên tòa:
Bà Hoàng Thị Chuyên - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2026, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên
mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số
05/2026/TLPT- KDTM ngày 21 tháng 7 năm 2026 về “Tranh chấp hợp đồng
mua bán hàng hoá” do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số
06/2026/KDTM-ST ngày 11 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 1-
Thái Nguyên bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số
133/2026/QĐ-PT ngày 05 tháng 8 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại tổng
hợp Toàn Cầu. Địa chỉ: Lô 8, Cụm công nghiệp Gia Cốc, thôn Gia Cốc, xã Gia
Lâm, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đoàn Văn Đăng, Chủ tịch HĐTV kiêm
Giám đốc (Vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Luật sư Trần Văn Thành - Công ty Luật
TNHH Năm Sao; Địa chỉ: Số nhà 14, lô 10B, khu phố mới Trung Yên, phường
Yên Hoà, thành phố Hà Nội (Có mặt).
2. Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn kinh doanh thương mại xuất nhập
khẩu Sortuda Việt Nam; địa chỉ: X óm Cầu Gỗ, xã Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên;
Người đại diện theo pháp luật: Bà Zhang, Dandan, Chức vụ: Giám đốc.
Người đại diên theo ủy quyền của bị đơn: Bà Phạm Thị Thanh Mai, sinh
năm 1978, địa chỉ: Số 19, lô 7B, đường Lê Hồng Phong, phường Gia Viên,
thành phố Hải Phòng (Có mặt).
2
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Nguyễn Viết Hạnh, sinh năm 1969; HKTT: Tổ dân phố 1, Mễ Trì
Thượng, phường Từ Liêm, thành phố Hà Nội; Tạm trú: Số nhà 233, tổ 79,
phường Phan Đình Phùng, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Viết Hạnh: Ông Hoàng Đức
Thọ, sinh năm 1974; địa chỉ: Tổ 4, phường Bồ Đề, thành phố Hà Nội (Có mặt).
3.2. Bà Vũ Thị Thanh Thúy, sinh năm 1983; Địa chỉ: Số nhà 233, tổ 79,
phường Phan Đình Phùng, tỉnh Thái Nguyên (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
3.3. Bà Đỗ Thị Thoan, sinh năm 1972; Địa chỉ: Tổ 57, phường Phan Đình
Phùng, tỉnh Thái Nguyên (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
* Người kháng cáo: Bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn kinh doanh
thương mại xuất nhập khẩu Sortuda Việt Nam.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình tố tụng người đại diện theo
ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 16/01/2023, Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại tổng
hợp Toàn Cầu (Sau đây gọi tắt là Công ty Toàn Cầu) ký kết Hợp đồng nguyên
tắc số 199TC/TH/2023 với Công ty trách nhiệm hữu hạn kinh doanh thương mại
xuất nhập khẩu Sortuda Việt Nam (sau đây gọi tắt là Công ty Sortuda Việt Nam
- tên cũ là: Công ty cổ phần May Thành Hưng, sau đây gọi tắt là Công ty may
Thành Hưng). Theo đó, Công ty Toàn Cầu là bên bán, cung cấp cho Công ty
Sortuda Việt Nam các mặt hàng: Ống lõi giấy, bao bì carton và các loại giấy
dùng cho ngành may bao gồm: Giấy giác mẫu các loại, giấy trải bàn cắt, giấy bìa
cứng, giấy Duplex, giấy chống ẩm,…. Đơn giá và số lượng, chủng loại sản
phẩm được hai bên thống nhất và xác nhận qua từng đơn hàng, báo giá cụ thể.
Trong suốt quá trình cung cấp hàng hóa cho Công ty Sortuda, phía Công ty Toàn
Cầu đã thực hiện nghiêm túc, đầy đủ mọi nghĩa vụ, đảm bảo cung cấp hàng hóa
đúng chủng loại, số lượng, chất lượng theo từng đơn đặt hàng của Công ty
Sortuda. Đồng thời, ứng với mỗi đơn đặt hàng, Công ty Toàn Cầu luôn có phiếu
xuất kho và hoàn tất việc xuất Hoá đơn Giá trị gia tăng theo đúng quy định của
pháp luật.
Ngày 19/11/2024, Công ty Toàn Cầu và Công ty Sortuda Việt Nam đã
cùng nhau đối chiếu công nợ và ký vào Bảng xác nhận công nợ và Bảng xác
nhận công nợ phát sinh trong tháng. Theo đó, tính đến hết ngày 26/9/2024 thì số
dư nợ cuối kỳ được xác định là: 244.066.679 đồng (hai trăm bốn mươi bốn triệu
không trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm bảy mươi chín đồng). Riêng số dư nợ
đối với việc cung cấp hàng hoá từ ngày 01/11/2024 đến ngày 19/11/2024 các
bên xác nhận là 24.749.064 đồng (hai mươi bốn triệu, bảy trăm bốn mươi chín
nghìn, không trăm sáu mươi tư đồng). Như vậy, xác định Công ty Sortuda Việt
Nam còn nợ Công ty Toàn Cầu số tiền là: 268.815.743 đồng (Hai trăm sáu mươi
tám triệu tám trăm mười lăm nghìn bảy trăm bốn mươi ba đồng).
3
Ngày 05/05/2025, Công ty Toàn Cầu đã có Thông báo số 01-2025/CV-
DNTT gửi đến Công ty Sortuda Việt Nam để đề nghị thực hiện thanh toán cho
Công ty Toàn Cầu số tiền là 268.815.743 đồng (Hai trăm sáu mươi tám triệu,
tám trăm mười lăm nghìn, bảy trăm bốn mươi ba đồng). Do Công ty Sortuda
Việt Nam không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nên Công ty Toàn Cầu khởi kiện
buộc Công ty Sortuda Việt Nam phải thanh toán số tiền tiền hàng bảng xác nhận
công nợ là: 268.815.743 đồng (Hai trăm sáu mươi tám triệu, tám trăm mười lăm
nghìn, bảy trăm bốn mươi ba đồng) và số tiền lãi chậm trả theo quy định của
pháp luật. Thời điểm tính lãi chậm trả từ ngày 14/12/2024 đến ngày Tòa án xét
xử vụ án 11/6/2026. Sau ngày xét xử sơ thẩm Công ty Sortuda Việt Nam vẫn
phải tiếp tục chịu lãi suất theo quy định.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Phạm Thị Thanh Mai trình
bày:
Trên cơ sở các điều khoản đã ký kết tại Hợp đồng nguyên tắc số
199TC/TH/2023 ngày 16/01/2023, Công ty Toàn Cầu cung cấp mặt hàng đòi hỏi
về kỹ thuật, chất lượng riêng biệt, đơn giá lại được điều chỉnh theo từng thời
điểm. Nguyên đơn yêu cầu Công ty Sortuda Việt Nam phải trả số tiền
268.815.743 đồng (Hai trăm sáu mươi tám triệu tám trăm mười lăm nghìn bảy
trăm bốn mươi ba đồng) là chưa cung cấp đủ chứng từ liên quan đến số tiền khởi
kiện.
Theo quy định của quản lý kế toán thì số liệu phản ánh trên hóa đơn đối
chiếu công nợ phải phản ánh quá trình mua bán thật của hai bên thông qua cả
một quá trình. Công ty Sortuda Việt Nam không phản biện đây là số liệu sai
nhưng cũng không chấp nhận đây là số liệu chính xác hoàn toàn bởi theo nguyên
tắc kế toán việc điều chỉnh số liệu trên hóa đơn có thể diễn ra sau khi ký biên
bản xác nhận đối chiếu công nợ. Ông Nguyễn Viết Hạnh xác nhận bổ sung đồng
ý để Công ty Toàn cầu xuất hóa đơn số 00002601 ngày 19/11/2024 số tiền
24.749.064 đồng hiện đang vi phạm tại thỏa thuận nguyên tắc ký ngày
05/11/2024 giữa các cổ đông của Công ty may Thành Hưng với tư cách là bên
bán và Công ty TNHH thương mại xuất nhập khẩu Sortuda là bên mua tại điểm
h, Điều 7 “Bên bán cam kết cho khoảng thời gian ký hợp đồng chuyển nhượng
cổ phần cho đến khi hoàn tất giao dịch bên bán không thực hiện bất kỳ giao dịch
nào làm phát sinh nghĩa vụ nợ phải trả, nghĩa vụ nợ phải trả tiền hàng cho công
nợ”. Việc xác định trách nhiệm, nghĩa vụ kế thừa khi nhận chuyển nhượng
Công ty Sortuda Việt Nam hoàn toàn sẽ nghiêm túc chấp hành nhưng trên cơ sở
hai bên phải tiến hành đối chiếu công khai hồ sơ gốc để công nhận đồng nhất
mọi khoản công nợ. Hiện Công ty Sortuda Việt Nam gặp việc khó khăn chưa
nhận được bất kỳ bàn giao từ ông Nguyễn Viết Hạnh (nguyên đại diện pháp lý
của Công ty may Thành Hưng) nên đề nghị Công ty Toàn Cầu phối hợp đối
chiếu toàn bộ quá trình phát sinh công nợ.
Công ty Sortuda Việt Nam nhất trí với số tiền công nợ 244.066.679 đồng
(hai trăm bốn mươi bốn triệu, không trăm sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm bảy
mươi chín đồng) đã được Công ty may Thành Hưng và Công ty TNHH thương
4
mại xuất nhập khẩu Sortuda đối chiếu ký biên bản. Không nhất trí với số tiền
24.749.064 đồng theo hóa đơn giá trị gia tăng số 00002601 ngày 19/11/2024 vì
không được Công ty may Thành Hưng bàn giao khoản nợ này.
Quá trình giải quyết vụ án ông Hoàng Đức Thọ người đại diện theo ủy
quyền của ông Nguyễn Viết Hạnh trình bày: Trước đây ông Nguyễn Viết Hạnh
là Giám đốc Công ty may Thành Hưng có ký Hợp đồng nguyên tắc số
199/TC/TH/2023 ngày 16/01/2023 với Công ty Toàn Cầu. Ngày 19/11/2024
Ông Nguyễn Viết Hạnh ký bản xác nhận công nợ với Công ty Toàn Cầu là
268.815.743 đồng (Hai trăm sáu mươi tám triệu, tám trăm mười lăm nghìn, bảy
trăm bốn mươi ba đồng)
Tháng 11 năm 2024, Công ty may Thành Hưng bán chuyển nhượng toàn
bộ cổ phần cho Công ty TNHH thương mại xuất nhập khẩu Sortuda do bà Zhang
Dandan là người đại diện theo pháp luật, sau đó Công ty đã chuyển đổi hình
thức thành Công ty TNHH một thành viên và Công ty Sortuda Việt Nam là đơn
vị tiếp nhận tư cách pháp nhân của Công ty may Thành Hưng, vì vậy phải có
trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Công ty Toàn Cầu.
Theo Bảng kê chi tiết công nợ giữa các cổ đông cũ của Công ty may Thành
Hưng và có chữ ký xác nhận của bà Zhang Dandan và ông Nguyễn Viết Hạnh
ngày 26/11/2024 số tiền nợ Công ty Toàn Cầu là 244.066.679 đồng (Hai trăm
bốn mươi bốn triệu không trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm bảy mươi chín
đồng). Ngoài ra còn phát sinh khoản nợ khác ngày 13/11/2024 Công ty may
Thành Hưng có mua hàng theo hóa đơn giá trị gia tăng số 00002601 với số tiền
là 24.794.064 đồng (đã bao gồm thuế VAT) ông Hạnh có xác nhận. Do Công ty
may Thành Hưng gặp nhiều khó khăn trong kinh doanh dẫn đến phải chuyển đổi
loại hình doanh nghiệp, sở hữu doanh nghiệp nên đề nghị Công ty Toàn Cầu
miễn lãi cho khoản nợ trên.
Tại Bản án sơ thẩm số 06/2026/KDTM -ST ngày 11/6/2026 của Tòa án
nhân dân Khu vực 1 - Thái Nguyên đã xét xử và quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 30, Điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 117, Điều
119 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 24, Điều 50, Điều 306 Luật Thương mại năm
2005;
Căn cứ Điều 11, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày
11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH sản xuất thương mại tổng
hợp Toàn Cầu.
5
Buộc Công ty TNHH kinh doanh thương mại xuất nhập khẩu Sortuda Việt
Nam phải trả cho Công ty TNHH sản xuất thương mại tổng hợp Toàn Cầu tổng
số tiền 329.023.105 đồng (Ba trăm hai mươi chín triệu không trăm hai mươi ba
nghìn một trăm linh năm đồng). Trong đó: Số tiền nợ gốc là 268.815.743 đồng
và tiền lãi chậm trả là 60.207.362 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (12/6/2026) Công ty TNHH
kinh doanh thương mại xuất nhập khẩu Sortuda Việt Nam còn phải tiếp tục trả
khoản tiền lãi cho của Công ty TNHH sản xuất thương mại tổng hợp Toàn Cầu
đối với số tiền 268.815.743 đồng (Hai trăm sáu mươi tám triệu tám trăm mười
lăm nghìn bảy trăm bốn mươi ba đồng) theo mức lãi suất 15%/năm cho đến khi
thanh toán xong khoản nợ.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền thi hành án và
quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bà ZHANG DAN DAN - đại diện theo pháp luật
của Công ty TNHH Kinh doanh thương mại Xuất nhập khẩu Sortuda Việt Nam
có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm với lý do Toà án nhân dân khu vực 1
xét xử chưa khách quan, gây thiệt hại kinh tế cho Công ty. Đề nghị Toà án xem
xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên toà, người đại diện theo uỷ quyền của Công ty Sortuda giữ
nguyên nội dung kháng cáo và trình bày các căn cứ kháng cáo:
Công ty có nhận chuyển nhượng của ông Hạnh và các cổ đông thuộc Công
ty may Thành Hưng. Bị đơn nhất trí trả số tiền 244.066.679 đồng, không nhất trí
trả số tiền lãi chậm trả và khoản nợ 24.794.064 đồng, theo hoá đơn giá trị gia
tăng số 00002601 ngày 13/11/2024 vì bị đơn không được Công ty may Thành
Hưng chuyển giao khoản nợ này.
Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Không nhất trí với nội dung kháng
cáo của bị đơn, đề nghị HĐXX giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu quan điểm:
Thẩm phán chủ tọa phiên toà, Hội đồng xét xử và các đương sự chấp hành đúng
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận
kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH Kinh doanh thương mại Xuất nhập khẩu
Sortuda Việt Nam; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; sau khi nghe
đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[2.1]. Đơn kháng cáo của Công ty Sortuda Việt Nam đảm bảo về hình thức
và làm trong hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
6
[2.2]. Về sự có mặt, vắng mặt của đương sự: Tại phiên toà phúc thẩm,
những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng
mặt. Hội đồng xét xử nhận thấy, những người vắng mặt đã được Tòa án triệu tập
hợp lệ lần thứ 2, quá trình giải quyết vụ án đã có lời khai lưu trong hồ sơ vụ án
do đó việc vắng mặt những người trên không ảnh hưởng tới việc giải quyết vụ
án, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng
mặt những người trên.
[2]. Về nội dung: Xét kháng cáo của Công ty Sortuda Việt Nam về việc
kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm với lý do Toà án nhân dân khu vực 1 – Thái
Nguyên
xét xử chưa khách quan, gây thiệt hại kinh tế cho Công ty. HĐXX nhận định:
[2.1]. Về xác định khoản nợ giữa Công ty Toàn cầu và Công ty Sortuda:
Ngày 16/01/2023 Công ty Toàn Cầu và Công ty may Thành Hưng đã ký hợp
đồng nguyên tắc số 199TC/TH/2023, theo đó Công ty Toàn Cầu cung cấp cho
Công ty may Thành Hưng các mặt hàng ống lõi giấy, bao bì carton và các loại
giấy dùng cho ngành may. HĐXX thấy Hợp đồng nguyên tắc số
199TC/TH/2023 đảm bảo về hình thức và nội dung đúng quy định của pháp luật,
quá trình thực hiện hợp đồng Công ty Toàn Cầu đã cung cấp các mặt hàng cho
Công ty May Thanh Hưng theo yêu cầu và thỏa thuận thể hiện tại phiếu xuất
kho và Hóa đơn giá trị gia tăng. Ngày 19/11/2024, Công ty Toàn Cầu và Công
ty may Thành Hưng cùng nhau đối chiếu công nợ và ký 02 Bảng xác nhận công
nợ, gồm: Bảng xác nhận công nợ với số dư nợ là: 244.066.679 đồng (Bút lục số
67) và bảng xác nhận công nợ phát sinh trong tháng (từ ngày 01/11/2024 đến
ngày 19/11/2024), với số dư nợ là 24.749.064 đồng (Bút lục 66). Tại biên bản
làm việc ngày 27/01/2026, ông Nguyễn Văn Hạn là người đại diện theo pháp
luật của Công ty may Thành Hưng cũng thừa nhận khoản nợ nêu trên (Bút lục số
126). Như vậy có căn cứ xác định quá trình thực hiện hợp đồng nguyên tắc số
199TC/TH/2023 ngày 16/01/2023 Công ty may Thành Hưng nợ Công ty Toàn
cấu số tiền 268.815.743 đồng.
[2.2]. Về nghĩa vụ của Công ty Sortuda đối với khoản nợ của Công ty may
Thành Hưng: Ngày 26/11/2024 các cổ đông của Công ty may Thành Hưng gồm
ông Nguyễn Viết Hạnh (sở hữu 72,2% vốn điều lệ), bà Vũ Thị Thanh Thuý (sở
hữu 7,8% vốn điều lệ), bà Đỗ Thị Thoan (sở hữu 20% vốn điều lệ) đã thực hiện
chuyển nhượng toàn bộ số cổ phần thuộc quyền sở hữu cho công ty TNHH
thương mại xuất nhập khẩu Sortuda (là công ty có vốn đầu tư nước ngoài, trụ sở
tại Hải Phòng). Sau khi chuyển nhượng các bên đã thực hiện đăng ký thay đổi
đăng ký kinh doanh, nội dung thay đổi gồm: Chuyển đổi loại hình doanh nghiệp
từ Công ty cổ phần thành Công ty TNHH một thành viên do chuyển nhượng cổ
phần của các cổ đông dẫn đến chỉ còn 01 thành viên công ty. Nhà đầu tư góp
vốn là Công ty TNHH thương mại xuất nhập khẩu Sortuda, người đại diện theo
pháp luật là bà Zang Dandan. Ngày 05/01/2025, Phòng Đăng ký kinh doanh
thuộc Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Thái Nguyên đã ban hành Giấy chứng nhận
đăng ký doanh nghiệp công ty TNHH một thành viên, đăng ký thay đổi lần thứ
10, xác nhận nội dung đăng ký thay đổi đăng ký kinh doanh. Theo đó, tên công
7
ty là Công ty TNHH kinh doanh thương mại xuất nhập khẩu Sortuda Việt Nam
(địa chỉ trụ sở chính: Xóm Cầu Gỗ, xã Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên) và thông tin
chủ sở hữu là Công ty TNHH thương mại xuất nhập khẩu Sortuda (địa chỉ: Tầng
1, số nhà 12, đường số 8, khu đô thị ven sông Lạch Tray, phường là phường Lê
Chân, thành phố Hải Phòng). Việc chuyển nhượng cổ phần giữa các cổ đông của
công ty cổ phần may Thành Hưng với công ty TNHH thương mại xuất nhập
khẩu Sortuda đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Căn cứ Điều 203 Luật
Doanh nghiệp năm 2020 thì khi chuyển đổi công ty cổ phần thành công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành viên “4. Công ty chuyển đổi đương nhiên kế thừa toàn
bộ quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ, gồm cả nợ
thuế, hợp đồng lao động và nghĩa vụ khác của công ty được chuyển đổi.”. Toà
án cấp sơ thẩm nhận định Công ty TNHH kinh doanh thương mại xuất nhập
khẩu Sortuda Việt Nam là đơn vị kế thừa toàn bộ quyền và nghĩa vụ Công ty
may Thành Hưng nên phải thực hiện nghĩa vụ trả khoản nợ của Công ty may
Thành Hưng đối với Công ty Toàn Cầu là có căn cứ.
[2.3]. Về khoản tiền nợ 24.749.064 đồng theo Bảng xác nhận công nợ phát
sinh trong tháng từ ngày 01/11/2024 đến ngày 19/11/2024, HĐXX thấy rằng: Bị
đơn cho rằng khoản nợ này được Công ty Toàn Cầu và Công ty May Thành
Hưng xác nhận ngày 19/11/2024 nhưng không có trong danh sách bảng kê chi
tiết các khoản nợ của Công ty May Thành Hưng kèm theo Bản thỏa thuận ngày
26/11/2024; khoản nợ này không được chuyển giao cho Công ty Sortuda Việt
Nam nên Công ty Sortuda Việt Nam không có nghĩa vụ thanh toán. Tuy nhiên,
quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn đã cung cấp các
tài liệu, chứng cứ thể hiện việc Công ty May Thành Hưng đặt hàng và Công ty
Toàn Cầu đã thực tế giao hàng, gồm: Nội dung đặt hàng qua email ngày
22/7/2022 của Công ty May Thành Hưng; Phiếu xuất kho ngày 25/7/2024
(BL84) có đầy đủ chữ ký của người giao và người nhận hàng; Hóa đơn giá trị
gia tăng số 00002601 ngày 13/11/2024 (BL91), khoản nợ này cũng đã được
được Công ty May Thành Hưng và Công ty Toàn Cầu xác nhận tại Bảng xác
nhận công nợ phát sinh trong tháng từ ngày 01/11/2024 đến ngày 19/11/2024.
Do đó có căn cứ xác định giao dịch mua bán hàng hóa giữa Công ty May Thành
Hưng và Công ty Toàn Cầu đã được thực hiện trên thực tế, hàng hóa đã được
giao nhận và nguyên đơn đã xuất hóa đơn giá trị gia tăng. Mặc dù khoản công
nợ này không được liệt kê trong bảng kê chi tiết các khoản nợ kèm theo Bản
thỏa thuận ngày 26/11/2024 tuy nhiên như đã phân tích trên, Công ty TNHH
kinh doanh thương mại xuất nhập khẩu Sortuda Việt Nam là đơn vị kế thừa toàn
bộ quyền và nghĩa vụ Công ty may Thành Hưng. Do đó, việc bị đơn cho rằng
khoản nợ này không được bàn giao nên không có nghĩa vụ thanh toán là không
có cơ sở chấp nhận. Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn thanh toán cho nguyên đơn
số tiền 24.749.064 đồng là có căn cứ.
[2.4]. Đối với yêu cầu về việc bị đơn trả số tiền lãi chậm trả: Nguyên đơn
yêu cầu bị đơn phải trả số tiền lãi chập trả theo quy định của pháp luật. Thời
điểm tính lãi chậm trả từ ngày 14/12/2024 đến ngày Tòa án xét xử vụ án
11/6/2026. Sau ngày xét xử sơ thẩm Công ty Sortuda Việt Nam vẫn phải tiếp tục
8
chịu lãi suất theo quy định. HĐXX nhận định: Theo Điều 306 Luật Thương mại
năm 2005, trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng thì bên
bị vi phạm có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá
hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán, tương ứng với thời gian
chậm trả, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định
khác.
Về lãi suất, tại khoản 4.2 hợp đồng nguyên tắc số 199TC/TH/2023 các bên
thỏa thuận “4.2. Trường hợp bên A thanh toán cho bên B không đúng thời hạn
đã ghi trong hợp đồng thì bên A phải chịu lãi suất quá hạn cho bên B đúng bằng
lãi suất quá hạn của ngân hàng nhà nước quy định...”. Tuy nhiên, Ngân hàng
nhà nước không quy định một mức lãi suất nợ quá hạn cố định do đó không có
căn cứ để xác định mức lãi suất theo thỏa thuận của các bên nên áp dụng Điều
11 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao để tính mức lãi suất, cụ thể đối với tranh chấp về
tiền lãi do chậm thanh toán theo Điều 306 Luật Thương mại năm 2005, Tòa án
xác định lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường bằng mức lãi suất nợ quá
hạn trung bình của ít nhất 03 ngân hàng thương mại tại địa phương nơi Tòa án
giải quyết vụ án tại thời điểm xét xử. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thu
thập thông tin về mức lãi suất của 03 ngân hàng gồm: Ngân hàng TMCP Công
thương Việt Nam - Chi nhánh Lưu Xá; Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt
Nam - Chi nhánh Thái Nguyên và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn Việt Nam - Chi nhánh Nam Thái Nguyên. Theo thông tin do các ngân hàng
cung cấp, tại thời điểm tháng 5/2026, mức lãi suất cho vay thông thường từ
8%/năm đến 12%/năm, mức trung bình là 10%/năm; lãi suất nợ quá hạn được
xác định bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn, tương ứng 15%/năm. HĐXX xét
thấy, việc xác định mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường phải căn
cứ vào thông tin lãi suất thực tế do các ngân hàng cung cấp tại thời điểm xét xử.
Trường hợp cả 03 ngân hàng đều xác định lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi
suất cho vay trong hạn và mức lãi suất cho vay trong hạn trung bình của 03 ngân
hàng là 10%/năm thì mức lãi suất nợ quá hạn được xác định là 15%/năm. Do đó,
Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng mức lãi suất 15%/năm để tính lãi chậm thanh toán
trong vụ án là có căn cứ.
Về thời điểm tính lãi, theo Điều 4 của Hợp đồng nguyên tắc số
199TC/TH/2023, bên mua có nghĩa vụ thanh toán trong thời hạn 30 ngày kể từ
ngày nhận đầy đủ hóa đơn giá trị gia tăng hợp pháp và các chứng từ theo thỏa
thuận. Ngày 13/11/2024 là ngày nguyên đơn giao hóa đơn giá trị gia tăng cuối
cùng. Như vậy, thời hạn thanh toán 30 ngày kết thúc vào ngày 13/12/2024. Kể
từ ngày 14/12/2024, bị đơn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán thì phải chịu lãi
do chậm thanh toán. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu tính lãi từ ngày 14/12/2024
đến ngày xét xử sơ thẩm là có căn cứ, bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số
tiền lãi chậm trả trên thời gian chậm trả, cụ thể: 268.815.743 đồng x 15%/năm x
545 ngày = 60.207.362 đồng (Sáu mươi triệu hai trăm linh bảy nghìn ba trăm
sáu mươi hai đồng).
9
Về lãi suất chậm trả kể từ ngay tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, HĐXX
thấy đây là nghĩa vụ chậm thanh toán tiền hàng phát sinh từ hợp đồng mua bán
hàng hóa thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Thương mại. Khoản 4.2 Hợp đồng
thể hiện các bên có thỏa thuận về nghĩa vụ chịu lãi khi chậm thanh toán, không
xác định được mức lãi suất cụ thể để áp dụng. Do đó, căn cứ Điều 306 Luật
Thương mại năm 2005, Điều 11 và điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số
01/2019/NQ-HĐTP, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi
thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số
tiền chậm thanh toán còn phải thi hành theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình
trên thị trường tại thời điểm thanh toán theo quy định tại Điều 306 Luật Thương
mại như phân tích ở trên là 15%/năm
[3] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Toà án cấp sơ thẩm chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Toàn Cầu. Buộc Công ty Sortuda Việt Nam
phải trả cho Công ty Toàn Cầu tổng số tiền 329.023.105 đồng gồm nợ gốc là
268.815.743 đồng và tiền lãi chậm trả là 60.207.362 đồng và buộc Công ty
Sortuda Việt Nam còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi cho của Công ty Toàn Cầu
đối với số tiền 268.815.743 đồng (Hai trăm sáu mươi tám triệu tám trăm mười
lăm nghìn bảy trăm bốn mươi ba đồng) theo mức lãi suất 15%/năm cho đến khi
thanh toán xong khoản nợ là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Kháng
cáo bị đơn Công ty Sortuda Việt Nam không có căn cứ, cần bác kháng cáo, giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
[4]. Đối với Văn bản kiến nghị của Công ty Sortuda Việt Nam nộp cho Toà
án ngày 10/9/2026, như đã phân tích ở trên là không có căn cứ chấp nhận.
Đối với nghĩa vụ và trách nhiệm của ông Nguyễn Viết Hạnh – Giám đốc
Công ty Thành Hưng (cũ), nếu có các vi phạm hoặc làm ảnh hưởng đến quyền
lợi hoặc gây thiệt hại cho Công ty Sortuda Việt Nam thì Công ty có quyền khởi
kiện ông Hạnh bằng một vụ án dân sự khác.
[5] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại
phiên tòa là có căn cứ chấp nhận
[6] Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Bị đơn Công ty Sortuda Việt Nam kháng cáo không được chấp nhận, HĐXX giữ
nguyên bản án sơ thẩm nên phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm,
được trừ vào tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH Kinh doanh
thương mại xuất nhập khẩu Sortuda Việt Nam. Giữ nguyên Bản án kinh doanh
10
thương mại sơ thẩm số 06/2026/KDTM-ST ngày 11/6/2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 1 - Thái Nguyên.
2. Án phí phúc thẩm: Bị đơn Công ty TNHH Kinh doanh thương mại xuất
nhập khẩu Sortuda Việt Nam phải chịu 2.000.000đ (hai triệu đồng) tiền án phí
kinh doanh thương mại phúc thẩm, được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp theo
biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0002743 ngày 22/6/2026 của Thi
hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 6, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án
dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi
hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- TAND khu vực 1 - Thái Nguyên;
- Phòng THADS khu vực 1- Thái Nguyên;
- THADS tỉnh Thái Nguyên;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Mạnh Toàn
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 11/2026/KDTM-PT Bản án số 11/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 11/2026/KDTM-PT Bản án số 11/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất