Bản án số 11/2024/KDTM-PT ngày 05/04/2024 của TAND cấp cao tại TP.HCM về tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 11/2024/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 11/2024/KDTM-PT ngày 05/04/2024 của TAND cấp cao tại TP.HCM về tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND cấp cao tại TP.HCM
Số hiệu: 11/2024/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 05/04/2024
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: CHẤP NHẬN KHÁNG CÁO, SỮA BẢN ÁN SƠ THẨM
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 11/2024/KDTM-PT
Ngày: 05-4-2024
V/v tranh chấp giữa người chưa
phải là thành viên của công ty nhưng có
giao dịch về chuyển nhượng vốn góp với
thành viên công ty.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Khoa
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Minh
Ông Đặng Văn Ý
- Thư phiên tòa: Ông n Duẩn, Thư Tòa án nhân dân cấp cao
tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ba Duy, Kiểm sát viên.
Ngày 05/4/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí
Minh xét xphúc thẩm công khai vụ án thụ số 69/2023/TLPT-KDTM ngày
21/8/2023 về việc “Tranh chấp giữa người chưa phải thành viên của ng ty
nhưng có giao dịch về chuyển nhượng vốn góp với thành viên công ty”.
Do Bản án kinh doanh thương mại thẩm số 02/2023/KDTM-ST ngày
29/6/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 440/2024/QĐPT-DS
ngày 04/3/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn H1; Địa chỉ: số B L, phường
A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Kim T, sinh năm 1954; Chức
vụ: Giám đốc (có mặt).
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Dũng T1, sinh năm 1965; Địa chỉ:
số F T, Phường I, quận P, Thành phố H Chí Minh (Văn bản uỷ quyền số
01/12.23/UQTGTT ngày 05/12/2023, có mặt).
- Bị đơn:
1. Bà Phạm Thị Kim A, sinh năm 1977;
2. Ông Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1977;
2
Cùng địa chỉ: số I Đường C, khu phố D, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây
Ninh (cùng vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp: Nguyễn Bích C, sinh năm 1998; Địa chỉ: số
G Đường số B, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Hợp đồng uỷ
quyền ngày 05/01/2024, có mặt).
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Thành T2,
Luật sư của Công ty L, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Công ty Trách nhiệm hữu hạn C1; Địa chỉ: Đường G, khu K, ấp T, xã L,
huyện B, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Xuân H, sinh năm 1984; Chức vụ:
Giám đốc (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
2. Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh T.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Phạm Hồng T3; Chức vụ: Trưởng phòng
Đăng ký kinh doanh (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
3. Ông Thanh P, sinh năm 1973; Địa chỉ: A P, khu phố B, Phường A,
thành phố T, tỉnh Tây Ninh (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người kháng cáo: Công ty TNHH H1 là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Kim T
nguyên đơn người đại diện hợp pháp của ông T ông Thạch Huỳnh N và
ông Thái Vương T4 thống nhất trình bày:
Năm 2016, Công ty TNHH H1 (sau đây viết tắt Công ty H1) mua trúng
đấu giá toàn bộ tài sản của Công ty C1. Sau khi trúng giá, Công ty H1 tiến hành
thực hiện dự án Bãi tập kết phương tiện vận tải chở hàng hóa xuất nhập khẩu
chờ làm thủ tục kiểm tra thông quan với tổng vốn đầu khoảng 50 t đồng
được Phòng đăng ký kinh doanh - Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh T cấp giấy chứng
nhận đăng ký doanh nghiệp thay đổi lần thứ 9, vào ngày 26/9/2019 với tên gọi là
Công ty TNHH C1 (sau đây viết tắt Công ty C1), vốn điều lệ 10,8 tỷ đồng,
gồm hai thành viên góp vốn ng ty H1, vốn góp 9.795.600.000 đồng (chiếm
90,7%), và ông Võ Thanh P, vốn góp 1.004.400.000 đồng (chiếm 9,3%).
Ngày 29/9/2019, Công ty H1 thỏa thuận sang nhượng 51% vốn điều lệ
(tương đương 5.508.000.000 đồng) trong tổng số 90,7% phần vốn góp của Công
ty H1 đã góp vào Công ty C1 bằng Hợp đồng chuyển nhượng vốn p 51% lập
ngày 29/9/2019 kết giữa Công ty H1 Phạm Thị Kim A. Tuy nhiên, giá
trị chuyển nhượng phần góp vốn thực tế 28.050.000.000 đồng. Hai bên tiến
hành lập 02 hợp đồng chuyển nhượng. Trong đó, 01 hợp đồng ghi giá trị chuyển
nhượng 5.508.000.000 đồng, phần góp vốn theo điều lệ để nộp cho Sở Kế
hoạch Đầu Tây Ninh 01 hợp đồng ghi giá trị chuyển nhượng thực tế
3
28.050.000.000 đồng, hợp đồng này không ghi ngày tháng. Thỏa thuận hình
thức thanh toán như sau:
Đợt 1: A thanh toán cho Công ty H1 6.000.000.000 đồng, ngay sau khi
ký kết hợp đồng.
Đợt 2: Bà A thanh toán cho Công ty H1 22.050.000.000 đồng, sau 30 ngày,
kể từ ngày ký kết hợp đồng.
Ngày 21/10/2019 Công ty C1 được cấp giấy chứng nhận đăng doanh,
thay đổi lần thứ 10, cấu thành viên góp vốn như sau: A góp
5.508.000.000, chiếm 51%; ông T góp 4.287.600.000, chiếm 39,7%; ông P góp
1.004.400.000, chiếm 9,3%, người đại diện theo pháp luật là ông H, Giám đốc.
Sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp ngày 21/10/2019,
thì A chỉ chuyển thanh toán vào tài khoản của Công ty H1 04 lần số tiền
6.900.000.000 đồng và 01 lần vào tài khoản của Công ty C1 số tiền 100.000.000
đồng, gồm các lần như sau:
- Ngày 01/11/2019 chuyển cho Công ty H1 700.000.000 đồng;
- Ngày 09/11/2019 chuyển cho Công ty C1 100.000.000 đồng;
- Ngày 11/11/2019 chuyển cho Công ty H1 700.000.000 đồng;
- Ngày 12/11/2019 chuyển cho Công ty H1 4.500.000.000 đồng;
- Ngày 29/11/2019 chuyển cho Công ty H1 1.000.000.000 đồng.
Còn lại số tiền 21.050.000.000 đồng A không thanh toán tiếp cho Công
ty H1. Bà A đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán thỏa thuận ghi trong hợp đồng.
Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu:
1. Hủy hợp đồng chuyển nhượng vốn góp 51% (trên tổng vốn điều lệ Công
ty C1) lập ngày 29/9/2019 ký kết giữa Công ty H1 và bà A.
2. Tuyên bố A không phải thành viên vốn góp của Công ty C1 và
Công ty H1 đồng ý hoàn trả cho A số tiền 7.000.000.000 đồng, đồng ý trả
tiền lãi theo quy định.
3. Hủy giấy chứng nhận đăng doanh nghiệp số 3900357696 của Phòng
đăng kinh doanh thuộc Sở kế hoạch Đầu tỉnh T cấp ngày 06/8/2004;
thay đổi lần thứ 10 ngày 21/10/2019 cấp cho Công ty C1.
4. Yêu cầu Sở kế hoạch Đầu tỉnh T cấp lại giấy chứng nhận đăng
doanh nghiệp mới với nội dung có thay đổi về thành viên góp vốn vào Công ty
C1.
Ngày 28/10/2020 nguyên đơn thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện, cụ thể:
Buộc bà A ông Đồng thanh t cho Công ty H1 số tiền 21.050.000.000 đồng và
lãi suất theo quy định của pháp luật (10%/năm) từ ngày 21/10/2019 cho đến khi
xét xử sơ thẩm.
4
Phạm Thị Kim A ông Nguyễn Thành Đ, có người đại diện hợp pháp
là bà Nguyễn Thành N1 bày:
Giữa Công ty H1 A hợp đồng chuyển nhượng phần góp vốn
vào Công ty C1. Cụ thể Công ty H1 chuyển nhượng cho A 51% vốn điều l
(tương đương 5.508.000.000 đồng), trong tổng số 90,7% vốn điều lệ của của
Công ty H1 đã góp vào Công ty C1. Quá trình thực hiện việc chuyển nhượng
như sau:
Ngày 20/9/2019 Công ty C1 họp Hội đồng thành viên, lập biên bản số
63/2019/BB-HĐTV (có chữ của ông T, ông P ông H) ban hành Nghị
quyết số 64/2019/NQ-HĐTV thông qua việc đồng ý cho Công ty H1 chuyển
nhượng cho bà A giá trị vốn góp 5.508.000.000 đồng tương đương t l51%
trên tổng vốn điều lệ của Công ty C1 thông qua việc bổ sung thành viên mới
A vào Hội đồng thành viên của Công ty C1 mà không làm thay đổi vốn
điều lệ ban đầu của Công ty C1.
Ngày 29/9/2019, Công ty H1 do ông T m đại diện hợp đồng chuyển
nhượng cho bà A phần vốn góp 5.508.000.000 đồng tương đương tỷ lệ 51% trên
tổng vốn điều lệ Công ty C1. Nên từ ngày 01 đến 12/11/2019 A đã chuyển
cho Công ty H1 số tiền 6.000.000.000 đồng. Trong đó, bà A đã chuyển tiền góp
vốn mua cổ phần Công ty C1 số tiền 5.508.000.000 đồng 492.000.000 đồng
để đầu xây dựng sở hạ tầng công trình bãi tập kết phương tiện vận tải,
ngày 29/11/2019 A tiếp tục chuyển 1.000.000.000 đồng cho Công ty C1 Bài
để tiếp tục đầu xây dựng sở hạ tầng công trình bãi tập kết phương tiện
vận tải.
Còn việc hợp đồng chuyển nhượng 51% vốn góp không ghi ngày tháng
năm 2019, giá ghi 28.050.000.000 đồng hợp đồng giả tạo; mục đích hai bên
ký hợp đồng này nhằm nâng vốn để vay ngân hàng nhưng không vay được. Việc
làm hợp đồng nâng giá chuyển nhượng không làm tăng vốn vay nên không làm
hồ vay; do hai bên không làm biên bản hủy hợp đồng này do hợp đồng
này không hợp lệ, nên không cần thiết làm biên bản để hủy.
A và ông Đ không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Phạm Hồng T3 người đại diện theo pháp luật của Phòng Đăng
kinh doanh Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh T trình bày:
- Căn cứ khoản 1, khoản 3, khoản 4 Điều 4 Nghị định s01/2021/NĐ-CP
ngày 04/01/2021 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp quy định:
“1. Người thành lập doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp tự kê khai hồ sơ đăng
doanh nghiệp chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp, trung
thực và chính xác của các thông tin kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và
các báo cáo.
3. quan đăng kinh doanh chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của hồ
đăng doanh nghiệp, không chịu trách nhiệm về những vi phạm pháp luật của
doanh nghiệp xảy ra trước và sau khi đăng ký doanh nghiệp.
5
4. Cơ quan đăng kinh doanh không giải quyết tranh chấp giữa các thành
viên, cđông của công ty với nhau hoặc với tổ chức, nhân khác hoặc giữa
doanh nghiệp với tổ chức, cá nhân khác”.
- Căn cứ khoản 4 Điều 30 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định về đăng
ký thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp:
“4. Đăng ký thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo
quyết định của Tòa án hoặc Trọng tài thực hiện theo trình tự, thủ tục sau đây:
a) Người đề nghị đăng thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng
doanh nghiệp gửi đề nghị đăng thay đổi đến quan đăng kinh doanh
thẩm quyền trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án
hiệu lực pháp luật hoặc phán quyết của Trọng tài hiệu lực. Kèm theo hồ
đăng ký phải gồm bản sao bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp
luật hoặc phân quyết của Trọng tài có hiệu lực;
b) Trong thời hạn 03 ngày m việc kể tngày nhận được đnghị đăng ký
quy định tại điểm a khoản này, Cơ quan đăng ký kinh doanh có trách nhiệm xem
xét cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mới theo nội dung bản án,
quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc phán quyết của Trọng tài có
hiệu lực; trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ, Cơ quan đăng ký kinh doanh phải thông
báo bằng văn bản nội dung cần sửa đổi, bổ sung cho người đề nghị đăng ký thay
đổi. Trường hợp từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng doanh nghiệp mới thì
phải thông báo bằng văn bản cho người đề nghị đăng thay đổi nêu
do”.
- Căn cứ khoản 5 Điều 75 Nghị định số 01/2021/NĐ-CP ngày 04/01/2021
quy định:
“5. Trường hợp Tòa án quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh
nghiệp, Phòng Đăng kinh doanh ra quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng
doanh nghiệp trên sở quyết định của Tòa án trong thời hạn 03 ngày m
việc kể từ ngày Phòng Đăng ký kinh doanh nhận được quyết định của Tòa án”.
Phòng Đăng kinh doanh - Sở Kế hoạch và Đầu tỉnh T sẽ thực hiện
theo quyết định của Tòa án ghi cụ thể nội dung bản án đề nghị thu hồi/khôi
phục thông tin Giấy chứng nhận đăng doanh nghiệp do Phòng Đăng kinh
doanh - Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp lần nào.
- Ông Võ Thanh P người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày:
Ông P là thành viên góp vốn vào Công ty C1 theo giấy chứng nhận thay đổi
lần thứ 9 ngày 26/9/2019, giá trị vốn góp là 1.004.400.000 đồng, chiếm 9,3%
vốn điều lệ. Tháng 9/2019, Công ty H1 chuyển nhượng 51% vốn góp (tương
đương 5.508.000.000 đồng) trong tổng số 90,7% vốn góp vào Công ty C1 cho
A. Sau đó, ông P vào biên bản họp Hội đồng thành viên để thực hiện
thủ tục thêm thành viên A. Ngày 21/10/2019 Công ty C1 đăng ký thay đổi
chứng nhận kinh doanh lần thứ 10 gồm 3 thành viên góp vốn: Công ty H1
(39,7%); bà A (51%); ông P (9,3%) riêng việc thỏa thuận chuyển nhượng giá trị
6
giữa Công ty H1 A cụ thể như thế nào ông không biết. Việc tranh chấp
giữa Công ty H1 và bà A ông không có ý kiến, đề nghị giải quyết theo quy định.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan - Công ty C1 do ông Lê Xuân H
đại điện trình bày:
Vào thời điểm m 2019, Công ty C1 biết việc sang nhượng phần vốn
góp giữa Công ty H1 bà A. Việc chuyển nhượng 51% vốn điều lệ (tương
đương 5.508.000.000 đồng), trong tổng số 90,7% phần vốn góp của Công ty H1
đã góp vào Công ty C1 cho A theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên,
về giá trị thực tế để chuyển nhượng vốn góp được hai bên trực tiếp thỏa thuận
riêng với nhau. Vì khi trúng đấu giá toàn bộ tài sản của Công ty C1, Công ty H1
đã tiến hành đầu để san lấp mặt bằng, làm đường giao thông nội bộ công
trình khác trên đất nên tổng giá trị tài sản của công ty C1 vào năm 2019 cao hơn
nhiều so với vốn điều lệ.
Ngày 20/9/2019 Công ty C1 họp Hội đồng thành viên thông qua việc đồng
ý cho Công ty H1 chuyển nhượng 51% vốn điều lệ (tương đương 5.508.000.000
đồng), trong tổng số 90,7% phần vốn góp của Công ty H1 đã góp vào Công ty
C1 cho A thông qua việc bổ sung thành viên mới bà A vào Hội đồng
thành viên của Công ty C1 mà không làm thay đổi vốn điều lệ ban đầu của Công
ty C1.
Việc họp Hội đồng thành viên công ty đảm bảo thủ tục thay đổi thành
viên, tăng thành viên của công ty nhưng không làm thay đổi vốn điều lệ ban đầu
của công ty theo đúng quy định của pháp luật. Còn giá trị thực tế để chuyển
nhượng vốn góp thì được hai bên thỏa thuận riêng với nhau.
Tại thời điểm Công ty H1 chuyển nhượng vốn góp cho bà A thì Công ty C1
không nhu cầu tăng vốn điều lệ vẫn giữ nguyên vốn điều lệ
10.800.000.000 (mười tỷ tám trăm triệu) đồng.
Việc A trình bày với Công ty H1 01 hợp đồng chuyển nhượng
51% vốn góp không ghi ngày tháng năm 2019, giá ghi 28.050.000.000 đồng
giả tạo, mục đích nhằm nâng vốn điều lệ công ty để vay vốn ngân hàng là không
đúng. thời điểm đó công ty không nhu cầu vay vốn ngân hàng cũng
không có tổ chức họp Hội đồng thành viên thông qua việc tăng vốn điều lệ cũng
như không ban hành bất cứ nghị quyết, quyết định bào về việc tăng vốn điều
lệ.
Về việc bà A nói chuyển thêm 1.492.000.000 đồng cho Công ty H1 để tăng
vốn đầu sở hạ tầng công trình bãi tập kết phương tiện vận tải của Công ty
C1 là không đúng. Ngoài ra, Công ty C1 không nhận được số tiền 1.492.000.000
đồng nào từ bà A như phía bị đơn trình bày.
Về số tiền 100.000.000 đồng A chuyển nhầm vào tài khoản của Công ty
C1 với nội dung chuyển khoản là “chuyển tiền mua cổ phần”. Việc này Công ty
C1 đã thông báo, trao đổi với A và Công ty H1 thì được hai bên thống nhất
xác nhận bà A chuyển cho Công ty H1 để thanh toán tiền mua vốn góp, Công ty
C1 đã chuyển trả lại số tiền này cho Công ty H1.
7
Vụ án đã được xét xử sơ thẩm tại bản án kinh doanh thương mại số
01/2020/KDTM-ST, ngày 18/12/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Tại bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 07/2022/KDTM-PT, ngày
25/01/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, đã hủy
toàn bộ bản án kinh doanh thương mại thẩm số 01/2020/KDTM-ST, ngày
18/12/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, giao hồ về cho Tòa án nhân
dân tỉnh Tây Ninh giải quyết lại theo thủ tục chung.
Ngày 10/10/2022 Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh thụ lý lại vụ án.
Diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm lần thứ 2:
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện
và các ý kiến đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án:
Yêu cầu bà A, ông Đ phải trả cho Công ty H1 số tiền 21.050.000.000 đồng
tiền góp vốn còn nợ lãi suất theo quy định của pháp luật (10%/năm) từ ngày
21/10/2019 cho đến khi bản án hiệu lực, được tạm tính đến khi xét x
thẩm là 7.728.226.833 đồng; tổng cộng là 28.778.226.833 đồng.
Đồng thời người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày ý kiến
tranh luận:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ thì đủ sở để chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; bởi các lý do sau:
- Trên thực tế, các bên đều thừa nhận ký kết hợp đồng chuyển nhượng
phần vốn góp 51% vốn điều lệ Công ty C1 với giá trị chuyển nhượng
28.050.000.000 đồng. Hợp đồng đã được các bên thực hiện được thể hiện như
sau: Công ty C1 đã gửi thông báo và thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi nội dung
đăng doanh nghiệp bổ sung A thành viên mới của Công ty trên thực
tế, A đã thanh toán được số tiền 7.000.000.000 đồng. Đây cũng là căn cứ
chứng minh giá trị chuyển nhượng phần vốn góp là 28.050.000.000 đồng, không
phải là 5.508.000.000 đồng.
- Căn cứ hồ trúng đấu giá và chuyển nhượng thì tổng giá trị Công ty H1
nhận chuyển nhượng phần vốn góp tại Công ty C1 của Tổng Công ty T6 và
Tổng Công ty B năm 2016, 2017 11.208.409.000 đồng. Ngoài giá trị phần
vốn góp của các thành viên thì Công ty C1 còn thực hiện dự án “Bãi tập kết
phương tiện vận tải chở hàng hóa xuất nhập khẩu chờ làm thtục kiểm tra hàng
hóa thông quan...” với mức vốn đầu tạm nh 50 tỷ đồng. Tính đến ngày
28/4/2020 theo chúng thư thẩm định giá số 0869/2020/CT.VASKA của Công ty
TNHH T7 thì giá trị các hạng mục của dự án đã thực hiện đầy có đủ hồ sơ thanh
toán là: 17.886.000.000 đồng.
- Căn cứ vào Báo cáo tài chính năm 2019 đã được kiểm toán thì tổng giá trị
tài sản của Công ty C1 30.107.958.919 đồng Báo cáo tài chính năm 2020
thì tổng giá trị tài sản là 32.550.827.446 đồng.
Do đó, với giá trị tài sản dán Công ty C1 đang thực hiện như đã nêu
trên thì không có căn cứ để xác định Công ty H1 chuyển nhượng 51% vốn Điều
8
lệ cho A với giá 5.508.000.000 đồng. Đồng thời hoàn toàn đủ căn cứ
chứng minh giá trị chuyển nhượng phần vốn góp nêu trên 28.050.000.000
đồng.
Ngoài ra, các ý kiến do phía bị đơn đưa ra, không chứng cứ chứng
minh và không phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ:
- Thứ nhất: Việc phía bị đơn căn cứ vào Hợp đồng chuyển nhượng phần
vốn góp đã nộp cho Sở Kế hoạch Đầu tư tỉnh Tây Ninh vốn Điều lệ của
Công ty để xác định giá trị chuyển nhượng phần vốn góp là 5.508.000.000 đồng
là không phù hợp với tình hình thực tế hoạt động kinh doanh cũng như giá trị tài
sản của Công ty C1 như đã phân tích trên.
- Việc kết hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp 51% vốn Điều lệ với
giá trị 5.508.000.000 đồng chỉ thủ tục để phù hợp với mức vốn Điều lệ Công
ty đã đăng 10.800.000.0000 đồng. Điều này không làm ảnh hưởng đến
quyền và lợi ích hợp pháp của thành viên mới. Như vậy, vốn Điều lệ không phản
ánh được giá trị tài sản của Doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định trong quá
trình hoạt động kinh doanh. Giá trị tài sản của doanh nghiệp sẽ được xác định
trên sBáo cáo tài chính hàng năm hoặc trên sở kiểm toán của Công ty.
Và như vậy, việc thỏa thuận giá trị chuyển nhượng phần vốn góp sẽ dựa trên giá
trị tài sản của Công ty trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận của các bên. Hay còn gọi
giá thị trường theo quy định tại Mục 11 Điều 4 về “Giải thích từ ngữ” của
Luật Doanh nghiệp 2014: “Giá thị trường của phần vốn góp hoặc cổ phần giá
giao dịch trên thị trường cao nhất ngày hôm trước, giá thỏa thuận giữa người
bán người mua, hoặc gdo một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp xác
định”.
- Thứ hai: Vý kiến bị đơn cho rằng việc chuyển số tiền 1.492.000.000
đồng để thực hiện dán đầu tư bãi tập kết không đúng. Bởi do việc huy
động vốn để đầukinh doanh phải được thực hiện trên cơ sở Quyết định thông
qua của Hội đồng thành viên về số vốn huy động, hình thức huy động. Quá trình
giải quyết vụ việc, đại diện Công ty C1 đã xác nhận không việc vay vốn của
A. Đồng thời, phía bà A cũng không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ
liên quan. Mặt khác, nếu việc ng ty C1 vay vốn của A thì số tiền trên
phải được chuyển vào tài khoản của Công ty C1. Tuy nhiên, các hóa đơn chứng
từ chuyển tiền lại thể hiện chuyển vào tài khoản của Công ty H1 mục đích
chuyển là chuyển tiền mua cổ phần 51% Công ty C1.
- Thứ ba: Về ý kiến cho rằng việc kết các hợp đồng chuyển nhượng
phần vốn p với giá trị 28.050.000.000 đồng nhằm mục đích vay vốn Ngân
hàng không thực. Bởi do, n cứ đngân ng chấp thuận cho vay
khách hàng phải chứng minh được mục đích sử dụng, khả năng thanh toán và tài
sản thế chấp. Các hợp đồng ký kết trên không phải căn cứ để ngân hàng cho
vay vốn.
Quá trình giải quyết vụ việc, đại diện Công ty C1 xác nhận không việc
ký kết hợp đồng để vay vốn ngân hàng như phía bị đơn trình bày. Mặt khác, phía
9
A cũng không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho ý kiến
của mình.
Từ những phân tích đánh giá nêu trên cho thấy toàn bý kiến phía bị đơn
nêu hoàn toàn không có căn cứ, không phù hợp với các tài liệu, chứng cứ
trong hồ sơ.
Do đó, việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp 51% vốn điều lệ
Công ty C1 với giá chuyển nhượng 28.050.000.000 đồng hoàn toàn thực.
Giá trị chuyển nhượng nêu trên là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ
sơ. những do đã nêu trên, kính đnghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn.
- Bà Nguyễn Thanh N2 trình bày:
Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giữ nguyên
các ý kiến đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án. Hợp đồng chuyển
nhượng vốn góp không ghi ngày tháng, ghi giá trị chuyển nhượng
28.050.000.000 đồng được hai bên kết không nhằm mục đích chuyển
nhượng, chỉ nhằm mục đích để vay vốn ngân hàng và hợp đồng nêu rõ chỉ có giá
trị khi được chứng nhận của n phòng Công chứng theo thỏa thuận tại Điều 9
của Hợp đồng chuyển nhượng. Do đó, hợp đồng này không gtrị, đề ngh
Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Luật sư Lê Thanh T5 trình bày luận cứ bảo vệ:
Thứ nhất, A thành viên Công ty C1 đúng quy định của pháp luật,
bởi:
Trước khi kết hợp đồng chuyển nhượng vốn góp với A thì Công ty
C1 họp Hội đồng thành viên ngày 20/9/ 2019, thông qua việc bổ sung thành viên
mới A vào Hội đồng thành viên của Công ty C1 mà không làm thay đổi
vốn điều lệ ban đầu của Công ty được các thành viên ng ty đồng ý. Cùng
ngày, Công ty lập biên bản số 63/2019/BB- HĐTV (có chữ của ông T, ông P
ông H), ban hành Nghị quyết số 64/2019/NQ-HĐTV thông qua việc đồng ý
cho Công ty H1 chuyển nhượng cho bà A giá trị vốn góp 5.508.000.000 đồng
tương đương tỷ lệ 51% trên tổng vốn điều lệ của Công ty C1.
Ngày 29/9/2019 Công ty H1 do ông T làm đại diện hợp đồng chuyển
nhượng cho bà A phần vốn góp 5.508.000.000 đồng tương đương tỷ lệ 51% trên
tổng vốn điều lệ Công ty C1, xác nhận của Công ty C1, các bên đã hoàn tất
việc chuyển nhượng theo hợp đồng. Sở Kế hoạch Đầu tỉnh T đã cấp giấy
chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên
trở lên cho Công ty C1, số doanh nghiệp C2, đăng lần đầu ngày
06/8/2004, đăng ký thay đổi lần thứ 10 ngày 21/10/2019 với vốn điều lệ vẫn như
cũ là 10.800.000.000 đồng. Người đại diện theo pháp luật ông H, các thành viên
góp vốn gồm: A góp vốn 5.508.000.000 đồng (51%); ông T p vốn
4.287.600.000 đồng (39,7%) ông P góp vốn 1.004.400.000 đồng (9,3%).
Do đó, Công ty H1 thực hiện việc chuyển nhượng 51% vốn điều lệ của Công ty
C1 cho bà A tuân thủ đúng quy định của pháp luật.
10
Thứ hai, A đã thanh toán đủ stiền nhận chuyển nhượng vốn góp cho
Công ty H1, thể hiện:
Sau khi đăng bổ sung thành viên vào công ty, từ ngày 01 đến
12/11/2019 bà A đã thanh toán cho Công ty H1 03 lần với số tiền 5.900.000.000
đồng. Trong đó, A đã chuyển tiền mua vốn góp tại Công ty C1 số tiền
5.508.000.000 đồng, và 392.000.000 đồng để đầu xây dựng sở hạ tầng
công trình bãi tập kết phương tiện vận tải. Số tiền 100.000.000 đồng chuyển vào
tài khoản của Công ty C1 vào ngày 09/11/2019 do nhân viên kế toán của
Kim A chuyển và có sự nhầm lẫn khi ghi nội dung chuyển khoản. Ngày
29/11/2019, A tiếp tục chuyển 1.000.000.000 đồng để bổ sung vốn đầu tư xây
dựng cơ sở hạ tầng công trình bãi tập kết phương tiện vận tải, việc chuyển khoản
này cũng do nhân viên kế toán của A thực hiện nên nội dung chuyển khoản
ghi có sai sót.
Thứ ba, bản chất Hợp đồng chuyển nhượng giá 28.050.000.000 đồng
không có giá trị pháp lý, vì:
Hợp đồng chuyển nhượng vốn góp không ghi ngày tháng, có ghi g
chuyển nhượng phần vốn góp được ấn định 28.050.000.000 đồng được ký kết
thực chất chỉ nhằm mục đích vay vốn Ngân hàng. Một điều khoản quan trọng để
xác định hợp đồng này giá trị pháp hay không còn căn cứ điều khoản cuối
cùng tại Điều 9 của hợp đồng, cụ thể khoản 9.1 “Hợp đồng có giá trị kể từ ngày
và được sự chứng nhận của Văn phòng Công chứng”. Đối chiếu với hợp
đồng nguyên đơn làm căn cứ khởi kiện thì hai n chưa được Văn phòng
Công chứng nào chứng nhận vào hợp đồng. Nếu thực sự hợp đồng chuyển
nhượng 51% giá trị 28.050.000.000 đồng thì tại sao phải tồn tại điều khoản này.
Nguyên đơn cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ thể hiện nội dung yếu
cầu Kim A cùng thực hiện việc công chứng tại Văn phòng công chứng. Hợp
đồng chuyển nhượng phần vốn góp không bắt buộc công chứng. Việc công
chứng chỉ do các n thỏa thuận để đảm bảo các bên thực hiện theo đúng nội
dung đã kết. Do đó, nếu thực sự hợp đồng chuyển nhượng giá
28.050.000.000 đồng thực sự là sự thỏa thuận giữa hai bên tkhông cần thiết
phải nội dung "Hợp đồng giá trị kể từ ngày và được sự chúng nhận
của Văn phòng Công chúng”. Hoặc giả sử có điều khoản này thì các bên đã thực
hiện thủ tục công chứng để đảm bảo giá trị hợp đồng.
vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bà A ông Đ,
thanh toán cho Công ty H1 số tiền 21.050.000.000 đồng không schấp
nhận. Về yêu cầu tiền lãi, do số tiền gốc không có sở chấp nhận nên đối với
số tiền lãi phía nguyên đơn yêu cầu cũng không schấp nhận. Ngoài ra,
không có căn cứ để yêu cầu tính lãi từ ngày 28/10/2019, bởi lẽ hợp đồng chuyển
nhượng giá 28.050.000.000 đồng không ngày ký kết hợp đồng, hợp đồng
không giá trị pháp lý. Do đó đối với yêu cầu của nguyên đơn hoàn toàn
không có căn cứ để được chấp nhận.
Với các lẽ đã trình bày và phân tích trên, kính đề nghị Hội đồng xét xử
tuyên không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty H1
11
do ông T đại diện theo pháp luật, về việc yêu cầu A ông Đồng thanh t
cho Công ty H1 số tiền 21.050.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh.
Tại Bản án kinh doanh thương mại thẩm số 02/2023/KDTM-ST ngày
29/6/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã tuyên xử:
Căn cứ khoản 4 Điều 30, Điều 37, Điều 38, Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố
tụng dân sự;
Căn cứ Điều 29, Điều 31, Điều 53 Luật Doanh nghiệp;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp, miễn, giảm, quản lý và sử dụng
án phỉ, lệ phí Tòa án,
[1] Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ng ty trách nhiệm hữu hạn
H1 đối với Phạm Thị Kim A ông Nguyễn Thành Đ, về yêu cầu Phạm
Thị Kim A ông Nguyễn Thành Đ trả cho Công ty trách nhiệm hữu hạn H1 số
tiền gốc lãi 28.778.226.833 (hai mươi tám bảy trăm bảy mươi tám triệu,
hai trăm hai mươi sáu nghìn tám trăm ba mươi ba) đồng.
[2] Án phí kinh doanh thương mại thẩm: Công ty trách nhiệm hữu hạn
H1 phải chịu 136.778.226 (một trăm ba mươi sáu triệu, bảy trăm bảy mươi tám
nghìn hai trăm hai mươi sáu) đồng, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp
130.050.000 đồng theo Biên lai thu số 0001432 ngày 03/11/2020 3.000.000
đồng theo biên lai thu số 0001264 ngày 01/4/2020 của Cục Thi nh án dân sự
tỉnh Tây Ninh. Công ty H1 còn phải nộp thêm số tiền 3.728.226 (ba triệu bảy
trăm hai mươi tám nghìn hai trăm hai mươi sáu) đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 11/7/2023, nguyên đơn Công ty H1 kháng cáo toàn bộ bản án
thẩm. Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận
toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Nguyễn Dũng T1 người đại diện hợp pháp của Công ty H1 không
thay đổi, bổ sung, không rút đơn khởi kiện; không thay đổi, bổ sung, giữ nguyên
yêu cầu kháng cáo ban đầu. Các đương sự không tự thoả thuận được với nhau về
việc giải quyết vụ án.
Ông T C (là người đại diện hợp pháp của bị đơn) cùng xác nhận cùng
ngày 29/9/2019 giữa Công ty H1 bà A với nhau 02 hợp đồng chuyển
nhượng vốn góp như tài liệu Công ty H1 đã cung cấp trong quá trình giải
quyết vụ án. Cụ thể, 01 hợp đồng ngày 29/9/2019 ghi giá chuyển nhượng
5.508.000.000 đồng 01 hợp đồng không ghi ngày tháng, với giá chuyển
nhượng là 28.050.000.000 đồng.
C xác định số tiền 1.492.000.000 đồng mà A chuyển thừa so với số
tiền phải trả theo hợp đồng chuyển nhượng ngày 29/9/2019 (5.508.000.000
đồng) là số tiền A tự ứng trước đxử công việc của Công ty H1 theo sự
12
thoả thuận miệng giữa các thành viên của công ty. Bà C cũng xác định bà không
cung cấp được chứng cứ thể hiện sự thoả thuận miệng này.
Trong phần tranh luận, các đương sự trình bày như sau:
1. Ông Nguyễn Dũng T1:
- Hồ trúng đấu giá chuyển nhượng thể hiện tại thời điểm 2016-2017,
Công ty H1 đã mua phần vốn góp tại ng ty C1 từ của Tổng Công ty T6
Tổng Công ty B 11.208.409.000 đồng. Ngoài số tiền bỏ ra mua như trên,
Công ty C1 còn thực hiện dự án “Bãi tập kết phương tiện vận tải chở hàng hóa
xuất nhập khẩu chờ làm thtục kiểm tra hàng hóa thông quan...” với mức vốn
đầu tư tạm tính 50 tỷ đồng. Theo chúng thư thẩm định giá số
0869/2020/CT.VASKA của Công ty TNHH T7 thì tạm tính đến ngày 28/4/2020
giá trị các hạng mục của dự án đã thực hiện đầy đủ hồ thanh toán
17.886.000.000 đồng.
- Tại Báo cáo tài chính năm 2019 đã được kiểm toán thể hiện tổng giá trị tài
sản của Công ty C1 là 30.107.958.919 đồng.
- Tại Báo cáo tài chính năm 2020 thể hiện tổng giá trị tài sản của Công ty
C1 là 32.550.827.446 đồng.
- Việc kết hợp đồng chuyển nhượng 51% vốn góp với số tiền
5.508.000.000 đồng chỉ nhằm phù hợp với vốn điều lệ mà Công ty đã đăng ký là
10.800.000.0000 đồng. Vốn điều lệ không phản ánh được giá trị tài sản của
doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định trong quá trình hoạt động kinh doanh.
Giá trị tài sản của doanh nghiệp sđược xác định trên sở các báo cáo tài
chính hàng năm hoặc trên sở kiểm toán đối với doanh nghiệp. Việc thỏa
thuận giá trị chuyển nhượng phần vốn góp phải được dựa trên giá trị tài sản của
Công ty trên sở tự nguyện thỏa thuận của các bên. Hay còn gọi gthị
trường theo quy định tại Mục 11 Điều 4 về “Giải thích từ ngữ” của Luật Doanh
nghiệp 2014 “Giá thị trường của phần vốn góp hoặc cổ phần là giá giao dịch trên
thị trường cao nhất ngày hôm trước, gthỏa thuận giữa người bán người
mua, hoặc giá do một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp xác định”.
- Bị đơn cho rằng việc chuyển số tiền 1.492.000.000 đồng đthực
hiện dự án đầu bãi tập kết không đúng. Bởi Hội đồng thành viên công ty
không có bất kỳ nghị quyết nào về huy động vốn. Suốt trong quá trình giải quyết
vụ án, đại diện Công ty C1 xác định không có việc vay vốn của bà A. Đồng thời,
phía A ng không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ liên quan. Mặt
khác, nếu việc Công ty C1 vay vốn của A thì số tiền trên phải được
chuyển vào tài khoản của Công ty C1; trong khi tất ccác chứng từ chuyển tiền
đều thể hiện chuyển vào tài khoản của Công ty H1 mục đích chuyển
chuyển tiền mua cổ phần 51% Công ty C1.
- Bị đơn cho rằng việc kết các hợp đồng chuyển nhượng phần vốn p
với giá trị 28.050.000.000 đồng nhằm mục đích tạo điều kiện cho Công ty C1
vay vốn Ngân hàng là không căn cứ. Bởi khi cho bất kdoanh nghiệp nào
vay vốn, c Ngân hàng đều phải căn cứ vào khả năng thanh toán, tài sản thế
13
chấp. Đồng thời, trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện Công ty C1 đều xác
định không có việc kết hợp đồng chuyển nhượng vốn góp nhằm mục đích để
vay vốn ngân hàng như phía bị đơn trình bày.
Do đó, việc bị đơn cho rằng Công ty H1 chuyển nhượng 51% vốn điều lệ
cho A với g5.508.000.000 đồng không căn cứ. Đề nghị hội đồng xét
xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty H1, sửa bản án sơ thẩm theo
hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty H1.
2. Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn:
- Tại cuộc họp Hội đồng thành viên ngày 20/9/2019 đã thông qua việc bổ
sung Hội đồng thành viên mới của Công ty C1 là bà A. Tại Biên bản số
63/2019/BB-HĐTV cùng ngày 20/9/2019 đầy đủ chữ của Hội đồng thành
viên (gồm các ông T, P H) đã ban hành Nghquyết số 64/2019/NQ-HĐTV
thông qua việc đồng ý để Công ty H1 chuyển nhượng 51% vốn góp, giá trị
5.508.000.000 đồng cho bà A.
- Tại hợp đồng ngày 29/9/2019 chữ của ông T, A, thể hiện ông T
đại diện cho Công ty H1 chuyển nhượng cho bà A 51% vốn góp, g trị
5.508.000.000 đồng. Trên shợp đồng chuyển nhượng vốn góp này, Sở Kế
hoạch và Đầu tư tỉnh T đã cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho Công
ty C1, với mã số doanh nghiệp C2, đăng lần đầu ngày 06/8/2004, đăng
thay đổi lần thứ 10 ngày 21/10/2019, với vốn điều lệ vẫn như
10.800.000.000 đồng. Giấy phép này thể hiện, người đại diện theo pháp luật ông
H; các thành viên góp vốn gồm: A góp vốn 5.508.000.000 đồng (51%);
ông T góp vốn 4.287.600.000 đồng (39,7%) ông P góp vốn
1.004.400.000 đồng (9,3%).
- Từ ngày 01 đến 12/11/2019, A đã thanh toán cho Công ty H1 03 lần
với số tiền 5.900.000.000 đồng. Trong đó, Kim A đã chuyển tiền mua vốn
góp tại Công ty C1 với số tiền 5.508.000.000 đồng, và 392.000.000 đồng để đầu
xây dựng sở hạ tầng công trình bãi tập kết phương tiện vận tải. Đối với số
tiền 100.000.000 đồng chuyển vào tài khoản của Công ty C1 ngày 09/11/2019 là
do nhân viên kế toán của Công ty A nhầm lẫn khi ghi nội dung chuyển
khoản. Ngày 29/11/2019, A tiếp tục chuyển 1.000.000.000 đồng để bổ sung
vốn đầu tư xây dựng sở hạ tầng công trình i tập kết phương tiện vận tải,
việc chuyển khoản này cũng do nhân viên kế toán của Công ty bà A thực hiện
nên nội dung chuyển khoản ghi sai sót. Số tiền bà A chuyển thừa do A
bỏ ra trước để lo công việc của công ty, sau này các thành viên còn lại phải bỏ
ra tương ứng với tỷ lệ vốn góp.
- Đối với Hợp đồng chuyển nhượng vốn góp không ghi ngày tháng, ghi giá
chuyển nhượng 28.050.000.000 đồng, thực chất chỉ nhằm mục đích vay vốn
Ngân hàng. tại khoản 9.1 Điều 9 của hợp đồng này ghi “Hợp đồng giá trị
kể từ ngày được sự chứng nhận của Văn phòng Công chứng”. Tuy nhiên
thực tế hợp đồng này không được công chứng. Phía nguyên đơn cũng không
cung cấp được tài liệu, chứng cứ thể hiện nội dung yêu cầu A cùng thực hiện
14
việc công chứng tại Văn phòng công chứng. Do đó, hợp đồng chuyển nhượng
ghi số tiền 28.050.000.000 đồng là không có giá trị pháp lý.
Từ những phân tích nêu trên, xét thấy việc Công ty H1 chuyển nhượng
51% vốn góp có giá trị 5.508.000.000 đồng cho bà A là hợp pháp, bà A đã thanh
toán đủ tiền cho Công ty H1 Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh T đã cấp giấy chứng
nhận đăng doanh nghiệp cho Công ty C1 trong đó xác định A thành
viên Hội đồng thành viên. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận
kháng cáo của Công ty H1 và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham
gia phiên toà phát biểu ý kiến:
1. Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán chủ tọa phiên toà, các thành
viên Hội đồng xét xử, thư phiên toà và các đương sự tuân thủ đúng các quy
định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử phúc thẩm.
2. Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của Công ty H1
làm trong hạn luật định nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận về mặt nh
thức.
3. Về nội dung kháng cáo: Giữa ng ty H1 A không có văn bản nào
thoả thuận gtrị thật của hợp đồng chuyển nhượng vốn góp 28.050.000.000
đồng. Ông H người đại diện theo pháp luật của Công ty H1 trình bày tại thời
điểm hai bên chuyển nhượng vốn p, giá trị của công ty H2 28 tỷ đồng, công
nợ của công ty hơn 25 tỷ đồng, cân đối giá trị công nợ tcông ty chỉ hơn
3 tỷ đồng. Tại Điều 9 của hợp đồng không ghi ngày tháng thoả thuận hợp
đồng này chỉ hiệu lực khi được công chứng, nhưng thực tế đã không được
công chứng. Do đó, giữa hai bên chỉ xác lập một hợp đồng, đó là hợp đồng ngày
29/9/2019, ghi giá chuyển nhượng 5.508.000.000 đồng. Tại cấp phúc thẩm,
nguyên đơn không xuất trình được chứng cứ nào mới, do đó đề nghị Hội đồng
xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn giữ nguyên bản án
thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của Công ty H1
làm trong hạn luật định đã nộp tạm ứng án phí kinh doanh thương mại phúc
thẩm nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết ván: Công ty C1 khởi
kiện Phạm Thị Kim A ông Nguyễn Thành Đ (có địa chỉ trú tại số I
Đường C, khu phố D, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh), yêu cầu thanh
toán số tiền chuyển nhượng vốn góp tại Công ty C1 tiền lãi suất. Theo Giấy
chứng nhận đăng doanh nghiệp có Mã số doanh nghiệp C2 đăng ký lần đầu ngày
06/8/2004, đăng thay đổi ngày 08/5/2023 (có giá trị tại thời điểm xét xử
thẩm) thì A thành viên của Công ty C1, Công ty H1 không phải thành
viên của Công ty C1. Đây là “Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên của
công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng vốn góp với thành viên công ty”.
Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân nhân n tỉnh Tây
15
Ninh theo quy định tại khoản 3 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản
1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bản án thẩm xác định quan hệ pháp luật
“Tranh chấp giữa các thành viên công ty về việc góp vốn” không chính xác,
cần rút kinh nghiệm.
[3] Về việc xác định chứng cứ:
[3.1] Mặc “Hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp” Công ty H1
xuất trình trong qtrình giải quyết vụ án là bản photocopy, nhưng tại cấp
thẩm cấp phúc thẩm cả nguyên đơn bị đơn đều xác định cùng ngày
29/9/2019 giữa Công ty H1 và bà A có ký với nhau 02 hợp đồng chuyển nhượng
vốn góp, 01 hợp đồng ngày 29/9/2019 ghi giá chuyển nhượng 5.508.000.000
đồng 01 hợp đồng không ghi ngày tháng, với giá chuyển nhượng
28.050.000.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định “Hợp đồng chuyển
nhượng phần vốn góp” không ghi ngày tháng chứng cứ trong quá trình giải
quyết vụ án.
[3.2] Các hợp đồng chuyển nhượng vốn góp giữa Công ty H1 với Công ty
T8, Tổng Công ty B; các hợp đồng bán đấu giá, các hoá đơn thanh toán (các bút
lục từ 417-436); chứng thư thẩm định giá số 0869/2020/CT.VASKA ngày
28/4/2020 của ng ty TNHH T7 (bút lục số 399); Báo cáo tài chính năm 2019
đã được kiểm toán bởi Công ty TNHH K (bút lục số 398); Báo cáo tài chính
năm 2020 (bút lục số 400) do nguyên đơn đưa ra bđơn không phản đối. Do
đó, Công ty H1 không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ
luật Tố tụng dân sự.
[4] Xét kháng cáo của Công ty H1, nhận thấy:
[4.1] Tại cấp thẩm phúc thẩm, nguyên đơn bị đơn khai thống nhất
với nhau các nội dung sau đây:
- Công ty H1 A ký với nhau 02 hợp đồng chuyển nhượng phần
vốn góp; 01 hợp đồng ghi ngày 29/9/2019 ghi giá chuyển nhượng 5.508.000.000
đồng 01 hợp đồng không ghi ngày tháng, ghi giá chuyển nhượng
28.050.000.000 đồng;
- A đã 04 lần chuyển tiền cho Công ty H1 và 01 lần chuyển cho Công ty
C1 tổng cộng 07 tỷ đồng; các lần chuyển tiền đều ghi thanh toán tiền chuyển
nhượng 51% vốn góp. Cụ thể như sau: ngày 01/11/2019 chuyển cho Công ty H1
700.000.000 đồng, ngày 09/11/2019 chuyển cho ng ty C1 100.000.000 đồng,
ngày 11/11/2019 chuyển cho Công ty H1 700.000.000 đồng, ngày 12/11/2019
chuyển cho Công ty H1 4.500.000.000 đồng ngày 29/11/2019 chuyển cho
Công ty H1 1.000.000.000 đồng.
[4.2] Về điều kiện để chuyển nhượng vốn góp: Hợp đồng chuyển nhượng
vốn góp ngày 29/9/2019, với giá tiền 5.508.000.000 đồng, giữa Công ty H1
A đã được Nghị quyết Hội đồng thành viên thông qua ngày 20/9/2019. A
được công nhận thành viên của Công ty C1 theo Giấy chứng nhận đăng
doanh nhiệp thay đổi lần thứ 10 ngày 21/10/2019. Do đó, hợp đồng này thoả
mãn các điều kiện về chuyển nhượng vốn góp.
16
[4.3] Về giá trị thật của Công ty C1 giá trị thật của hợp đồng chuyển
nhượng vốn góp: Công ty H1 cho rằng giá trị thật của việc chuyển nhượng được
thể hiện tại Hợp đồng ghi giá 28.050.000.000 đồng nên yêu cầu A phải trả số
tiền còn thiếu lãi suất. Ngược lại, A cho rằng giá trị của hợp đồng chỉ
5.508.000.000 đồng đã thanh toán xong; riêng hợp đồng ghi giá
28.050.000.000 đồng chỉ nhằm mục đích vay vốn ngân hàng nên bà không đồng
ý với yêu cầu khởi kiện của Công ty H1. Xét lời trình bày và yêu cầu của hai
bên, nhận thấy:
[4.3.1] Căn cứ vào các hợp đồng chuyển nhượng vốn góp giữa Công ty H1
với ng ty T8, Tổng Công ty B; các hợp đồng bán đấu giá, các hoá đơn thanh
toán (các bút lục từ 417-436); chứng thư thẩm định giá số
0869/2020/CT.VASKA ngày 28/4/2020 của Công ty TNHH T7 (bút lục số 399);
Báo cáo tài chính năm 2019 đã được kiểm toán bởi Công ty TNHH K (bút lục số
398); Báo cáo tài chính năm 2020 (bút lục số 400), Hội đồng xét xử nhận thấy
có đủ căn cứ pháp lý để kết luận:
- Tại thời điểm 2016-2017, Công ty H1 đã mua phần vốn góp tại Công ty
C1 từ Tổng Công ty T6 và Tổng Công ty B là 11.208.409.000 đồng;
- Giá trị các hạng mục của Dự án Bãi tập kết phương tiện vận tải chở hàng
hóa xuất nhập khẩu chờ làm thủ tục kiểm tra hàng hóa thông quan...” Công
ty C1 đã thực hiện đầy có đủ hồ sơ thanh toán là 17.886.000.000 đồng;
- Giá trị của Công ty C1 năm 2019 2020 lần lượt 30.107.958.919
đồng và 32.550.827.446 đồng.
Như vậy, giá trị thật của Công ty C1 cao hơn nhiều so với vốn điều lệ được
ghi nhận trong Giấy chứng nhận đăng doanh nghiệp thay đổi lần thứ 9 ngày
26/9/2019 lần thứ 10 ngày 21/10/2019. Điều này phù hợp với lời khai của
ông Lê Xuân H, rằng giá trị của Công ty C1 cao hơn nhiều so với vốn điều lệ.
Bản án thẩm viện dẫn lời khai của ông H cho rằng tại thời điểm hai bên
chuyển nhượng vốn góp tài sản của Công ty C1 28.727.249.076 đồng, công nợ
của Công ty 25.081.345.036 đồng nên cân đối công n Công ty chỉ
3.190.895.040 đồng là không có căn cứ và mâu thuẫn với kết quả kiểm toán như
đã được nhận định ở trên.
[4.3.2] Về việc thanh toán tiền chuyển nhượng vốn góp:
Tại mục [4.1] đã nhận định A đã 04 lần chuyển tiền cho Công ty H1
01 lần chuyển cho Công ty C1 tổng cộng 07 tỷ đồng (ngày 01/11/2019 chuyển
cho Công ty H1 700.000.000 đồng, ngày 09/11/2019 chuyển cho Công ty C1
100.000.000 đồng, ngày 11/11/2019 chuyển cho Công ty H1 700.000.000 đồng,
ngày 12/11/2019 chuyển cho Công ty H1 4.500.000.000 đồng và ngày
29/11/2019 chuyển cho Công ty H1 1.000.000.000 đồng). Tất cả các lần chuyển
tiền nêu trên đều ghi là thanh toán tiền chuyển nhượng 51% vốn góp của Công
ty C1. Do đó, việc bà A cho rằng kế toán của bà ghi nhầm là không có căn cứ để
chấp nhận. Đồng thời, việc A cho rằng số tiền chuyển thừa 1.492.000.000
đồng đthực hiện dự án đầu bãi tập kết là không n cứ để chấp nhận.
17
Bởi không chứng cứ nào thể hiện Hội đồng thành viên Công ty C1 nghị
quyết huy động vốn, hay vay vốn của bà A; mặt khác nếu có việc huy động vốn,
vay vốn của A thì số tiền này phải được chuyển vào tài khoản của Công ty
C1, trên thực tế toàn bộ số tiền 07 tỷ đồng được chuyển vào tài khoản của Công
ty H1.
[4.3.3] A cho rằng việc kết các hợp đồng chuyển nhượng phần vốn
góp với giá trị 28.050.000.000 đồng là nhằm mục đích tạo điều kiện cho Công ty
C1 vay vốn Ngân hàng không căn cứ để chấp nhận. Bởi khi cho bất kỳ
doanh nghiệp nào vay vốn, các Ngân hàng đều phải căn cứ vào khả năng thanh
toán, tài sản thế chấp. Đồng thời, trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện Công
ty C1 đều xác định không việc kết hợp đồng chuyển nhượng vốn góp
nhằm mục đích để vay vốn ngân hàng như phía bị đơn trình bày.
[4.3.4] Luật sư bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bà A viện dẫn thoả thuận tại
khoản 9.1 Điều 9 của bản hợp đồng ghi số tiền chuyển nhượng 28.050.000.000
đồng cho rằng hợp đồng này không thật không căn cứ để chấp nhận.
Bởi Luật Doanh nghiệp 2014, các văn bản hướng dẫn các luật liên quan khác
không quy định hợp đồng chuyển nhượng vốn góp bắt buộc phải công chứng.
Do đó, thoả thuận nêu trên không giá trị pháp không làm mất đi bản
chất thật của hợp đồng.
[5] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy đủ căn cứ
pháp lý để kết luận: Giá trị thật của hợp đồng chuyển nhượng 51% vốn góp giữa
Công ty H1 A 28.050.000.000 đồng. A đã chuyển trả cho Công ty
H1 07 t đồng, còn lại 21.105.000.000 đồng chưa thanh toán. Do đó, cần buộc
A, ông Đ phải thanh toán cho Công ty H1 số tiền này.
[6] Về lãi suất: Công ty H1 u cầu A, ông Đ trả số tiền lãi từ tháng
12/2019 đến tháng 3/2024 với mức lãi suất trung bình cộng của 03 Ngân hàng
V, A1, V1, tổng cộng 5.698.000.000 đồng, cụ thể như sau:
- Tháng 12/2019: 6,8% = 119.000.000 đồng;
- Năm 2020: 6,8% = 1.428.000.000 đồng;
- Năm 2021: 5,6% = 1.176.000.000 đồng;
-Năm 2022: 5,53% - 1.162.000.000 đồng;
- Năm 2023: 7,4% = 1.554.000.000 đồng;
- Tháng 01 đến tháng 3/2024: 4,93% = 259.000.000 đồng.
Xét thấy việc chậm trả tiền của A, ông Đ làm ảnh hưởng đến quyền lợi
hợp pháp của Công ty H1, do đó yêu cầu này của ng ty H1 căn cứ để
chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 306 Luật Thương mại, Điều 11 Ngh
quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án
nhân dân tối cao.
Tổng cộng A, ông Đ phải thanh toán cho Công ty H1 26.803.000.000
đồng.
18
[7] Từ những phân tích nêu, xét thấy kháng cáo của Công ty H1 căn
cứ để chấp nhận. Cần sửa bản án sơ thẩm theo nhận định trên đây.
[8] Các lập luận trên đây căn cứ để Hội đồng xét xử không chấp nhận
yêu cầu của người đại diện hợp pháp của A, ông Đ Luật sư; ng như đề
nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên toà.
[9] Về án phí sơ thẩm: A ông Đ phải nộp 134.803.000 đồng. Trả cho
Công ty H1 133.050.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo c biên lai thu s
1432 ngày 03/11/2020 và 1264 ngày 01/4/2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh
Tây Ninh.
[10] Về án phí phúc thẩm: Trả cho Công ty H1 2.000.000 đồng tạm ứng án
phí đã nộp theo biên lai thu số 16716 ngày 11/7/2023 Cục Thi hành án dân sự
tỉnh Tây Ninh.
[11] Các quyết định khác của bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị hiệu lực pháp luật kể tngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo
quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015,
Chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH H1. Sửa Bản án kinh doanh
thương mại sơ thẩm số 02/2023/KDTM-ST ngày 29/6/2023 của Toà án nhân
dân tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ khoản 3 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39
Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 29, Điều 31, Điều 53 Luật Doanh nghiệp;
Căn cứ Điều 306 Luật Thương mại;
Căn cứ Điều 11 Nghị quyết s01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của
Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp, miễn, giảm, quản sử dụng
án phí, lệ phí Tòa án,
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH H1.
Buộc Phạm Thị Kim A ông Nguyễn Thành Đ nghĩa vụ thanh toán
cho Công ty TNHH H1 số tiền gốc 21.050.000.000 đồng và tiền lãi suất
5.698.000.000 đồng; tổng cộng 02 khoản 26.803.000.000 (hai mươi sáu tỷ
tám trăm lẻ ba triệu) đồng.
Việc thi hành án được thực hiện tại quan thi hành án n sự thẩm
quyền.
19
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của Công ty TNHH H1 cho đến khi
thi hành án xong, bà Phạm Thị Kim A ông Nguyễn Thành Đ còn phải chịu
khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại
Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2] Về án phí sơ thẩm:
Phạm Thị Kim A ông Nguyễn Thành Đ phải nộp 134.803.000 (một
trăm ba mươi bốn triệu tám trăm lẻ ba ngàn) đồng.
Trả cho Công ty TNHH H1 (một trăm ba mươi ba triệu không trăm m
mươi ngàn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu số 1432 ngày
03/11/2020 và 1264 ngày 01/4/2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
[3] Về án phí phúc thẩm: Trả cho ng ty TNHH H1 2.000.000 (hai triệu)
đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 16716 ngày 11/7/2023 Cục Thi
hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
[4] Các quyết định khác của bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo
quy định của pháp luật.
[5] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án n sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 9
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
[6] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- VKSND cấp cao tại TP.HCM;
- TAND TP HCM;
- VKSND TP HCM;
- Cục THADS TP HCM;
- Đương sự;
- Lưu.
Võ Văn Khoa
Tải về
Bản án số 11/2024/KDTM-PT Bản án số 11/2024/KDTM-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 11/2024/KDTM-PT Bản án số 11/2024/KDTM-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất