Bản án số 105/2017/HSST ngày 19/09/2017 của TAND huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai về tội trộm cắp tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 105/2017/HSST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 105/2017/HSST
| Tên Bản án: | Bản án số 105/2017/HSST ngày 19/09/2017 của TAND huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai về tội trộm cắp tài sản |
|---|---|
| Tội danh: | 138.Tội trộm cắp tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Long Thành (TAND tỉnh Đồng Nai) |
| Số hiệu: | 105/2017/HSST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 19/09/2017 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN LONG THÀNH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 105/2017/HSST
Ngày: 19/9/2017
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hùng Minh Sang.
- Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Đỗ Văn Bê.
+ Bà Lê Thị Ánh Sáng.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Doãn Thị Hằng, Cán bộ Tòa án nhân
dân huyện Long Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành:
Ông Trần Tiến Dũng, Kiểm sát viên.
Hôm nay ngày 19 tháng 9 năm 2017, tại Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử
sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 103/2017/HSST ngày 23 tháng 8 năm 2017, theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2017/HSST-QĐ ngày 05 tháng 9 năm 2017 đối với
các bị cáo:
1/. Nguyễn Huy T, sinh năm: 1997. Tại Nghệ An.
Đăng ký hộ khẩu thường trú: xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
Chỗ ở: ấp L, xã T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Làm thuê. Trình độ học vấn: 12/12.
Con ông Nguyễn Huy Đ và bà Nguyễn Thị L.
Gia đình có 02 anh em. Bị cáo là con thứ hai trong gia đình, chưa có vợ con.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 09/12/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa –
Vũng Tàu áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12
tháng, bị cáo chấp hành xong ngày 30/10/2016.
Bị bắt tạm giữ từ ngày 31/7/2017 chuyển tạm giam đến nay tại nhà tạm giữ Công an
huyện Long Thành.
2/. Phùng Trung L, sinh năm: 1995. Tại Phú Yên.
Đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.
Chỗ ở: ấp L, xã T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Làm thuê. Trình độ học vấn: 9/12.
Con ông Phùng Văn P và bà R.
Gia đình có 03 anh chị em. Bị cáo là con thứ hai trong gia đình, chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.

2
Bị bắt tạm giữ từ ngày 31/7/2017 chuyển tạm giam đến nay tại nhà tạm giữ Công an
huyện Long Thành.
(Các bị cáo có mặt).
+ Người bị hại:
- Anh Nguyễn Thành T, sinh năm: 1990.
- Chị Lê Thị Bích N, sinh năm: 1990.
Cùng cư trú: xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
(anh T có mặt, chị N vắng mặt)
+ Người làm chứng:
NLC1
NLC2
NLC3
(NLC1,NLC2,NLC3 vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa,
nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Huy T và bị hại anh Nguyễn Thành T1 là bạn bè quen biết nhau, do đã có nẩy
sinh trộm cắp tài sản của anh T1, T biết việc anh T1 thường gắn chìa khóa phòng trọ của anh T1
chung với chùm chìa khóa xe mô tô anh đang sử dụng. Ngày 29/7/2017, T nhờ Phùng Trung L
dùng xe đạp chở T đến phòng trọ của anh T1 ở ấp 7, xã A, huyện L, khi đến nơi T vào mượn xe
mô tô của anh T1, sau khi mượn được xe T đi đến tiện sữa khóa làm thêm 01 chìa khóa phòng
trọ của anh T1, mục đích khi nào vợ chồng anh T1 không có ở phòng trọ T sẽ vào trộm cắp tài
sản . Sau khi làm xong được chìa khóa, T trả xe cho anh T1, T kể lại việc làm thêm chìa khóa
cho L nghe và rủ L cùng đột nhập vào phòng trọ anh T1 để trộm cắp tài sản, L đồng ý. Lúc 08
giờ 30 phút ngày 31/7/2017, L dùng xe đạp chở T đến phòng trọ của anh T1, lúc này vợ chồng
anh T1 đã đi làm, T dùng chìa khóa chuẩn bị sẵn trước đó mở cửa phòng trọ anh T1. Sau khi
mở được cửa phòng T và L vào lục tìm tài sản, T trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Oppo
A37 của anh T1 và 01 điện thoại di động hiệu Vivo V5 của chị Lê Thị Bích N (vợ anh T1), sau
khi lấy được tài sản T khóa cửa phòng lại như cũ, L dùng xe đạp chở T đến tiệm điện thoại di
động “Xuân Yên” ở ấp 7, xã An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai do anh Nguyên
Xuân Yên làm chủ để mở khóa điện thoại. Trong quá trình T và L trộm cắp tài sản tại phòng trọ
anh T1 thì cháu Nguyễn Hà Vy phát hiện báo lại cho chị Hà Thị Hương, chị Hương báo lại cho
chủ nhà trọ anh Phạm Đức Thanh. Sau đó anh Thanh cùng với anh Hà Hữu Vân đã đi tìm và
phát hiện T và L tại cửa hàng điện thoại “Xuân Yên”, bắt giữ T và L giao cho Công an xã An
Phước, huyện Long Thành.
Vật chứng vụ án:
01 diện thoại di động hiệu Oppo A37, đã qua sử dụng.
01điện thoại di động hiệu Vivo V5, đã qua sử dụng.
01 xe đạp, đã qua sử dụng.
01 chìa khóa bị cáo T dùng làm phương tiện phạm tội.
Tại Bản kết luận định giá tài sản tố tụng hình sự số 61/KL.ĐGTSTT ngày 03/8/2017 của
Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Long Thành kết luận:
3
01 diện thoại di động hiệu Oppo A37, đã qua sử dụng trị giá 2.050.000đồng (hai triệu
không trăm năm chục ngàn).
01điện thoại di động hiệu Vivo V5, đã qua sử dụng trị giá 2.950.000đồng (hai triệu chín
trăm năm chục ngàn).
Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 5.000.000đồng (năm triệu đồng).
Bản cáo trạng số: 100/VKS.HS ngày 21/8/2017 Viện kiểm sát nhân dân huyện Long
Thành đã truy tố các bị cáo Nguyễn Huy T và Phùng Trung L về tội “Trộm cắp tài sản”
theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự. Trách nhiệm dân sự tài sản bị cáo chiếm đoạt đã
được thu hồi hoàn trả cho các người bị hại, các người bị hại không yêu cầu gì khác.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành nhận định vẫn
bảo L quan điểm truy tố đối với bị cáo tại Bản cáo trạng số: 100/VKS.HS ngày 21/8/2017.
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự và đề
nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Huy T mức án từ 12 đến 14 tháng tù. Phùng Trung L mức án
từ 08 đến 10 thàng tù. .
Lời nói sau cùng: Bị cáo T xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo
L trình bày bị cáo biết lỗi của bị cáo, xin lỗi bị hại và những người xung quanh, xin Hội
đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm
tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Long Thành,
Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, Kiểm sát viên trong quá trình
điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố
tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người bị hại, người làm chứng,
không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan T1
hành tố tụng, người T1 hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan
T1 hành tố tụng, người T1 hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo T và bị cáo L là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, căn cứ vào
lời khai nhận tội của các bị cáo, lời khai các người bị hại, người làm chứng có tại hồ sơ vụ
án, đã có đủ cơ sở xác định bị cáo T và bị cáo L đã có hành vi lén lút đột nhập vào phòng
trọ của anh T1 và chị N, chiếm đoạt 02 cái điện thoại di động hiệu Oppo A37 của anh T1 và
01 điện thoại di động hiệu Vivo V5 của chị Lê Thị Bích N. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là
5.000.000đồng (năm triệu đồng). Hành vi trên của bị cáo T và bị cáo L đã cấu thành tội đã
cấu thành tội „Trộm cắp tài sản‟ như bản Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân
huyện Long Thành là đúng người đúng tội và đúng pháp luật.
Vai trò của bị cáo T, bị cáo là chính phạm trong vụ án, là người đã nẩy sinh ý định
trộm cắp tài sản từ trước, bị cáo đã thực hiện thủ đoạn gian dối mượn xe của anh T1 mục
đích làm thêm chìa khóa phòng trọ của anh T1 và là người đề xuất, rủ rê bị cáo L cùng bị
cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh T1. Cần xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm
mới đủ tác dụng răng đe và phòng ngừa chung.
Đối với bị cáo L là đồng phạm trong vụ án, sau khi được bị cáo T rủ rê bị cáo đồng
tình ngay, tham gia tích cực, dùng xe đạp để chở bị cáo T và cùng với bị cáo T vào phòng
trọ của anh T1 để trộm cắp tài sản, sau khi trộm cắp được tài sản bị cáo chở bị cáo T đi tìm

4
nơi tiêu thụ. Vì vậy cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với vai trò phạm tội của bị
cáo.
Trong vụ án các bị cáo phạm tội không có tổ chức, đây là vụ án có đồng phạm giản
đơn. Hành vi phạm tội của các bị cáo là gây nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm
đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được Pháp luật bảo vệ, mặt khác còn
gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây lo lắng trong quần chúng nhân dân nơi bị cáo gây
án. Bị cáo đã thực hiện tội phạm bất chấp sự trừng trị của Pháp luật, vụ án bị phát hiện là
ngoài ý thức mong muốn của các bị cáo. Vì vậy các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự
tương xứng hành vi hậu quả mà các bị cáo đã gây ra. Đối với bị cáo T bị cáo đã có một
tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu,
tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai
nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng theo Quyết định số 57/QĐ-TA ngày 09/12/2015.
Tuy nhiên, cần xem xét cho các bị cáo T và bị cáo L tại Cơ quan điều tra và trước
phiên tòa công khai đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
Bị cáo L có nhân thân tốt thể hiện chưa tiền án, tiền sự. Các bị cáo phạm tội lần đầu và
thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại. Do đó cần cho cho
bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, h, p khoản 1
Điều 46 Bộ luật hình sự.
Trách nhiệm dân sự:
Tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi hoàn trả lại cho các người bị hại anh T1 và chị
N, anh T1 và chị N không có yêu cầu gì thêm đối với các bị cáo, nên không xem xét.
Xử lý vật chứng:
- 01 xe đạp bị cáo L dùng làm phương tiện phạm tội, bị cáo L cho rằng xe trên bị
cáo mượn của người bạn tên Q, hiện Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành
chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ của Q, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện
Long Thành tiếp tạm tạm giữ xác minh làm rõ xử lý sau.
- 01 chìa khóa bị cáo T tự làm thêm để dùng làm phương tiện phạm tội, bị cáo đã bỏ
thất lạc không tìm được, nên không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Huy T và Phùng Trung L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, h, p khoản 1 Điều 46; Điều 53 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Huy T 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày
31/7/2017.
Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm h, p khoản 1 Điều 46 ; Điều 53 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Phùng Trung L 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày
31/7/2017.
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban
Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
phí, lệ phí Tòa án.

5
Buộc các bị cáo T và bị cáo L, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (hai trăm ngàn) án
phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, người bị hại anh T1 được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15
ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Người bị hại chị N vắng mặt được quyền kháng cáo bản án
trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
Nơi nhận TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
VKSND.H Long Thành (1). Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Công an H Long Thành (2).
THA (1).
Bị cáo (2).
Người bị hại (2)
L hồ sơ (1).
Hùng Minh Sang
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 15/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 14/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 14/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 12/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 06/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 05/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 01/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 27/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 23/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 16/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Bản án số 04/2024/HS-PT ngày 05/02/2024 của TAND TP. Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình về tội trộm cắp tài sản
Ban hành: 05/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 05/02/2024 của TAND huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng về tội trộm cắp tài sản
Ban hành: 05/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 01/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 31/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 31/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 31/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 31/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 30/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 30/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm