Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 16/05/2025 của TAND huyện Lăk, tỉnh Đắk Lắk về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 10/2025/HNGĐ-ST
Tên Bản án: | Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 16/05/2025 của TAND huyện Lăk, tỉnh Đắk Lắk về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND huyện Lăk (TAND tỉnh Đắk Lắk) |
Số hiệu: | 10/2025/HNGĐ-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 16/05/2025 |
Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Không công nhận quan hệ vợ chồng giữ ông Y Th và bà H O |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Văn Công Cường.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Hoa;
2. Ông Nguyn Xuân Dũng.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyn Văn Bách - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Lắk, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên
tòa: Ông Nguyn Thanh Thạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2025, tại phòng xử án, trụ sở Tòa án nhân dân huyện
Lắk, tỉnh Đắk Lắk mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:
26/2025/TLST-HNGĐ ngày 26/02/2025 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình”
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày
15/4/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Y Th, sinh năm 1980,
Địa chỉ: Buôn T, xã N, huyện L, tỉnh Đắk Lắk.
2. Bị đơn: Bà H Ô, sinh năm 1981,
Địa chỉ: Buôn T, xã N, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk.
(Các đương sự đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn ông Y
Th trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Năm 2004 ông Y Th với bà H Ô gặp nhau và sống
chung với nhau như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của
pháp luật. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2021 (ba năm trở
lại) thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do không hợp tính
cách của nhau, bất đồng quan điểm sống nên dẫn đến hai người sống ly thân từ
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẮK
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 16/5/2025
“V/v không công nhận quan hệ vợ chồng”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
năm 2022 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, hai bên không
thể tiếp tục sống chung với nhau nữa và xác định do không đăng ký kết hôn nên
ông với bà H Ô không phải là vợ chồng nên đề nghị Tòa án giải quyết không công
nhận ông Y Th với bà H Ô là vợ chồng.
Về con chung: Ông Y Th xác định quá trình chung sống ông với bà H Ô có 03
người con chung là H Y, sinh ngày 30/7/2006; Y Đ, sinh ngày 16/12/2011 và H D,
sinh ngày 25/6/2018. Hiện tại các con chung đang do bà H Ô chăm sóc, nuôi
dưỡng, nay vợ chồng không sống chung với nhau nữa thì ông Y Th đồng ý giao
các con chung cho bà H Ô có nghĩa vụ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi
trưởng thành. Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng thì ông Y Th không đồng ý cấp dưỡng
vì cho rằng đã để lại hết toàn bộ tài sản chung của hai vợ chồng cho bà H Ô quản
lý, sử dụng.
Về tài sản chung và nợ chung: Các bên tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án
giải quyết.
Ông thuộc trường hợp là người đồng bào dân tộc thiểu số cư trú tại xã có điều
kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, đã được giải thích về quyền, nghĩa vụ thuộc
đối tượng được hưởng sự trợ giúp pháp lý Nhà nước nhưng bản thân ông có thể tự
mình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp nên không yêu cầu trợ giúp pháp lý. Tại địa
phương ông không thuộc hộ ngho hay cận ngho gì.
* Quá trình tham gia tố tụng, bị đơn b H Ô trình bày:
Năm 2004 bà H Ô với ông Y Th gặp nhau và sống chung với nhau như vợ
chồng nhưng có đăng ký kết hôn hay không thì bà không nhớ và cũng không có
giấy kết hôn để cung cấp cho Tòa án. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng
đến năm 2021 (ba năm trở lại) thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân
mâu thuẫn do không hợp tính cách của nhau, bất đồng quan điểm sống, ông Y Th
uống rượu say xỉn không quan tâm đến cuộc sống vợ con nên dẫn đến hai người
sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn,
hai bên không thể tiếp tục sống chung với nhau nữa nên đồng ý ly hôn với ông Y
Th.
Về con chung: Bà H Ô xác định quá trình chung sống bà với ông Y Th có 03
người con chung là H Y, sinh ngày 30/7/2006; Y Đ, sinh ngày 16/12/2011 và H D,
sinh ngày 25/6/2018. Hiện tại các con chung đang do bà H Ô chăm sóc, nuôi
dưỡng, nay vợ chồng không sống chung với nhau nữa thì ông Y T đồng ý giao các
con chung cho bà H Ô có nghĩa vụ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng
thành thì bà đồng ý. Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng thì bà yêu cầu ông Y Th cấp
dưỡng một tháng 1.000.000 đồng/con chung cho con chung là Y Đ và H D đến khi
đủ tuổi thành niên.
Về tài sản chung và nợ chung: Các bên tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án
giải quyết.
Bà thuộc trường hợp là người đồng bào dân tộc thiểu số cư trú tại xã có điều
kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn đã được giải thích về quyền, nghĩa vụ của
mình thuộc đối tượng được hưởng sự trợ giúp pháp lý Nhà nước nhưng bản thân bà
3
có thể tự mình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp nên không yêu cầu trợ giúp pháp
lý. Tại địa phương không thuộc hộ ngho hay cận ngho gì.
* Theo biên bản xác minh ngày 06/3/2025 và ngày 08/5/2025 tại Ủy ban nhân
dân xã Nam Ka, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk có nội dung như sau:
Ông Y Th và bà H Ô là vợ chồng chung sống với nhau từ năm 2004 nhưng
không có đăng ký kết hôn tại chính quyền địa phương. Quá trình chung sống hai
người có 03 con chung là H Y, sinh ngày 30/7/2006; Y Đ, sinh ngày 16/12/2011
và H D, sinh ngày 25/6/2018, hiện tại các con chung đang do bà H Ô và ông Y Th
chăm sóc, nuôi dưỡng. Khoảng 3 năm gần đây giữa ông Y Th với bà H Ô xảy ra
mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, công việc của hai người chủ
yếu làm nông, ngoài việc làm nông còn đi làm thuê có nguồn thu nhập không ổn
định trung bình giao động từ 4.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng/tháng và một số
nguồn thu nhập khác đủ đáp ứng nhu cầu cuộc sống cá nhân.
* Tại biên bản ghi nhận ý kiến của con chưa thành niên trên 07 tuổi đối với
con chung Y Đ, sinh ngày 16/12/2011 xác định được nếu ông Y Th và bà H Ô
không sống chung với nhau nữa con chung Y Đ có nguyện vọng ở với bà H Ô.
* Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lắk phát biểu:
Thẩm quyền thụ lý vụ án: Theo đơn khởi kiện và các thông tin, yêu cầu của
nguyên đơn, đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình, vụ án thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a
khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự, do đó Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền.
Vấn đề thu thập chứng cứ, thời hạn chuẩn bị xét xử: Tòa án xác minh và lấy
lời khai của các đương sự đúng theo quy định tại Điều 97, 98, khoản 1 Điều 203
Bộ luật tố tụng Dân sự.
Thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu và việc tống đạt văn bản
tố tụng cho Viện kiểm sát, người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định tại Điều
170 đến Điều 175, Điều 177 và 179 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử
(HĐXX): Quá trình điều tra, thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án kể
từ khi thụ lý đến trước thời điểm HĐXX nghị án, HĐXX, Thẩm phán, Thư ký
phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã
thực hiện đúng các quy định Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Về việc giải quyết vụ án:
Đối với quan hệ hôn nhân: Xét quá trình chung sống giữa ông Y Th và bà H
Ôn M xảy ra nhiều mâu thuẫn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung
không thể kéo dài. Năm 2004 hai người sống chung với nhau như vợ chồng nhưng
không đăng ký kết hôn. Nay ông Y Th kiên quyết không muốn sống chung với bà
H Ô nữa và đề nghị Tòa án không công nhận ông Y Th và bà H Ô là vợ chồng là
có căn cứ cần chấp nhận.
4
Đối với con chung: Ông Y Th và bà H Ôn M có 03 con chung là H Y, sinh
ngày 30/7/2006; Y Đ, sinh ngày 16/12/2011 và H D, sinh ngày 25/6/2018. Hiện tại
con chung H D và Y Đ đang ở với bà H Ô và con chung Y Đ có nguyện vọng tiếp
tục ở với bà H Ô; ông Y Th và bà H Ô cũng thống nhất đối với nguyện vọng của
con chung nên cần giao con chung Y Đ và H D cho bà H Ô chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục đến đủ tuổi thành niên là ph hợp. Đối với con chung là H Y đã đủ tuổi
thành niên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên không xem xét giải quyết.
Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng bị đơn yêu cầu ông Y Th phải có nghĩa vụ cấp
dưỡng 1 triệu đồng/01 con chung cho 02 con chung là Y Đ và H D, xét thấy ông Y
Th nghề nghiệp chủ yếu làm nông, có mức thu nhập thấp và không ổn định, do đó
mức cấp dưỡng mà bị đơn yêu cầu chưa ph hợp, để đáp ứng cầu thiết yếu của con
chung và căn cứ vào mức thu nhập hiện tại của ông Y Th nên cần buộc ông Y Th
phải cấp dưỡng cho mỗi con chung một tháng là 700.000 đồng là ph hợp.
Về tài sản chung và nợ chung các đương sự không yêu cầu nên không xem
xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Xét đơn khởi kiện của
nguyên đơn ông Y Th yêu cầu Tòa án giải quyết là quan hệ pháp luật tranh chấp về
hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng Dân sự. Bị
đơn đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại buôn T, xã Ea N, huyện L nên vụ án
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lắk theo quy định khoản
1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự, do đó Tòa án thụ lý vụ
án là đúng thẩm quyền.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn được Tòa án cấp, tống đạt,
thông báo các văn bản và triệu tập tham gia tố tụng để thực hiện quyền và nghĩa vụ
của mình nhưng đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227 và 228 Bộ
luật tố tụng Dân sự, HĐXX thực hiện việc xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Đối với quan hện hôn nhân: Năm 2004 ông Y Th và bà H Ô tự nguyện
chung sống với nhau như vợ chồng tại buôn T, xã N, huyện L, tỉnh Đắk Lắk nhưng
không thực hiện việc đăng ký kết hôn tại chính quyền địa phương là có căn cứ vì
chính quyền địa phương UBND xã N đã xác nhận thông tin này tại biên bản xác
minh ngày 06/3/2025 nên ông Y Th có đơn đề nghị Tòa án không công nhận quan
hệ vợ chồng là có cơ sở. Theo quy định tại khoản Điều 11 luật Hôn nhân và Gia
đình năm 2000 quy định “Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà sống chung với nhau
như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng” Điều 87 Luật hôn
nhân và gia đình năm 2000 quy định “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà
có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng
theo quy định tại khoản 1 Điều 11 của Luật này…” Hội đồng xét xử xét thấy ông
Y Th và bà H Ô sống chung với nhau như vợ chồng vào năm 2004 nhưng không
5
có đăng ký kết hôn, hiện nay hai người không sống chung với nhau nữa và ly thân
từ năm 2022 cho đến nay. Tại phiên tòa lần hai không ai có ý kiến phản hồi gì về
quan hệ hôn nhân này và đều vắng mặt nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
ông Y Thái. Căn cứ khoản 1 Điều 131 luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, các
điều 11, 87 luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, HĐXX tuyên bố không công
nhận quan hệ vợ chồng đối với ông Y Th và bà H Ô.
[3.2] Đối với con chung: Ông Y Th và bà H Ô đều xác định hai người có 03
con chung là H Y, sinh ngày 30/7/2006; Y Đ, sinh ngày 16/12/2011 và H D Mlô,
sinh ngày 25/6/2018, hiện tại các con chung đang ở với bà H Ô, các bên thống nhất
giao các con chung cho bà H Ô tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến đủ
tuổi thành niên xét thấy bà H Ô là người có đủ năng lực hành vi dân sự, sự thỏa
thuận giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, không trái với pháp luật và đạo đức xã
hội nên cần chấp nhận giao con chung Y Đ và H D cho bà H Ô chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục đến đủ tuổi thành niên. Đối với con chung là H Y đã đủ tuổi thành
niên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên không xem xét giải quyết.
[3.3] Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng bị đơn yêu cầu ông Y Th phải có nghĩa vụ
cấp dưỡng 1 triệu đồng/01 con chung cho 02 con chung là Y Đ và H D, xét thấy
nghề nghiệp của ông Y Th chủ yếu làm nông, có mức thu nhập thấp và không ổn
định nên mức cấp dưỡng mà bị đơn yêu cầu là chưa ph hợp với mức thu nhập của
người làm nông hiện nay. Để đáp ứng nhu cầu thiết yếu và bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của con chung, căn cứ vào tình hình thực tế khả năng về mức thu nhập
hiện nay của ông Y Th cần buộc ông Y Th phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho 02 con
chung mỗi con chung 700.000 đồng/tháng là ph hợp.
[3.4] Đối với tài sản chung và nợ chung các đương sự không yêu cầu nên
không xem xét giải quyết.
[4] Về tiền tạm ứng án phí và án phí: Ông Y Th là người nộp đơn khởi kiện
giải quyết việc ly hôn và có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên phải chịu toàn
bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, nhưng thuộc trường hợp
người đồng bào dân tộc thiểu số cư trú tại xã có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt
khó khăn nên được min nộp toàn bộ tiền tạm ứng án phí trước khi thụ lý vụ án và
án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn và cấp dưỡng nuôi con chung.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39; các Điều 144; 147; 220; 227; 228; 235; 266, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 131 luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 1 Điều 11, Điều 87 luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000; Nghị
quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội khóa 10 về việc thi hành
luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-
TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện
6
kiểm sát nhân dân Tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Nghị quyết số
35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội khóa 10;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, min, giảm, thu
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban
hành km theo Nghị quyết.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Y Th. Tuyên
bố: Không công nhận quan hệ vợ chồng đối với ông Y Th và bà H Ô.
2. Về con chung: Ông Y Th và bà H Ô có 03 con chung là H Y, sinh ngày
30/7/2006; Y Đ, sinh ngày 16/12/2011 và H D, sinh ngày 25/6/2018.
- Giao con chung H Y và Y Đ cho bà H Ô trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi
dưỡng và giáo dục đến khi đủ tuổi thành niên.
- Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng: Buộc ông Y Th có nghĩa vụ cấp dưỡng 700.000
đồng (bảy trăm nghìn đồng)/tháng cho con chung H Y và 700.000 đồng (bảy trăm
nghìn đồng)/tháng cho con chung Y Đ đến khi các con chung đủ tuổi thành niên.
- Ông Y Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể
quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- Đối với con chung H Y, sinh ngày 30/7/2006 đã đủ tuổi thành niên các
đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
3. Về tài sản chung và nợ chung các đương sự không yêu cầu nên không xem
xét giải quyết.
4. Về án phí: Min toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn và cấp
dưỡng nuôi con chung cho ông Y Th.
5. Về tiền tạm ứng án phí: Ông Y Th thuộc trường hợp người đồng bào dân
tộc thiểu số cư trú tại xã có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn nên đã được
min nộp toàn bộ tiền tạm ứng án phí trước khi thụ lý vụ nên không xem xét.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền
kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ
ngày bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều
2 Luật THADS thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền
thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật
THADS; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
THADS./.
7
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Đắk Lắk;
- VKSND huyện Lắk;
- UBND xã Nam Ka;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Văn Công Cường
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 29/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 29/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 27/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 25/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 22/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 21/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 20/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 16/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 15/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 15/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 13/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 13/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 12/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 12/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 11/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 08/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 08/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm