Bản án số 10/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TAND huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 10/2024/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 10/2024/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 10/2024/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 10/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TAND huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Văn Quan (TAND tỉnh Lạng Sơn) |
| Số hiệu: | 10/2024/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 17/04/2024 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Tội tàng trữ trái phép chất ma túy |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN QUAN
TỈNH LẠNG SƠN
Bản án số: 10/2024/HS-ST
Ngày 17-4-2024
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN QUAN, TỈNH LẠNG SƠN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nông Thị Mỹ Phước
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lương Đình Huy
Bà Hoàng Thị Tuyết
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hà Thị Bích Liên - Thư ký Tòa án
nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn tham
gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thuỳ Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại điểm cầu chính Phòng xét xử Trụ sở Tòa án
nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn và điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ
Công an huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự
thụ lý số: 07/2024/TLST-HS, ngày 12 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-HS, ngày 03 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Linh Văn H (Tên gọi khác: Không có), sinh ngày 01/07/1993 tại xã T,
huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn
L, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa:
Lớp 02/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;
con ông Linh Văn T (đã chết) và con bà Hoàng Thị S, sinh năm 1952; vợ, con:
chưa có; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: chưa bị xử lý vi phạm hành chính, xử
lý kỷ luật. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08/01/2024, tạm giam từ ngày 10/01/2024
tại Nhà tạm giữ Công an huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn đến nay. Có mặt tại điểm
cầu thành phần.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lương Thị Hương L - Trợ giúp viên pháp lý
thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt, có đơn xin
xét xử vắng mặt.
2
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Triệu Thị X, sinh
năm 1966, nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt tại điểm cầu
chính.
- Người tham gia tố tụng khác:
Cán bộ, chiến sĩ đang công tác tại Nhà tạm giữ Công an huyện Căn Quan,
tỉnh Lạng Sơn hỗ trợ phiên toà tại điểm cầu thành phần:
- Đồng chí Bế Văn T.
- Đồng chí Lý Văn H.
- Đồng chí Nông Văn B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Do bản thân nghiện ma túy Heroin từ năm 2022 nên ngày 08/01/2024, Linh
Văn H đi bộ từ nhà ở thôn L, xã T, huyện V sang nhà Linh Văn S (là người cùng
thôn) hỏi mượn xe mô tô biển kiểm soát 12U1-151.17 (xe của bà Triệu Thị X - dì
ruột của Linh Văn S) để đi chơi, Linh Văn S đồng ý. Linh Văn H một mình điều
khiển xe mô tô biển kiểm soát 12U1-151.17 ra khu vực cổng Trung tâm thương
mại thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn để mua ma túy. Đến nơi Linh Văn H gặp
một người đàn ông làm nghề lái xe ôm (không quen biết) hỏi mua ma túy và đưa
cho người này số tiền 500.000 đồng, người đàn ông cầm tiền đi được khoảng 30
phút sau quay lại đưa cho Linh Văn H 02 gói có chứa ma túy Heroin. Sau khi mua
được ma tuý Linh Văn H quay trở về nhà, khi đi đến khu vực nhà máy xi măng H,
xã H, huyện C rẽ vào khu vực vắng người, lấy một phần ma túy Heroin từ bọc nilon
màu hồng ra để sử dụng. Sau đó, Linh Văn H cầm số ma túy còn lại trong tay trái và
tiếp tục điều khiển xe mô tô về nhà, đến khoảng 14 giờ cùng ngày đi qua địa phận
phố Đ, thị trấn Q, huyện V thì gặp Tổ công tác Công an thị trấn Q phối hợp với
Công an huyện V dừng xe kiểm tra phát hiện Linh Văn H đang cầm trong tay trái
02 bọc nilon chứa chất bột màu trắng. Linh Văn H khai nhận đó là ma túy Heroin
mua về để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu
giữ tang vật. Cùng ngày, Công an huyện V đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở
của Linh Văn H nhưng không phát hiện và thu giữ đồ vật, tài liệu liên quan.
Tại Kết luận giám định số 195/KL-KTHS ngày 10/01/2024 của Phòng Kỹ
thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: “Chất bột màu trắng có trong bọc
nilon màu hồng gửi giám định là chất ma túy Heroin có khối lượng 0,145 gam (đã
trừ bì); Chất bột màu trắng có trong bọc nilon màu đen gửi giám định đều là chất
ma túy Heroin có tổng khối lượng 0,286 gam (đã trừ bì)”.
Các vật chứng, đồ vật thu giữ gồm: 02 bọc nilon trong đó 01 bọc màu hồng
và 01 bọc màu đen có chứa chất bột màu trắng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA
WINNERX màu trắng đen, biển kiểm soát 12U1-151.17 và chìa khóa xe.
3
Tại bản cáo trạng số: 09/CT-VKSVQ ngày 08/3/2024 của Viện kiểm sát
nhân dân huyện Văn Quan, đã truy tố bị cáo Linh Văn H về tội “Tàng trữ trái phép
chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Linh Văn H thừa nhận hành vi phạm tội như trên: Về
vật chứng bị thu giữ, bị cáo khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 08/01/2024, Linh Văn
H đi bộ từ nhà ở thôn L, xã T, huyện V sang nhà Linh Văn S (là người cùng thôn)
hỏi mượn xe mô tô biển kiểm soát 12U1-151.17 nhãn hiệu HONDA WINNERX
màu trắng đen (xe của bà Triệu Thị X - dì ruột của Linh Văn S, xe cũ đã qua sử
dụng) Linh Văn S đồng ý. Khi Linh Văn H mượn xe thì nói với Linh Văn S mượn
xe để đi chơi, khi đó bà Triệu Thị X không ở nhà và không biết bị cáo sử dụng làm
phương tiện đi mua ma tuý nên bị cáo đề nghị trả lại chiếc xe mô tô cho bà Triệu
Thị X. Đối với số ma tuý cơ quan điều tra đã thu giữ, bị cáo đề nghị tịch thu tiêu
huỷ.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Triệu Thị X trình
bày: Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12U1-151.17 Linh Văn H điều khiển đi ra thị
trấn Đ, huyện C là chiếc xe do bà mua từ năm 2020 từ số tiền riêng của bà, đứng
tên đăng ký là Triệu Thị X. Do cháu trai là Linh Văn S ở với bà từ nhỏ nên bà giao
xe cho Linh Văn S sử dụng làm phương tiện phục vụ nhu cầu gia đình và đi làm
hàng ngày. Ngày 08/01/2024 bà không ở nhà thì Linh Văn S cho Linh Văn H
mượn xe bà không biết. Nay bà đề nghị trả lại chiếc xe mô tô nêu trên.
Trong phần tranh luận, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa
vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Linh Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng
điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều
47; Điều 50 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố
tụng hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Linh Văn H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm
tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo không có tài
sản riêng, không có thu nhập. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu để tiêu hủy số
ma tuý còn lại sau giám định và các vỏ bao gói cũ; trả lại cho bà Triệu Thị X chiếc
xe mô tô biển kiểm soát12U1-151.17 và chìa khóa xe. Về án phí: Đề nghị cho bị
cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm do bị cáo là dân tộc thiểu số, sinh sống tại
vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, xin miễn án phí.
Người bào chữa cho bị cáo vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong bản Luận cứ
gửi cho Hội đồng xét xử trình bày: Nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm
sát về căn cứ buộc tội, tội danh và các tình tiết về nhân thân, tình tiết tăng nặng,
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh
sống tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức về pháp luật,
xã hội có phần hạn chế. Bị cáo thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với
mục đích là để sử dụng cho bản thân, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình
phạt tù bằng mức thấp nhất mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Về vật chứng và
các vấn đề khác nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Về án phí: Bị cáo
là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt
4
khó khăn, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử tuyên cho bị cáo được miễn toàn bộ án
phí hình sự. Bị cáo Linh Văn H không có ý kiến bổ sung luận cứ của người bào
chữa.
Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị
cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi tố tụng, quyết định của Điều tra viên và Kiểm sát viên, người
bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình
tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại
phiên toà bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về
hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của
người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà vắng mặt bà Lương Thị Hương L là
người bào chữa cho bị cáo, có đơn xin xét xử vắng mặt và gửi bản luận cứ bào
chữa cho Toà án. Bị cáo nhất trí xét xử vắng mặt người bào chữa, không ai đề nghị
hoãn phiên tòa nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người bào chữa
theo khoản 1 Điều 291 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên toà
phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội
quả tang và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên toà. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ ngày 08/01/2024, tại phố Đ,
thị trấn Q, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, Tổ công tác Công an thị trấn Q phối hợp với
Công an huyện V bắt quả tang Linh Văn H đang tàng trữ trái phép 0,431 gam ma
túy Heroin. Nguồn gốc số ma túy trên Linh Văn H nhờ một người đàn ông không
quen biết làm nghề xe ôm ở khu vực Trung tâm thương mại thị trấn Đ, huyện C,
tỉnh Lạng Sơn mua hộ với giá 500.000 đồng, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Hành vi của bị cáo Linh Văn H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo
quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm
sát nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo thấy
rằng, hành vi của bị cáo gây ra là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng
xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc
quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, là nguyên nhân phát sinh các tội
phạm khác. Hành vi của bị cáo bị nhân dân lên án mạnh mẽ và bị pháp luật nghiêm
cấm, do đó phải được xử lý nghiêm trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục bị
cáo, răn đe, phòng ngừa chung. Để có mức án thỏa đáng ngoài việc xem xét tính

5
chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải xem xét đến nhân thân, các tình
tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
[5] Về nhân thân: Bị cáo là người nghiện ma tuý, do đó xác định bị cáo có
nhân thân không tốt.
[6] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có
tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo
Linh Văn H thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo là người
dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn,
trình độ văn hóa thấp, am hiểu pháp luật còn hạn chế nên bị cáo được áp dụng tình
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ
luật hình sự.
[7] Về hình phạt chính: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Bị cáo
là người đã thành niên, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành
vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng là đối tượng sử dụng ma tuý, không chịu
cai nghiện, tu dưỡng rèn luyện bản thân, cố ý tàng trữ ma tuý để sử dụng. Bởi vậy,
cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi
phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng
răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
[8] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình
sự người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ
5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy tại Biên bản xác
minh ngày 24/01/2024 và tại phiên tòa hôm nay xác định bị cáo không có không có
tài sản, không có thu nhập ổn định gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, nếu phạt tiền thì
bị cáo không có khả năng thi hành án, do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình
phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[9] Đối với người đàn ông đã mua hộ ma túy cho Linh Văn H tại khu vực
khu vực Trung tâm thương mại thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, do không có đủ
thông tin nên không xác định được đối tượng, Hội đồng xét xử không có cơ sở để
xử lý.
[10] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,365 gam chất ma túy Heroin (còn lại sau
giám định) là vật cấm lưu hành và các vỏ bao gói cũ không còn giá trị sử dụng nên
cần tịch thu để tiêu huỷ. Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12U1-151.17 và
chìa khoá xe là của bà Triệu Thị X mua từ năm 2020 xét thấy chiếc xe là tài sản
của bà Triệu Thị X, ngày 08/01/2024 Linh Văn S cho Linh Văn H mượn chiếc xe
mô tô và Linh Văn H sử dụng làm phương tiện đi mua ma tuý bà không biết. Nay
bà Triệu Thị X yêu cầu trả lại chiếc xe mô tô là có căn cứ, do vậy cần trả lại chiếc
xe và chìa khoá xe cho bà Triệu Thị X.
[11] Xét đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Quan,
tỉnh Lạng Sơn và quan điểm của người bào chữa cho bị cáo phù hợp với nhận định
nêu trên của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
6
[12] Về án phí: Bị cáo Linh Văn H là người bị kết án, là người dân tộc thiểu
số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc hộ
nghèo, xin được miễn án phí nên cho bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
[13] Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng
cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47; Điều
50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135;
khoản 2Điều 136; khoản 1 Điều 291; Điều 326; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố
tụng hình sự;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/
UBTVQH14 khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Linh Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép
chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Linh Văn H 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính
từ ngày 08 tháng 01 năm 2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng:
3.1. Tịch thu để tiêu huỷ với 01 phong bì thư đã niêm phong bên trong có 02
gói giấy đựng tổng cộng 0,365 gam chất ma túy Heroin (còn lại sau giám định) và
vỏ bao gói cũ có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Mạnh H và hình dấu
của Phòng kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới.
3.2. Trả lại cho bà Triệu Thị X 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WINNERX,
màu sơn đen bạc – vàng đồng (đã được thay đổi màu sơn trắng đen), biển kiểm
soát 12U1-151.17, số khung 3719KY028416, số máy KC34E1058645, tình trạng
xe cũ đã qua sử dụng và 01 chìa khóa của xe mô tô.
(Vật chứng trên hiện đang giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh
Lạng Sơn theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/03/2024).
4. Về án phí: Bị cáo Linh Văn H được miễn án phí hình sự sơ thẩm
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có
7
quyền kháng cáo những nội dung liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Toà án tỉnh Lạng Sơn; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Lạng Sơn
- Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn;
- Công an huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn;
- CCTHADS huyện V, tỉnh Lạng Sơn;
- Bị cáo, người bào chữa và những người TGTT khác;
- Lưu: HS + Tổ HCTP. Nông Thị Mỹ Phước
8
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Bản án số 80/2026/KDTM-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 22/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 16/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Bản án số 16/2026/KDTM-PT ngày 14/02/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 14/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm