Bản án số 10/2024 ngày 29/03/2024 của TAND huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 10/2024
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 10/2024
| Tên Bản án: | Bản án số 10/2024 ngày 29/03/2024 của TAND huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Duy Tiên (TAND tỉnh Hà Nam) |
| Số hiệu: | 10/2024 |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 29/03/2024 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Xin ly hôn |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DUY TIÊN
TỈNH HÀ NAM
Án số: 10/2024/HNGĐ-ST
Ngày 29/3/2024
V/v:“Ly hôn, nuôi con”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM
* Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Mạnh Xuân Hải.
- Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Hoằng và bà Đỗ Thị Liên.
- Thư ký phiên tòa: bà Phạm Thị Loan – Thẩm tra viên Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên toà: ông
Đinh Huy Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 3 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên xét
xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 83/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng
11 năm 2023, về việc tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án
ra xét xử số: 11/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2024, giữa các đương
sự:
1/ Nguyên đơn: chị Vũ Thị Thúy V, sinh năm 1991; nơi ĐKNKTT: tổ dân
phố Ph, phường Đ, thị xã D, tỉnh Hà Nam; chỗ ở hiện nay: thôn Đ, xã A, huyện
B, tỉnh Hà Nam; có mặt.
2/ Bị đơn: anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1982; địa chỉ: tổ dân phố Ph,
phường Đ, thị xã D, tỉnh Hà Nam; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Vũ Thị
Thúy V trình bày: Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn T trên cơ sở tự nguyện và
được UBND thị trấn Đ, huyện D (nay là UBND phường Đ, thị xã Duy Tiên), tỉnh
Hà Nam tổ chức đăng ký kết hôn vào ngày 23/3/2015.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận được một thời gian thì
phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung
trong cuộc sống dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn ngày một
trầm trọng, nên vợ chồng đã sống ly thân nhiều lần, lần gần nhất là từ khoảng
2
tháng 7 năm 2023 đến nay vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xác
định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly
hôn với anh T.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn Văn
T trình bày: Anh xác nhận thời gian, điều kiện thủ tục kết hôn giữa anh và chị V
như chị V đã trình bày với Tòa án. Về nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn, anh cho
rằng là do hai vợ chồng có một số bất đồng trong sinh hoạt và cách nuôi dạy con
dẫn đến vợ chồng xảy ra xô xát với nhau, khoảng tháng 7 năm 2023 khi vợ chồng
mâu thuẫn thì chị V tự ý đưa các con về nhà đẻ để ở và từ đó vợ chồng sống ly
thân đã sống ly thân đến nay. Anh cho rằng việc mâu thuẫn vợ chồng chưa đến
mức phải ly hôn các con sẽ thiếu tình cảm của cha mẹ. Tại phiên tòa chị V kiên
quyết ly hôn anh cũng đồng ý.
Về con chung: Cả chị V và anh T cùng xác nhận vợ chồng có ba con chung
là: cháu Nguyễn Anh T, sinh ngày 04/01/2016; cháu Nguyễn Trúc Q, sinh ngày
06/5/2019 và cháu Nguyễn Anh Th, sinh ngày 07/02/2021. Khi ly hôn, chị V xin
nuôi cả ba cháu và không yêu cầu anh T cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Quan
điểm của anh T cho rằng trong trường hợp vợ chồng phải ly hôn nếu chị V muốn
nuôi cả 3 con chung thì anh cũng đồng ý để cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng cả ba
cháu và anh không cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thị xã Duy Tiên phát biểu ý kiến về
việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư
ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Về ý
kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 28; 35; 39; 147
Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56; 81. 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; Nghị
quyết số: 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội. Xử công
nhận thuận tình ly hôn giữa chị Vũ Thị Thúy V và anh Nguyễn Văn T; về con
chung: Giao chị V trực tiếp nuôi dưỡng cả ba con chung của vợ chồng. Anh T
không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung; về tài sản chung, công sức và công nợ
của vợ chồng: không đặt ra xem xét; về án phí HN&GĐ sơ thẩm: các đương sự
phải chịu theo quy định của pháp luật.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa. Sau khi nghe vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên phát
biểu ý kiến về vụ án, sau khi thảo luận và nghị án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
3
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị Thúy V và anh Nguyễn Văn T kết
hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, được UBND thị trấn Đ, huyện D (nay là UBND
phường Đ, thị xã D), tỉnh Hà Nam đăng ký kết hôn ngày 23/3/2015.
[2] Về quan hệ tình cảm vợ chồng: Sau khi kết hôn, vợ chồng chị V, anh T
chung sống hòa thuận được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn đã được
các bên thừa nhận, nguyên nhân là do hai vợ chồng không tìm được tiếng nói
chung trong cuộc sống, từ đó dẫn đến tình cảm vợ chồng mâu thuẫn ngày một
trầm trọng không thể hàn gắn được và anh chị đã tự sống ly thân từ khoảng tháng
7 năm 2023 đến nay. Tại phiên tòa trước yêu cầu kiên quyết xin ly hôn của chị V
và được anh T đồng ý. Vì vậy, HĐXX căn cứ vào Điều 55 Luật Hôn nhân và gia
đình để công nhận sự thuận tình ly hôn của chị Vũ Thị Thúy V và anh Nguyễn
Văn T là phù hợp với thực tế và quy định của pháp luật.
[3] Về con chung: Cả chị V và anh T cùng xác nhận vợ chồng có ba con
chung là cháu Nguyễn Anh T, sinh ngày 04/01/2016; cháu Nguyễn Trúc Q, sinh
ngày 06/5/2019 và cháu Nguyễn Anh Th, sinh ngày 07/02/2021. Hiện nay cả ba
cháu đang ở với chị V. Khi ly hôn, chị V xin nuôi cả ba cháu và không yêu cầu
anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung và được anh T đồng ý. Vì vậy HĐXX
cần ghi nhận sự thỏa thuận này của các đương sự.
[4] Về tài sản chung, công nợ, công sức của vợ chồng: Do các đương sự
không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét.
[5] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Các đương sự phải chịu theo quy
định của pháp luật. Tại phiên tòa chị V tự nguyện nộp toàn bộ án phí HNGĐ sơ
thẩm và được anh T đồng ý nên chị V được đối trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo
quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: các Điều 28; 35; 39; 147 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 55, 58,
81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/NQ-UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Vũ Thị Thúy
V và anh Nguyễn Văn T.

4
2. Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của các đưng sự: Giao chị Vũ Thị
Thúy V trực tiếp nuôi dưỡng cả ba cháu, cháu Nguyễn Anh T, sinh ngày
04/01/2016; cháu Nguyễn Trúc Q, sinh ngày 06/5/2019 và cháu Nguyễn Anh Th,
sinh ngày 07/02/2021 kể từ tháng 4/2024 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, trưởng
thành, tự lập được. Anh T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh T được
quyền thăm hỏi, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Chị V
và các thành viên trong gia đình không được cản trở anh T trong việc thăm nom,
chăm sóc, giáo dục con chung.
3. Về tài sản chung, công sức và công nợ: Không đặt ra xem xét.
4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị V phải chịu 300.000 đồng. Chị
Vân được đối trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số
0001012 ngày 06/11/2023 tại Chi cục Thi hành án thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
Báo cho nguyên đơn, bị đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong
hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành
án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Hà Nam.
- VKSND thị xã Duy Tiên.
- THADS thị xã Duy Tiên.
- UBND phường Đồng Văn;
- Các đương sự.
- Lưu Hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Mạnh Xuân Hải
5
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 24/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 17/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 11/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 31/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 31/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 30/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 30/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 30/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 30/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 30/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 30/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm