Bản án số 10/2022/LĐ-ST ngày 21/03/2022 của TAND Quận 1, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 10/2022/LĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 10/2022/LĐ-ST ngày 21/03/2022 của TAND Quận 1, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND Quận 1 (TAND TP. Hồ Chí Minh)
Số hiệu: 10/2022/LĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/03/2022
Lĩnh vực: Lao động
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về bảo hiểm xã hội và bồi thường tiền trợ cấp thất nghiệp
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Đỗ Nguyễn Mai Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Tuấn Anh
2. Ông Nguyễn Lương Quân
- Thư ký phiên toà: Bà Bế Thị Phượng - Thư ký Toà án nhân dân Quận 1.
- Đại diện Viện Kim t nn dân Quận 1 tham gia phiên toà: Bà Tăng Tố Thu -
Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tuyên án ngày 21 tháng 3 năm 2022, tại phòng xử án Toà án
nhân dân Quận 1, xét xử thẩm công khai vụ án lao động thụ số 129/2019/TLST-
LĐ ngày 04 tháng 12 năm 2019 về việc “Tranh chấp về bảo hiểm xã hội và bồi thường
tiền trợ cấp thất nghiệp khi chấm dứt hợp đồng lao độngtheo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số 561/2022/QĐXXST- ngày 24 tháng 02 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Hồ Minh T, sinh năm 1979
Địa chỉ: số 46/40/11 đường V, Phường B, Quận E, Thành phố H.
2. Bị đơn: Công ty TNHH C
Địa chỉ: số 32 đường K, khu phố S, phường P, Quận A, Thành phố H.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông u Quốc H, sinh năm 1978
Địa chỉ: số 34/2 đường D, Phường M, quận T, Thành phố H.
(Theo Giấy ủy quyền số 03/03/2021/GUQ-T.C ngày 03 tháng 3 năm 2021)
3. Người làm chứng: Ông Nguyễn Tánh N, sinh năm 1984
Địa chỉ: số 15 đường T, phường K, thành phố X , Thành phố H.
Nguyên đơn ông Hồ Minh T người đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty
TNHH C là ông u Quốc H mặt tại phiên tòa. Người làm chứng ông Nguyễn Tánh
N có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, quá trình tham gia tố tụng tại
phiên tòa, nguyên đơn ông Hồ Minh T trình bày:
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc
Bản án số: 10/2022/LĐ-ST
Ngày: 21/3/2022
V/v Tranh chấp về bảo hiểm hội
bồi thường tiền trợ cấp thất nghip khi
chấm dt hp đng lao đng
2
Ngày 20/6/2018, ông Hồ Minh T bắt đầu vào thử việc tại Công ty TNHH C (sau
đây gọi là Công ty) với vị trí Giám sát kinh doanh. Ngày 20/8/2018, ông và Công ty ký
Hợp đồng lao động c định thời hạn 01 năm từ ngày 20/8/2018 đến ngày 19/8/2019,
chức vụ: Quản bán hàng khu vực; Mức lương: 7.730.000 đồng/tháng, phụ cấp theo
quy định của Công ty. Mức ơng thực lãnh của ông là 14.500.000 đồng/tháng gồm tiền
lương theo hợp đồng là 7.730.000 đồng và tiền phụ cấp là 6.770.000 đồng.
Đến ngày 15/12/2018, ông viết đơn xin nghỉ việc gửi qua thư điện tử (email),
thông báo sẽ kết thúc công việc vào ngày 31/12/2018 đã được Công ty chấp nhận.
Hiện các thư điện tử không còn do thời điểm đó ông sử dụng thư điện tử nội bộ của
Công ty. Từ ngày 15/12/2018 đến ngày 31/12/2018 ông vẫn đến ng ty làm việc
thực hiện việc bàn giao công việc, do đặc thù công việc phải đi công tác bên ngoài nên
ông không thường xuyên chấm công đầy đủ qua máy chấm công. Ông đã bàn giao xong
công việc chính thức nghỉ việc vào ngày 31/12/2018. Sau khi ông nghỉ việc thì ông
đã rất nhiều lần hối thúc Công ty phải ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng lao động
và hoàn tất hồ sơ đóng bảo hiểm xã hội cho ông để ông đi làm hồ sơ xin hưởng trợ cấp
thất nghiệp. Tuy nhiên đã quá thời hạn làm hồ sơ xin hưởng trợ cấp thất nghiệp Công
ty vẫn không giao quyết định chấm dứt hợp đồng lao động chưa hoàn tất hồ bảo
hiểm xã hội cho ông.
Đến khoảng tháng 3/2020, Công ty mới liên hệ ông đến nhận quyết định chấm
dứt hợp đồng lao động sổ bảo hiểm hội thì ông chỉ đồng ý nhận sổ bảo hiểm
hội, còn quyết định chấm dứt hợp đồng lao động thì ông không đồng ý nhận nữa do đã
quá 03 tháng kể từ khi chấm dứt hợp đồng lao động nên ông không thể làm hồ xin
hưởng trợ cấp thất nghiệp nữa. Khi nhận được sổ bảo hiểm xã hội, ông nhận thấy Công
ty chỉ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp cho ông căn cứ trên mức lương theo
hợp đồng lao động 7.730.000 đồng/tháng, trong khi mức lương thực lãnh của ông là
14.500.000 đồng/tháng. Ngoài ra ông làm việc từ ngày 20/8/2018 đến hết ngày
31/12/2018 nhưng Công ty chỉ đóng bảo hiểmhội, bảo hiểm thất nghiệp cho ông từ
ngày 01/9/2018 đến ngày 30/11/2018.
Do Công ty không hoàn thành hồ bảo hiểm hội cho ông ra quyết định
chấm dứt hợp đồng lao động trễ hơn 03 tháng sau khi ông nghỉ việc nên ông không thể
làm hồ sơ xin hưởng trợ cấp thất nghiệp. Ông đã đóng bảo hiểm thất nghiệp là 8 năm và
chưa hưởng bảo hiểm thất nghiệp, số tiền trợ cấp thất nghiệp lẽ ra ông được ởng là
37.104.000 đồng. Từ khi nghỉ việc đến nay đã hơn 03 năm ông chưa tìm được việc làm
chưa tham gia bảo hiểm hội lại Công ty nào khác. Nay ông cũng đã lớn tuổi,
việc tìm được công việc mới để kết hợp đồng lao động và tiếp tục tham gia bảo hiểm
xã hội là rất khó khăn, khó có thể hưởng được tiền trợ cấp thất nghiệp sau khi nghỉ việc.
Công ty đã vi phạm nghĩa vụ của người sử dụng lao động, y ra thiệt hại cho ông, do
đó ông yêu cầu Công ty phải bồi thường cho ông số tiền tương đương với tiền trợ cấp
thất nghiệp lẽ ra ông được nhận.
Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Hồ Minh T c định yêu cầu khởi kiện:
Nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc Công ty TNHH C phải đóng bảo hiểm xã hội,
bảo hiểm thất nghiệp cho ông với thời hạn đóng từ ngày 01/9/2018 đến ngày 31/12/2018
theo mức lương thực lãnh 14.500.000 đồng/tháng (gồm tiền lương 7.730.000 đồng,
phụ cấp 6.770.000 đồng) chốt sổ bảo hiểm hội cho ông. Công ty TNHH C phải
3
bồi thường cho ông số tiền tương đương với tiền trợ cấp thất nghiệp lẽ ra ông được nhận
là 37.104.000 (ba mươi bảy triệu, một trăm lẻ bốn nghìn) đồng.
Ông rút lại yêu cầu Công ty TNHH C phải đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất
nghiệp cho ông từ ngày 20/8/2018 đến ngày 31/8/2018 theo mức lương thực lãnh
14.500.000 đồng/tháng rút lại yêu cầu Công ty TNHH C phải ban hành quyết định
chấm dứt hợp đồng lao động với ông.
* Tại bản khai, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn Công ty TNHH
C có ông Lưu Quốc H là người đại diện hợp pháp trình bày:
Công ty TNHH C (sau đây gọi Công ty) ông Hồ Minh T Hợp đồng
lao động xác định thời hạn 01 năm từ ngày 20/8/2018 đến ngày 19/8/2019, chức vụ:
Quản bán hàng khu vực; Mức lương: 7.730.000 đồng/tháng. Mức lương thực lãnh của
ông T 14.500.000 đồng/tháng gồm tiền lương theo hợp đồng 7.730.000 đồng và
tiền hiệu suất công việc là 6.770.000 đồng. Mức lương làm cơ sđóng bảo hiểm hội,
bảo hiểm thất nghiệp cho ông T 7.730.000 đồng theo đúng hợp đồng lao động, còn
tiền tiền hiệu suất công việc 6.770.000 đồng tiền thưởng doanh số bán ng mỗi
tháng, không phải tiền phụ cấp nên không thm căn cứ đóng bảo hiểm hội, bảo
hiểm thất nghiệp theo yêu cầu của ông T.
Ngày 15/12/2018, ông T gửi thư điện tử về việc xin nghỉ việc được Công ty
chấp nhận. Hiện nay do đã lâu, Công ty đã thay đổi hoàn toàn về nhân sự nên các thư
điện tử cũng không còn. Công ty đã kiểm tra Bảng chấm công tháng 12/2018 nhận
thấy ông T làm việc đến ngày 12/12/2018, tổng thời gian làm việc trong tháng 12 9,33
ngày; Công ty đã thanh toán lương những ngày làm việc tháng 12 cho ông T. Do vậy
Công ty không có nghĩa vụ đóng bảo hiểm hội, bảo hiểm thất nghiệp tháng 12/2018
cho ông T vì chưa đủ điều kiện theo quy định pháp luật.
Thời điểm ông T nghỉ việc thì Công ty gặp rất nhiều khó khăn về tài chính, hàng
hóa bị tồn kho, còn nợ tiền bảo hiểm xã hội, do đó không thể ban hành quyết định chấm
dứt hợp đồng lao động chốt sổ bảo hiểm hội cho ông T ngay được. Nếu Công ty
chỉ ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng lao động chưa có sổ bảo hiểm xã hội thì
ông T cũng chưa thể làm hồ sơ xin hưởng trợ cấp thất nghiệp.
Vào tháng 02/2020, Công ty đã hoàn tất việc đóng bảo hiểm hội cho ông T
nên đã liên hệ ông T lên làm việc ngày 04/3/2020. Công ty trao đổi về việc sẽ báo
giảm, chốt sổ bảo hiểm xã hội cho ông T ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng lao
động mới vào tháng 3/2020 thì vẫn thể làm hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp nhưng
ông T chỉ nhận lại sbảo hiểm hội từ chối nhận quyết định chấm dứt hợp đồng
lao động.
Công ty không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu
Công ty phải đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp cho ông T với thời hạn đóng
từ ngày 01/9/2018 đến ngày 31/12/2018 theo mức lương thực lãnh là 14.500.000
đồng/tháng và chốt sổ bảo hiểm xã hội cho ông T. Công ty đã đóng đầy đủ bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm thất nghiệp cho ông T từ tháng 9/2018 đến tháng 11/2018 căn cứ theo
mức lương trong hợp đồng lao động là 7.730.000 đồng/tháng.
Về việc bồi thường tiền trợ cấp thất nghiệp ông T yêu cầu thì Công ty chậm
đóng bảo hiểm hội nên cũng đồng ý bồi thường cho ông T, tuy nhiên đề nghị Hội
4
đồng xét xử xem xét mức bồi thường phù hợp theo quy định pháp luật vì thực tế ông T
chỉ làm việc cho Công ty trong 03 tháng.
* Tại bản khai, người làm chứng ông Nguyễn Tánh N trình bày:
Trong thời gian ông T làm việc tại Công ty TNHH C (sau đây gọi là Công ty) thì
ông Giám đốc nhân sự. Tại thời điểm ông T xin nghviệc hoàn tất thủ tục thôi việc
vào tháng 12/2018 thì Công ty chưa đóng được đầy đủ bảo hiểm hội, bảo hiểm thất
nghiệp cho các nhân viên. Vì vậy khi ông T nghỉ việc, Công ty không thể ban hành ngay
quyết định chấm dứt hợp đồng lao động cho ông T. Công ty phương án sẽ chưa
báo giảm ngay khi nhân sự nghỉ việc để khi nào Công ty đóng bảo hiểm xã hội xong thì
nhân sự nghỉ việc thể làm thủ tục nhận trợ cấp thất nghiệp. vậy, trên hệ thống khai
báo bảo hiểm xã hội vẫn chưa báo giảm ngay khi nhân sự nghỉ việc. ông T có nhiều lần
liên hệ ông về việc làm thủ tục ra quyết định chấm dứt hợp đồng lao động nhưng
Công ty không thể ra quyết định ngay vướng việc chưa đóng bảo hiểm hội
trình y phương án sẽ ra quyết định thôi việc chậm đợi ng ty đóng bảo hiểm xã
hội. Tuy nhiên một thời gian khá dài sau, Công ty vẫn chưa đóng xong bảo hiểm xã hội
nên ông đã lập quyết định thôi việc và liên hệ ông T để nhận quyết định này nhưng ông
T đã không đồng ý nhận quyết định vì Công ty chưa hoàn thành việc đóng bảo hiểm xã
hội cho ông T. Tại thời điểm nghỉ việc, ông T đã hoàn tất thủ tục bàn giao công việc.
* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 1 phát biểu ý kiến:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành
đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc thụ vụ án, xác định quan hệ pháp
luật tranh chấp, tư cách đương sự, tiến hành thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố
tụng, thời hạn chuyển hcho Viện Kiểm sát cùng cấp nghiên cứu, thời gian mở phiên
tòa, thành phần Hội đồng xét xử và nguyên tắc xét xử. Đương sự đã thực hiện đúng quy
định của Bộ luật Tố tụng dân sự về quyền, nghĩa vụ của các đương sự khi tham gia tố
tụng.
Về nội dung vụ án: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện Công ty
TNHH C (sau đây gọiCông ty) và ông Hồ Minh T có xác lập Hợp đồng lao động xác
định thời hạn 01 năm từ ngày 20/8/2018 đến ngày 19/8/2019. Xét hợp đồng lao động
giữa ông T Công ty chỉ thỏa thuận mức lương 7.730.000 đồng/tháng, không thể
hiện mức phụ cấp. ông T yêu cầu Công ty đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp
cho ông bao gồm số tiền hiệu suất công việc 6.770.000 đồng là không có căn cứ. Thời
điểm tháng 12/2018, căn cứ vào kết quả chấm công thì ông T chỉ làm việc 9,23 ngày;
như vậy chưa đủ điều kiện theo quy định pháp luật để buộc Công ty đóng bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm thất nghiệp tháng 12/2018 cho ông T. Về tiền bồi thường ông T yêu
cầu, lời trình bày của bị đơn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thể hiện Công ty còn nợ
tiền bảo hiểm hội nên chưa ban hành Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động đúng
hạn cho ông T. Như vậy Công ty đã vi phạm nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội cho người
lao động, có lỗi trong việc gây ra thiệt hại cho ông T khi không thể làm hồ sơ hưởng trợ
cấp thất nghiệp đúng hạn, do đó việc ông T yêu cầu Công ty bồi thường cho ông số tiền
37.104.000 đồng là có cơ sở. Tại phiên tòa, ông T rút lại yêu cầu Công ty phải đóng bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp cho ông từ ngày 20/8/2018 đến ngày 31/8/2018 theo
mức lương thực lãnh là 14.500.000 đồng/tháng rút lại yêu cầu Công ty phải ban hành
quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với ông T, do đó đề nghị Hội đồng xét xử đình
chỉ đối với các yêu cầu nguyên đơn đã rút.
5
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được xem xét
tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa ý kiến của đại diện Viện
Kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao
động với người sử dụng lao động. Tại thời điểm nguyên đơn nộp đơn khởi kiện, bị đơn
Công ty TNHH C đăng ký kinh doanh tại địa chỉ: số 509 đường Đ, phường C, Quận M,
Thành phố H. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 32; Điểm c khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản
1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án
nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nguyên đơn bị đơn tranh chấp về thời gian đóng, mức đóng bảo hiểm hội
và yêu cầu bồi thường số tiền tương đương với tiền trợ cấp thất nghiệp, do đó Hội đồng
xét xử xác định quan htranh chấp: Tranh chấp về bảo hiểm hội bồi thường tiền
trợ cấp thất nghiệp khi chấm dứt hợp đồng lao động.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải đóng bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm thất nghiệp với thời hạn đóng từ ngày 01/9/2018 đến ngày 31/12/2018
theo mức lương thực lãnh 14.500.000 đồng/tháng (gồm tiền lương 7.730.000 đồng
phụ cấp 6.770.000 đồng) và chốt sổ bảo hiểm xã hội, Hội đồng xét xử nhận định:
Ông Hồ Minh TCông ty TNHH C (sau đây gọi là Công ty) ký Hợp đồng lao
động xác định thời hạn 01 năm từ ngày 20/8/2018 đến ngày 19/8/2019, chức vụ: Quản
lý bán hàng khu vực, Mức lương: 7.730.000 đồng/tháng.
Hợp đồng lao động được hai bên kết trên sở tự nguyện, phù hợp với quy
định của pháp luật về giao kết hợp đồng lao động nên hợp đồng giá trị pháp lý ràng
buộc quyền và nghĩa vụ giữa hai bên.
Về thời gian đóng bảo hiểm xã hội của ông T tại Công ty:
Theo Sổ bảo hiểm hội do ông T cung cấp Công văn số 217/BHXH ngày
01/02/2021 của Bảo hiểm xã hội Quận 1 thể hiện Công ty đã đóng bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm thất nghiệp cho ông T từ tháng 9/2018 đến tháng 11/2018.
Nguyên đơn cho rằng Công ty đã không tham gia bảo hiểm hội, bảo hiểm thất
nghiệp tháng 12/2018 cho ông trong khi ông đi làm đến ngày 31/12/2018.
Theo Bảng chấm công và bảng tính lương tháng 12/2018 của Công ty thể hiện số
ngày công ởng lương tháng 12/2018 của ông T là 9,23 ngày; như vậy thời gian ông
T không m việc không hưởng tiền lương trong tháng 12/2018 từ 14 ngày làm
việc trở lên. ông T trình bày ông là nhân viên sale nên không thực hiện việc chấm công
qua máy thường xuyên, tuy nhiên lời trình y y không được đại diện bị đơn thừa
nhận. Ngoài ra không có tài liệu nào khác chứng minh ông T đi làm đến ngày
31/12/2018.
Căn cứ Khoản 3 Điều 85 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định: “Người
lao động không làm việc không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong
6
tháng thì không đóng bảo hiểm hội tháng đó. Thời gian này không được tính để hưởng
bảo hiểm xã hội, trừ trường hợp nghỉ việc hưởng chế độ thai sản”.
Đối chiếu với quy định của pháp luật thì không sở buộc Công ty trách
nhiệm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp tháng 12/2018 cho ông T.
Về mức đóng bảo hiểm xã hội của ông T tại Công ty:
Xét Hợp đồng lao động ngày 20/8/2018 giữa ông T Công ty thể hiện mức
lương thỏa thuận theo hợp đồng là 7.730.000 đồng/tháng, không thể hiện mức phụ cấp.
Nguyên đơn cho rằng số tiền 6.770.000 đồng tiền phụ cấp nhưng không tài liệu
chứng minh cũng không được bị đơn xác nhận. Theo Bảng tách lương của Công ty
do nguyên đơn cung cấp và lời trình bày của đại diện bị đơn thì số tiền 6.770.000 đồng
là tiền hiệu suất công việc, không phải tiền phụ cấp lương, tiền hiệu suất là tiền thưởng
doanh số cho người lao động.
Căn cứ khoản 2 Điều 89 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định: Từ ngày
01/01/2018 trở đi, tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội là mức lương, phụ cấp lương
và các khoản bổ sung khác theo quy định của pháp luật về lao động”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 21 của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày
12/01/2015 của Chính phủ quy định: Các khoản bổ sung khác khoản tiền bổ sung
ngoài mức lương, phụ cấp lương liên quan đến thực hiện công việc hoặc chức
danh trong hợp đồng lao động, trừ tiền thưởng, tiền ăn giữa ca, các khoản hỗ trợ, trợ
cấp của người sử dụng lao động không liên quan đến thực hiện ng việc hoặc chức
danh trong hợp đồng lao động.
Đối chiếu với các quy định trên thì khoản tiền hiệu suất 6.770.000 đồng tiền
thưởng, không được tính làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Như vậy Công ty đã hoàn thành nghĩa vụ đóng bảo hiểm hội, bảo hiểm thất
nghiệp cho ông T từ tháng 9/2018 đến tháng 11/2018 với mức đóng căn cứ theo mức
lương thỏa thuận trong hợp đồng lao động 7.730.000 đồng/tháng phù hợp quy định
của pháp luật, đồng thời Công ty cũng đã chốt và trả sổ bảo hiểm xã hội cho ông T. Do
đó không sở chấp nhận yêu cầu của ông T về việc buộc Công ty đóng bảo hiểm
hội, bảo hiểm thất nghiệp cho ông T từ ngày 01/9/2018 đến ngày 31/12/2018 với mức
đóng căn cứ vào mức lương thực lãnh 14.500.000 đồng/tháng chốt sổ bảo hiểm
hội cho ông T.
[3] Về yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải bồi thường số tiền tương
đương với tiền trợ cấp thất nghiệp lẽ ra nguyên đơn được nhận là 37.104.000 (ba mươi
bảy triệu, một trăm lẻ bốn nghìn) đồng, Hội đồng xét xử nhận định:
Theo nguyên đơn trình y ngày 15/12/2018, ông xin thôi việc tại Công ty
được Công ty chấp thuận. Sau khi nghỉ việc, ông đã nhiều lần hối thúc Công ty phải ban
hành quyết định chấm dứt hợp đồng lao động hoàn tất hồ sơ đóng bảo hiểm hội
cho ông để ông đi làm hồ xin hưởng trcấp thất nghiệp. Tuy nhiên, Công ty vẫn
không ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng lao động chưa hoàn tất hồ bảo
hiểm hội để ông thể xin hưởng trợ cấp thất nghiệp trong thời hạn 03 tháng theo
quy định pháp luật.
Lời trình y của nguyên đơn phù hợp với lời trình bày của đại diện bị đơn, người
làm chứng và công văn số 2978/BHXH ngày 16/12/2020 của Bảo hiểm xã hội Quận 1,
7
thể hiện thời điểm ông T xin nghỉ việc ngày 15/12/2018, Công ty gặp khó khăn về tài
chính nên chưa đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp cho ông T, do đó chưa ban
hành quyết định chấm dứt hợp đồng lao động chốt sổ bảo hiểm xã hội cho ông T.
Đến tháng 02/2020, Công ty mới hoàn thành việc đóng bảo hiểm hội và liên hệ ông
T để trả sổ bảo hiểm xã hội và giao quyết định chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng thời
điểm y ông T chỉ nhận sổ bảo hiểm xã hội không đồng ý nhận quyết định chấm dứt
hợp đồng lao động vì đã trễ hạn hơn 3 tháng kể từ khi ông T nghỉ việc nên ông T không
thể làm hồ sơ xin hưởng trợ cấp thất nghiệp được nữa.
Căn cứ khoản 1 Điều 46 của Luật Việc Làm năm 2013 quy định: Trong thời hạn
03 tháng, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, người lao
động nộp hhưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung m dịch vụ việc làm do quan
quản lý nhà nước về việc làm thành lập.
Căn cứ khoản 5 Điều 32 của Nghị định 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 của
Chính phủ quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động: Cung cấp bản sao
hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc hoặc xác nhận về việc đơn phương chấm
dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc cho người lao động chậm nhất trong
thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày người lao động chấm dứt hợp đồng lao động hoặc
hợp đồng làm việc. Thực hiện thủ tục xác nhận về việc đóng bảo hiểm thất nghiệp cho
người lao động để người lao động hoàn thiện hồ hưởng bảo hiểm thất nghiệp theo
quy định”.
Căn cứ Điều 16 của Nghị định 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ
quy định về hđề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp bao gồm: Đơn đề nghị hưởng trợ
cấp thất nghiệp; Bản chính hoặc bản sao chứng thực Quyết định thôi việc; Sổ bảo
hiểm xã hội.
Như vậy Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động (Quyết định thôi việc), sổ bảo
hiểm xã hội là những tài liệu bắt buộc phải có khi người lao động làm hồ sơ xin hưởng
trợ cấp thất nghiệp. Đối chiếu với các quy định của pháp luật thì việc Công ty không
giao Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động sổ bảo hiểm hội cho ông T trong
thời hạn 03 tháng kể từ ngày 15/12/2018 (ngày ông T chấm dứt hợp đồng lao động với
Công ty) khiến cho ông T không thể m được hồ hưởng trợ cấp thất nghiệp vi
phạm quy định pháp luật về nghĩa vụ của người sử dụng lao động. Việc Công ty chậm
đóng bảo hiểm xã hội cho ông T với lý do khó khăn về kinh tế không thuộc trường hợp
là do sự kiện bất khả kháng. Do đó Công ty có hành vi vi phạm dẫn đến thiệt hại đối với
ông T.
Theo Sổ bảo hiểm hội do ông T cung cấp Công văn số 217/BHXH ngày
01/02/2021 của Bảo hiểm xã hội Quận 1 thể hiện: ông T đã đóng bảo hiểm thất nghiệp
từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động
đến nay chưa việc làm đơn vị mới. Như vậy, việc Công ty không giao Quyết
định chấm dứt hợp đồng lao động sổ bảo hiểm xã hội cho ông T trong hạn 03 tháng
từ khi chấm dứt hợp đồng lao động khiến ông T không thể làm được hồ sơ xin hưởng
trợ cấp thất nghiệp trong khi ông T đảm bảo điều kiện xin ởng trợ cấp thất nghiệp
theo quy định tại Điều 49 của Luật Việc làm năm 2013. Do đó trong trường hợp này
thiệt hại xảy ra mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm của Công ty đối với
thiệt hại xảy ra đối với ông T.
8
Bị đơn xác định lỗi trong việc chậm đóng bảo hiểm hội nên cũng đồng ý
bồi thường cho ông T, tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xác định mức bồi thường phù
hợp theo quy định pháp luật.
Căn cứ công văn số 250/BHXH-CĐ ngày 01/02/2021 của Bảo hiểm hội Thành
phố H cung cấp về trường hợp ông T nếu đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp thì thời
gian hưởng trợ cấp thất nghiệp là 8 tháng với mức hưởng trợ cấp thất nghiệp 4.719.000
đồng/tháng, như vậy tạm tính số tiền hưởng trợ cấp thất nghiệp là: 4.719.000 đồng/tháng
x 8 tháng = 37.752.000 đồng.
ông T cho rằng ông bị thiệt hại và yêu cầu bị đơn phải bồi thường thiệt hại cho
ông số tiền tương đương với tiền trợ cấp thất nghiệp lẽ ra ông được nhận là 37.104.000
đồng. Xét yêu cầu này của ông T thấp hơn mức tạm tính, lợi cho bị đơn phù
hợp nên chấp nhận. Do đó, Công ty trách nhiệm bồi thường cho ông T số tiền
37.104.000 (ba mươi bảy triệu, một trăm lẻ bốn nghìn) đồng.
[4] Tại phiên tòa, nguyên đơn rút lại yêu cầu bị đơn phải đóng bảo hiểm hội,
bảo hiểm thất nghiệp cho nguyên đơn từ ngày 20/8/2018 đến ngày 31/8/2018 theo mức
lương thực lãnh là 14.500.000 đồng/tháng và rút lại yêu cầu bị đơn phải ban hành quyết
định chấm dứt hợp đồng lao động với nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:
Việc rút một phần yêu cầu của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện và không trái
pháp luật nên được chấp nhận. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 2 Điều
244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đình chỉ đối với yêu cầu của ông T về việc yêu cầu
Công ty phải đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp cho ông T từ ngày 20/8/2018
đến ngày 31/8/2018 theo mức lương thực lãnh là 14.500.000 đồng/tháng và đình chỉ đối
với yêu cầu của ông T về việc yêu cầu Công ty phải ban hành Quyết định chấm dứt hợp
đồng lao động với ông T.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn phải chịu án phí dân sự thẩm 1.113.120 (một triệu, một trăm mười
ba nghìn, một trăm hai mươi) đồng.
Nguyên đơn thuộc trường hợp được miễn nộp án phí theo quy định tại điểm a
khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án. Do đó miễn nộp án phí cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm a khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 147, khoản 2 Điều 229, khoản 2 Điều 244, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ
luật Tố tụng dân sự;
- Điều 186 của Bộ luật Lao động năm 2012;
- Điều 21, Điều 85, Điều 89 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014;
- Điều 46, Điều 49 của Luật Việc Làm năm 2013;
- Luật Thi hành án dân sự;
9
- Điều 21 của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động;
- Điều 16; Điều 32 của Nghị định 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 của Chính
phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm;
- Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi
suất, phạt vi phạm;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí
Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồ Minh T về việc
buộc bị đơn Công ty TNHH C trách nhiệm đóng bảo hiểm hội, bảo hiểm thất
nghiệp cho ông Hồ Minh T với thời hạn đóng từ ngày 01/9/2018 đến ngày 31/12/2018
theo mức lương thực lãnh 14.500.000 đồng/tháng (gồm tiền lương theo hợp đồng
7.730.000 đồng tiền hiệu suất 6.770.000 đồng) chốt sổ bảo hiểm hội cho ông
Hồ Minh T.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồ Minh T về việc buộc bị
đơn Công ty TNHH C trách nhiệm bồi thường cho ông Hồ Minh T số tiền tương
đương với tiền trcấp thất nghiệp 37.104.000 (ba mươi bảy triệu, một trăm lẻ bốn
nghìn) đồng.
Thanh toán một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày ông Hồ Minh T đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án
xong, Công ty TNHH C còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Đình chỉ đối với yêu cầu của nguyên đơn ông Hồ Minh T về việc yêu cầu bị
đơn Công ty TNHH C phải đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp cho ông Hồ
Minh T từ ngày 20/8/2018 đến ngày 31/8/2018 theo mức lương thực lãnh là 14.500.000
(mười bốn triệu, năm trăm nghìn) đồng/tháng.
4. Đình chỉ đối với yêu cầu của nguyên đơn ông Hồ Minh T về việc yêu cầu bị
đơn Công ty TNHH C phải ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với ông
Hồ Minh T.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Công ty TNHH C phải chịu án phí dân sự thẩm 1.113.120 (một triệu, một
trăm mười ba nghìn, một trăm hai mươi) đồng.
Ông Hồ Minh T được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án.
10
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án
dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND Quận 1; THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- Chi cục THADS Quận 1; (đã ký)
- Đương sự;
- Lưu: VP, HS.
Đỗ Nguyễn Mai Phương
Tải về
Bản án số 10/2022/LĐ-ST Bản án số 10/2022/LĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất