Bản án số 10/2022/HS-ST ngày 27/01/2022 của TAND TP. Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 10/2022/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 10/2022/HS-ST ngày 27/01/2022 của TAND TP. Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tội danh: 249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Phúc Yên (TAND tỉnh Vĩnh Phúc)
Số hiệu: 10/2022/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/01/2022
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHÚC YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC
Bản án số: 10/2022/HS-ST
Ngày 27 - 01 - 2022
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Lưu Thị Thúy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thúc Giang và ông Nguyễn Xuân Thịnh;
-Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Bình Phương - Thư ký Toà án nhân dân thành
phố Phúc Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên tham gia phiên
toà: Bà Nguyễn Th Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 01 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phúc
Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:
02/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số: 07/2022/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ tên: Đàm Tiến T, sinh năm 1982; (Tên gọi khác: B); địa chỉ: Tổ 8,
phường T, thành ph P, tỉnh Vĩnh Phúc; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh;
tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông
Đàm Thanh S và con bà Ngô Thị Bạch N; vợ, con: Không; tiền s: Không;
Tiền án: 01: Tại Bản án hình s sơ thẩm số: 36/HSST ngày 28/9/2011, Tòa
án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ (xác định Thành có ba tiền án chưa
được xóa án tích), áp dụng Điểm p khoản 2 Điều 194 (Tái phạm nguy hiểm) của
B luật hình s năm 1999 xử phạt 08 năm tù v tội:“ Tàng trữ trái phép chất ma
túy. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2019, chấp hành xong án phí ngày
21/12/2011, chưa được xóa án tích.
- Quá trình hoạt động:
+ Tại Bản án hình s sơ thẩm số: 90/HSST ngày 15/7/2003, Tòa án nhân
dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 18 tháng tù về tội: “Vi phạm quy định về giao thông
đường bộ”, chấp hành án xong ngày 01/02/2005, nộp án phí tháng 12/2003.
Thời hạn để a án tích bản án số 90 ngày 15/7/2003 là 02 năm, tính từ
ngày chấp hành xong hình phạt chính của bản án mới nhất (Bản án số 36 ngày
28/9/2011 nêu trên) ngày 31/8/2019 đến 31/8/2021, được xóa án tích.
+ Tại Bản án hình s sơ thẩm số: 37/2006/HSST ngày 30/5/2006 Tòa án
nhân dân thị Phúc Yên (nay thành phố Phúc Yên), xử phạt 01 năm v
2
tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà”, chấp hành xong hình phạt
ngày 12/3/2007, nộp án phí tháng 9 năm 2006;
Thời hạn để a án tích bản án số 37 ngày 30/5/2006 là 02 năm, tính từ
ngày chấp hành xong hình phạt chính của bản án mới nhất (Bản án số 36 ngày
28/9/2011 nêu trên) ngày 31/8/2019 đến 31/8/2021, được xóa án tích.
+ m 2007, Công an phường Trưng Trắc, thành ph Phúc Yên xử phạt
hành chính (phạt 200.000đ) về hành vi trộm cắp tài sản.
+ Tại Bản án hình s sơ thẩm số: 01/2008/HSST ngày 28/01/2008 Tòa án
nhân dân thị Phúc Yên ( Nay thành ph Phúc Yên); xử phạt 03 năm v
tội: “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 18/7/2010, xong án phí
tháng 12 năm 2010 (Tài sản trộm cắp giá trị tổng số 3.800.000đ);
Thời hạn đxóa án tích bản án số: 01 ngày 28/01/2008 nêu trên 02
năm, tính từ ngày chấp hành xong hình phạt chính của bản án mới nhất (bản án
số 36 ngày 28/9/2011 nêu trên) - ngày 31/8/2019 đến 31.8.2021- được xóa án
tích.
+ Tại Bản án hình s sơ thẩm số: 36/HSST ngày 28/9/2011, Tòa án nhân
dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ (xác định Thành ba tiền án chưa được
xóa án tích), áp dụng: Điểm p khoản 2 Điều 194 (Tái phạm nguy hiểm), Điểm p
khoản 1 Điều 46 của B luật hình s năm 1999 xử phạt 08 năm v tội: “Tàng
trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt ngày 31/8/2019, chấp
hành xong án phí ngày 21/12/2011, chưa được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/11/2021 đến nay, có mặt;
*Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan:
Ch Ngô Th Bạch N, sinh năm 1955, có mặt;
Địa ch: T 8, phường T, thành ph P, tỉnh Vĩnh Phúc;
*Người chứng kiến:
Anh Đặng Thanh H, sinh năm 1992, vắng mặt;
Anh Nguyễn Xuân N, sinh năm 1979, vắng mặt;
NI DUNG V ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Đàm Tiến T người nghiện ma túy t năm 2010. Do nhu cầu sử dụng
ma túy nên khoảng 12 giờ 20 phút ngày 08 tháng 11 năm 2021, T gọi điện thoại
di động cho một người bạn nghiện mới quen biết tên V hỏi mua ma túy
(heroin) với giá 100.000đ, V đồng ý bán hẹn gặp nhau tại nhà nghỉ T
phường T, thành ph P. Sau đó khoảng 12 gi 30 phút cùng ngày Đàm Tiến T
điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát (BKS) 88K3 0468 đến nơi hẹn và gọi điện
thoại cho V, thì V nói với T cầm bao thuốc gốc cây trong sân nhà nghỉ
Tđể tiền lại. Đàm Tiến T hiểu ý ma túy V để gốc cây, nên T đến lấy
3
cầm lòng bàn tay phải thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng,
còn người bán ma túy cho T không bắt giữ được.
*Vật chứng thu giữ gồm:
Thu tại lòng bàn tay phải của T 01 bao thuốc Thăng Long màu vàng bên
trong có gói giấy màu trắng chứa cục bột màu trắng, niêm phong trong phong bì
ký hiệu A1. T khai nhận là ma túy mua để sử dụng.
Thu trong túi áo ngực bên trái của T 01 tờ tiền polime mệnh giá
100.000đồng ( Một trăm nghìn đồng), là tiền T sử dụng để trả tiền mua ma túy
nhưng chưa kịp trả.
Tạm giữ của T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobile màu đen, đã cũ,
n hình bị nứt vỡ và 01 chiếc xe mô tô BKS 88K3 – 0468.
Tại bản kết luận giám định số: 2947/KLGĐ ngày 12/11/2021 của phòng Kỹ
thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định và kết luận:
“Chất cục bột màu trắng của mẫu hiệu A1 gửi giám định là ma túy,
khối lượng 0,1809g loại Heroin.” Hoàn lại đối tượng giám định: A1= 0,1302g
cùng toàn bộ bao gói.
Đối với chiếc xe BKS: 88K3 –0468, tài sản hợp pháp của Ngô
Thị Bạch N mđẻ T, N không biết T sử dụng xe để đi mua ma túy, không
liên quan đến vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho bà N.
Đối với đối tượng tên V; T khai người bán ma túy cho T, quan điều
tra đã xác minh nhưng không xác định được người tên, đặc điểm như trên,
tiếp tục làm rõ xử lý sau.
Tại quan điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo Đàm Tiến T đã thành
khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, như nội dung Cáo trạng của Viện
kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên đã truy tố.
Tại Cáo trạng số: 09/CT - VKSPY ngày 13 tháng 01 năm 2022, Viện
kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên truy tố bị cáo T về tội: “Tàng trữ trái
phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình
sự.
Tại phiên toà Kiểm sát viên luận tội đối với bcáo: Đề nghị Hội đồng xét
xử tuyên bố bị cáo T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Sau khi đánh
giá tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm o khoản 2 Điều
249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo t 06 năm đến
06 năm 06 tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ,
tạm giam 08 tháng 11 năm 2022. Không áp dụng hình phạt bsung đối với bị
cáo và đề nghị xử lý vật chứng như Cáo trạng đã đề cập.
Sau khi thẩm tra các chứng cứ trong hồ sơ, nghe lời khai của bị cáo, ý
kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
4
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành
phố Phúc Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên,
Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền,
trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại
phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành
vi, quyết định của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó,
các hành vi, quyết định tố tụng của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Tại quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo
Đàm Tiến T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng mà
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị
cáo phù hợp với lời khai của người quyền lợi, nghĩa v liên quan; người
chứng kiến, Biên bản phạm tội quả tang, Kết luận giám định và phù hợp với các
tài liệu, chứng cứ đã thu giữ hợp pháp có trong hồ vụ án. vậy, có đủ sở
để kết luận: Khoảng 12 giờ 50 phút ngày 08 tháng 11 năm 2021, tại phường T,
thành ph P; với mục đích để s dụng Đàm Tiến T đã hành vi mua để tàng
trữ, sử dụng trái phép 0,1809g ma túy Heroin thì bị Công an bắt quả tang, thu
giữ vật chứng theo quy định.
Hành vi nêu trên của Đàm Tiến T đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma
tuý” quy định tại Điểm o khoản 2 Điều 249 của B luật hình s;
C th điều luật quy định như sau:
“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt từ 05
năm đến 10 năm:
o) Tái phạm nguy hiểm”.
vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
truy tố bị cáo theo Cáo trạng số: 09/CT VKSPY ngày 13 tháng 01 năm 2022 là
hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo T
là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước
về chất ma túy. vậy, cần phải xử nghiêm trước pháp luật mới tác dụng
giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Xét nhân thân, tính chất vụ án các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo học hết lớp 9 thì nghỉ học,
nghiện ma túy từ năm 2010. B cáo đã 04 lần bị Tòa án xét xử, trong đó tại Bản
án hình s sơ thẩm số: 36/HSST ngày 28/9/2011, b cáo b xét x 08 năm với
tình tiết định khung nh phạt tái phạm nguy hiểm v tội: “Tàng trữ trái phép
chất ma túy”, bản án này b cáo chưa đưc xóa án tích, nay b cáo lại phạm tội
5
do c ý. Trong quá trình điu tra, truy t xét x b cáo luôn thành khn khai báo,
ăn năn hi ci v hành vi phm ca mình, nên được hưởng tình tiết gim nh
trách nhim hình s quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 B lut hình s. n
cn phi áp dng hình pht giam như đề xut ca Vin kim sát mi tác
dng răn đe, giáo dc b cáo T người có ích cho xã hi.
[5] Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra làm tại phiên tòa bị cáo
tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích để sử dụng; hiện bị cáo không có tài
sản, không nghề nghiệp thu nhập ổn định. Vậy không cần thiết phải áp
dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo là phù hợp.
[6] Đối với đối tượng T khai tên là V đã người bán ma túy cho T, quan
điều tra đã xác minh nhưng không xác định được người có tên, đặc điểm như T
mô tả, tiếp tục làm rõ xử lý sau.
[7] Về vật chứng vụ án:
Đối với chiếc xe BKS: 88K3 –0468, tài sản hợp pháp của Ngô
Thị Bạch N mđẻ T. Bà N không biết T s dụng xe để đi mua ma túy,
quan điều tra đã trả lại xe cho N là phù hợp, nay N không u
cầu gì.
Cần tịch thu, tiêu hủy mẫu A1 là 0,1302 gam cùng toàn b bao gói, 01 v
bao thuốc Thăng Long màu vàng. Cần tịch thu, bán sung công qu Nhà nước
01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Mobell màu đen, màn nh b nứt v tịch thu
sung công qu Nhà nước s tiền 100.000đồng liên quan đến hành vi phạm
tội.
[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đàm Tiến T ( tên khác: B) phạm tội: “Tàng trữ trái phép
chất ma tuý”.
Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật
hình sự;
Xử phạt bcáo Đàm Tiến T 06 (Sáu) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp
hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 08 tháng 11 năm
2021.
*Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự Điều 106 của Bộ luật tố
tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy mẫu A1 0,1302 gam cùng toàn b bao gói sau giám
định và 01 v bao thuốcThăng Long màu vàng.
Tịch thu, bán sung công qu Nhà nước của b cáo 01 chiếc điện thoại nhãn
hiệu Mobell màu đen, màn hình b nứt v.
6
Tịch thu sung công qu Nhà nước s tiền 100.000đồng (Một trăm nghìn
đồng).
(Vật chứng đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 19
tháng 01 năm 2022, tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên).
Căn cứ Điều 136 Bộ luật t tụng hình sự; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội; buộc bị cáo Đàm Tiến T phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn
đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bcáo, người quyền lợi, nghĩa v liên quan quyền kháng cáo Bản án
trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhn:
T/M HỘI ĐỒNGT X THM
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc;
Thm phán - Ch ta phiên tòa
- Vin kim sát nhân dân thành ph Phúc Yên;
- Cơ quan CSĐT - Công an thành ph Phúc Yên;
- Thi hành án dân s thành ph Phúc Yên;
- Cơ quan THA hình s có thm quyn;
- S pháp tỉnh Vĩnh Phúc
- Tri tm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
- Người tham gia t tng;
LƯU TH THÚY
Tải về
Bản án số 10/2022/HS-ST Bản án số 10/2022/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất