Bản án số 09/2024/HS-ST ngày 31/01/2024 của TAND huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 09/2024/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 09/2024/HS-ST ngày 31/01/2024 của TAND huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Văn Lãng (TAND tỉnh Lạng Sơn)
Số hiệu: 09/2024/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 31/01/2024
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Do muốn xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc, ngày 09/6/2023 lên mạng xã hội, thấy có tài khoản “V” đăng nội dung đưa người xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc, nhắn vào phần bình luận để lại số điện thoại. Sau đó, được người sử dụng số điện thoại 0342.22***8, gửi yêu cầu kết bạn Zalo. Qua trao đổi tiền chi phí 5.000 nhân dân tệ, ngày 13/6/2023 theo thông báo của người sử dụng số điện thoại 0348.19***0 cho biết, chị Nguyễn Thị T đi xe khách đến nhà nghỉ T, tại thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, sau đó có người đi xe máy đón, chị Nguyễn Thị T mệt không đi tiếp được, nên người này đưa về nhà nghỉ ngơi. Đến ngày 14/6/2023 chị Nguyễn Thị T được lực lượng Biên phòng đến thông báo người đưa đi xuất cảnh trái phép đã bị bắt và đưa chị Nguyễn Thị T về trụ sở làm việc.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN LÃNG
TỈNH LẠNG SƠN
Bản án số: 09/2024/HS-ST
Ngày 31-01-2024
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Tnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Triệu Thị Máy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Triệu Văn Viên;
Bà Lương Thị Phượng.
- Thư phiên tòa: Bà Ba ThThanh Huyền - Thư Tòa án nhân dân
huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn
tham gia phiên tòa: Ông Phù Trung Tướng - Kim sát viên.
Ngày 31 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở a án nhân dân huyện Văn Lãng,
tỉnh Lạng n xét xử thẩm công khai vụ án hình sự thụ số:
121/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số: 04/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2024, Quyết định hoãn
phiên tòa số 01/2024/HSST-QĐ ngày 23 tháng 01 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Tuấn T, tên họi khác: M, sinh ngày 13 tháng 02 m 1989, tại huyện
V, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng hộ khẩu thường t chỗ : Thôn N, xã T,
huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 6/12; dân
tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Kng; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lô
Văn C Ngô ThN; vợ: Triệu Hương T, sinh năm 1991; có 01 con, sinh
năm 2012; tiền án, tiền s: Không; nhân thân: Chưa bxử trách nhiệm hình
sự, chưa bị xphạt vi phạm hành chính hoặc xử kluật. B cáo bị bắt tạm
giữ ny 14/6/2023, tm giam ngày 17/6/2023, hiện tạm giam tại Trại tạm giam
Công an tỉnh Lạng Sơn đến nay. Có mặt.
2. Đường Văn K, sinh ngày 05 tháng 10 năm 1993, tại huyện V, tỉnh Lạng
Sơn; nơi đăng hộ khẩu thường t chỗ : Thôn K, xã H, huyện V, tỉnh
Lạng Sơn; nghnghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Tày; giới
tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đưng Văn H (đã
chết) Vũ ThT; vợ: Triu My L, sinh năm 1998; 02 con, con lớn
sinh năm 2019, con nh sinh năm 2022; tiền án, tin s: Không; nhân thân:
2
Chưa bị xử lý trách nhiệm nh sự, chưa bxử phạt vi phạm hành chính hoặc
xử kỷ luật. Bcáo bị bắt tạm giữ ny 14/6/2023, tm giam ngày 17/6/2023,
hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lạng Sơn đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị o Tuấn Thanh: Ông Trần Xuân Trà - Lut
sư, thực hiện Trgiúp pháp của Trung tâm Trgiúp pháp nhà nước tỉnh
Lạngn. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. ChTriệu Hương T, sinh năm 1991; trú tai: Thôn N, xã T, huyện V,
tỉnh Lạng Sơn. Có mặt;
2. ChTriệu My L, sinh năm 1998; trú tai: Thôn K, H, huyện V, tỉnh
Lạng Sơn. Có mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh Lương Văn H, sinh năm 1985. Vng mặt.;
2. Ông Phan Mạnh H, sinh năm 1972. Vắng mặt.;
3. Anh Triệu Viết D, sinh năm 1985. Vắng mặt.;
4. Chị Trần Thị T, sinh năm 1996. Vắng mặt.;
5. Anh Nguyễn Đăng Q, sinh năm 1985. Vắng mặt;
6. Chị Nguyễn Th T, sinh năm 1978. Vắng mặt.
- Người chứng kiến: Bà Lăng ThH, sinh năm 1963. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 14/6/2023, tổ công tác Đồn Biên phòng Na
Hình phối hợp với Công an T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn đang thực hiện nhiệm
vụ tuần tra, kiểm soát, tại thôn N, T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, phát hiện 02
người nam giới đang điều khiển 02 xe mô , trong đó 01 xe ch01 người đàn
ông, 01 xe ch01 người phụ n, đi tớng thtrấn N vào khu vực biên giới,
T, huyện V, tỉnh Lạng n, biểu hiện nghi vấn, tổ ng tác yêu cầu 02
người dừng xe kiểm tra, khi phát hiện tổ công tác người điều xe mô tô chở người
phnđi trước đã chấp hành, người điều khiển xe mô tô đi sau cho người đàn
ông xuống xe và điều khiển xe bchạy quay lại hướng thtrấn N, huyện
V, tỉnh Lạng Sơn. Tổ công tác đã tiến hành truy đuổi và bắt giđược tại thôn K,
H, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Qua khai thác đối tượng chở người phnkhai
htên Tuấn T và khai nhận: Ngày 13/6/2023 Tuấn T được người ph
nữ tên L khoảng 50 tuổi lấy chồng và sinh sống bên Trung Quốc (không biết họ,
địa chỉ cụ thể) sdụng sđiện thoi 0374.68***4, gọi điện thuê Lô Tuấn T đón
và đưa 03 người Việt Nam xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc, với tiền công
500.000 đồng/01 người tthị trấn N vào biên giới xã T, huyện V, tỉnh Lạng
3
Sơn, để xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc, Lô Tuấn T đồng ý. Khoảng 17 gi
30 phút ngày 14/6/2023 Lô Tuấn T đón 01 người phụ nữ Việt Nam tên T (không
rõ h, địa chỉ cụ thể) từ thị trấn N vào biên gii xã T để xuất cảnh trái phép sang
Trung Quốc, nhưng người phnmệt không xuất cảnh được và đang nhà Lô
Tuấn T, chđể Lô Tuấn T đưa đi xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc. Ngày
14/6/2023 Tuấn T tiếp tục được người phụ nữ tên L, thuê ra thtrấn N, đón
02 người Việt Nam tthị trấn N vào biên giới xã T để xuất cảnh trái phép sang
Trung Quốc, Tuấn T nhận lời và thuê Đường Văn K đón 01 người tthtrấn
N đến nhà Tuấn T, để Tuấn T đưa người này xuất cảnh trái phép sang
Trung Quốc với tiền công 200.000 đồng, Đường Văn K đồng ý. Đường Văn
K khai nhận được Lô Tuấn T thuê ch01 người đàn ông Việt Nam (không biết
tên, địa chỉ), từ thị trấn N đến nhà Tuấn T tại thôn N, T, huyện V, tỉnh
Lạng Sơn vi tiền công 200.000 đồng, để Lô Tuấn T đưa người đàn ông xuất
cảnh trái phép sang Trung Quc. Khi Lô Tuấn T và Đường Văn K chkhách
đến thôn N, T, thì bBđội Biên phòng kiểm tra phát hiện bắt gi. ChTrần
Th T anh Nguyễn Đăng Q đều khai nhận do nhu cầu xuất cảnh sang
Trung Quốc, nên đã thông qua c đối tượng trên mạng xã hội, đđưa xut cảnh
sang Trung Quốc. Ngày 14/6/2023 đang trên đường đi xuất cảnh thì bphát hiện
bắt giữ. Tổ công tác đã đưa về trụ sỦy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Lạng
Sơn để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tạm giữ của Tuấn T: 01 xe mô biển kiểm soát 12V1-10**4, màu
xanh đen (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động, nhãn hiệu VIVO, màu đen,
bên trong gắn 01 sim (đã qua sử dụng); 01 đin thoại di động nhãn hiệu Masste,
màu đen, bên trong gắn 01 sim (đã qua sử dụng).
Tạm giữ của Đường Văn K: 01 xe biển kiểm soát 12D1-21**6,
màu trắng đen (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động, nhãn hiệu VIVO, màu
xanh đen, bên trong gắn 02 sim (đã qua sử dụng).
Quá trình điều tra đã xác định đươc như sau: Năm 2018 Tun T sang
Trung Quốc làm thuê quen biết một người phViệt Nam tên L, Tuấn T
cho người phntên L biết, nhà thôn N, T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, giáp
biên giới và cho nhau số điện thoại, thỉnh thoảng L gọi điện cho Lô Tuấn T bằng
nhiều sđiện thoại khác nhau, Lô Tuấn T không lưu và không nhớ số điện thoại.
Đầu tháng 6 năm 2023, Lô Tuấn T được L sdụng sđiện thoại 0374.68***4,
gọi đặt vấn đthuê Tuấn T đón rồi đưa người xuất cảnh trái phép tViệt
Nam sang Trung Quốc qua mốc 1***, thuộc thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng
Sơn, tiền công trcho Lô Tuấn T 500.000 đồng/01 khách, Tuấn T đồng ý.
Sau đó, tngày 11/6/2023 đến ngày 14/6/2023, Lô Tuấn T đưa người xuất cảnh
trái phép từ Việt Nam sang Trung Quốc, cụ thể các lần như sau:
Lần 1: Khoảng 23 gingày 12/6/2023, Tuấn T đưa 02 người phn
xuất cảnh trái phép từ Việt Nam sang Trung Quốc, qua mốc 1***, thuộc thôn N,
xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, được trả tiền công 1.000.000 đồng.
Lần 2: Khoảng 15 ngày 13/6/2023, Lô Tuấn T được L nhắn cho biết có 02
khách cần đón tại thị trấn N, đxuất cảnh trái phép sang Trung Quốc. Sau đó,
4
Lô Tuấn T gọi điện rĐường Văn K cùng tham gia, thì strtiền công 200.000
đồng, Đường Văn K đồng ý. Tuấn T đến nhà nghT, thtrấn N liên lc đón
chNguyễn ThT, trên đường đi Nguyễn Thị T cho Tuấn T biết, là do đi
đường mệt, nên xin nghỉ tại nhà Lô Tuấn T một hôm, Lô Tun T đồng ý. Đường
Văn K đón một người đàn ông, đến khoảng 17 gi30 phút, Đường Văn K đưa
người đàn ông đến khu vực đồi gần nhà Tuấn T chđTuấn T đưa đi
xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc, sau đó Đường Văn K đi về nhà, còn Lô
Tuấn T đưa Nguyễn ThT vnhà sắp xếp chnghỉ. Đến khoảng 03 gi30
phút ngày 14/6/2023, Tuấn T đưa người đàn ông xuất cảnh trái phép sang
Trung Quốc, qua mốc 1*** thuộc thôn N, T, huyện V, tnh Lạng Sơn, có
ngưi đàn ông đón người xuất cảnh trái phép tại hàng o phía biên giới Trung
Quốc, nhưng chưa được trả tiền công. Khoảng 08 giờ cùng ngày Tun T đã
trtiền công cho Đường Văn K 200.000 đồng.
Lần 3: Khoảng 11 gingày 14/6/2023, L tiếp tục thông báo 02 khách
cần đón tại thtrấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Khoảng 18 giờ 15 phút ng
ngày, Tuấn T và Đường Văn K đón 02 khách tại nhà nghT, Tuấn T ch
Trần Thị T, Đường Văn K chNguyễn Đăng Q cùng vào khu vc biên giới, khi
đến địa phận thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, thì bbắt quả tang.
Tại cơ quan điều tra chị Nguyễn Thị T khai nhận: Do muốn xuất cảnh trái
phép sang Trung Quốc, ngày 09/6/2023 lên mạng xã hội, thấy tài khoản V
đăng nội dung đưa người xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc, nhắn vào phần
bình luận đlại sđiện thoại. Sau đó, được người sử dụng s điện thoại
0342.22***8, gửi yêu cầu kết bạn Zalo. Qua trao đổi tiền chi phí 5.000 nhân dân
t, ngày 13/6/2023 theo thông báo của người sử dụng số điện thoại 0348.19***0
cho biết, chNguyễn Thị T đi xe khách đến nhà nghT, tại thtrấn N, huyện V,
tỉnh Lạng Sơn, sau đó có người đi xe máy đón, chNguyễn ThT mệt không đi
tiếp được, nên nời này đưa vnhà nghỉ ngơi. Đến ngày 14/6/2023 chị Nguyễn
ThT được lực lượng Biên phòng đến thông báo người đưa đi xuất cảnh trái
phép đã bị bắt và đưa chị Nguyễn Thị T về trụ sở làm việc.
Tại bản Cáo trạng s 05/CT-VKSLS-P2 ngày 26/12/2023 của Viện Kiểm
sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Tuấn T vtội Tổ chức cho
người khác xuất cảnh trái phép theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 348 của
Bộ luật Hình sự. B cáo Đường Văn K vtội Tổ chức cho người khác xuất cảnh
trái phép theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 348 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Các bị cáo đã khai nhận nh vi phạm tội của bản thân như
nội dung bản Cáo trạng đã nêu; các bị cáo thừa nhận hành vi tchức cho người
khác xuất cảnh trái phép là vi phạm pháp luật.
Chị Triệu Hương T trình bày: Chiếc xe biển kiểm soát 12V1-10***
tạm giữ của Tun T, tài sản của ch, do chtự bỏ tiền mua tại cửa hàng xe
máy H với giá 14.000.000 đồng, mục đích mua xe đlàm phương tiện đi lại của
cgia đình, chị Triệu Hương T không biết chồng là Tuấn T mang xe đi đón
người xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc, gia đình sinh sống tại vùng có điều
kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, hiện xe đang tạm giữ không có phương
5
tiện đưa đón con đi học, chị yêu cầu xin được trả lại chiếc xe để làm
phương tiện đưa, đón con học dễ dàng.
Chị Triệu My L trình bày: Chiếc xe biển kiểm soát 12D1-21***
tạm gicủa Đường Văn K, tài sản của ch, stiền mua xe hoàn toàn là nguồn
tiền của chị đi làm ng ty tỉnh Bắc Ninh tích góp để mua tại cửa hàng mua
bán xe máy thành phLạng n với giá 13.000.000 đồng, chị Triệu My L
không biết chồng là Đường Văn K mang xe đi đón người xuất cảnh trái phép
sang Trung Quc, chị yêu cu xin được trả lại chiếc xe để làm phương
tiện đưa đón con đi học.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn giữ
nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Lô Tuấn T, Đường Văn K phm tội T chức cho
người khác xuất cảnh trái phép; áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 348, Điều 38,
Điều 50, điểm s, r khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình s đối
với bcáo Tuấn T; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 348, Điều 38, Điều 50,
điểm s, r khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bluật Hình sự đối với bcáo
Đường Văn K. Đnghxphạt bo Tun T mức án t 06 năm 06 tng đến
07 năm 06 tháng ; xphạt bo Đưng n K mc án t 05 năm đến 06 năm
. Kng áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử vật chứng: n cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình
sự điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bluật Tố tụng hình sự. Đề ngh tịch thu
hóa giá nộp ngân sách N nước 02 điện thoại di động; 01 xe tô thu gicủa
bcáo Tuấn T; 01 điện thoại di động; 01 xe mô tô thu gicủa bị cáo Đường
Văn K. n cứ Điều 46 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị truy thu số tiền 800.000
đồng của bị cáo Lô Tuấn T; truy thu số tiền 200.000 đồng của bcáo Đường Văn
K, để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Người bào chữa cho bị cáo Tuấn T: Nhất trí với quan điểm của Viện
kiểm sát về tội danh. Vhình phạt bcáo Tuấn T chưa tiền án, tiền sự,
thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng
điều kiện kinh tế hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật phần hạn
chế, bcáo tthú các lần phạm trước đó, các tình tiết giảm nhẹ trách nhim
hình s. Căn cứ vào điểm b, c khoản 2 Điều 348; điểm s, r khoản 1, 2 Điều 51
của BLuật Hình s, đề nghị xphạt bị cáo mức án thấp nhất của khung hình
phạt 05 năm tù, không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo. Đề nghtrả lại ½
giá tr tài sản chiếc xe mô cho vbị cáo Tuấn T, tài sản chung trong
thời k hôn nhân.
Các b o thừa nhận hành vi phạm tội, không ý kiến tranh luận, ch
Triệu Hương T, chTriệu My L có ý tranh luận xin được trả lại. Đại diện Vin
kiểm sát tranh luận với người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến ván, các bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, đại diện Viện kiểm sát đã căn
cvào tính chất mức độ hành vi phạm tội đối với các bcáo, đề nghị mức án là
phù hợp với quy định của pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên mức án
đã đnghị, đối với xe các bcáo đã s dụng vào việc phạm tội, chTriệu
6
Hương T, chTriệu My L xin đưc trả lại, nhưng không giấy tgì đchứng
minh là tài sản riêng, đại diện Viện kiểm sát đề nghị tịch thu, do Hội đồng xét
xxem xét quyết định. Lời nói sau cùng, các bị cáo rất hối hận xin được
hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ ván đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng ca Điều tra viên, Kiểm sát viên trong
quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ
tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các
bị cáo những người tham gia tố tụng khác không ý kiến hoặc khiếu nại v
hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định
tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Người bào chữa
cho bị cáo đã thực hiện đúng các quyềnnghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi cấu thành tội phạm của các bcáo: Năm 2018 Tun T
sang Trung Quốc làm thuê quen biết một người phụ Việt Nam tên L, Lô Tuấn
T cho người tên L biết nhà thôn N, T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, giáp biên
giới cho nhau sđiện thoại, thỉnh thoảng L gọi điện cho Lô Tuấn T bằng
nhiều sđiện thoại khác nhau. Đầu tháng 6 năm 2023, Lô Tuấn T được L s
dụng sđin thoại 0374.686.***, gọi đặt vấn đthuê Tuấn T đón rồi đưa
người xuất cnh trái phép tViệt Nam sang Trung Quốc qua mốc 10**, thuộc
thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn tiền công 500.000 đồng/01 khách, Lô
Tuấn T đồng ý. Tngày 11/6/2023 đến ngày 14/6/2023, Lô Tuấn T đã nhiều lần
đưa người xuất cảnh trái phép t Việt Nam sang Trung Quốc, cụ thể: Lần 1:
Khoảng 23 giờ ngày 12/6/2023, Lô Tuấn T đưa 02 phụ nữ xuất cảnh trái phép t
Việt Nam sang Trung Quốc, qua mốc 10**, thuộc thôn N, T, huyện V, tnh
Lạng Sơn, được trả tiền công 1.000.000 đồng. Lần 2: Khoảng 15 gi ngày
13/6/2023 Tuấn T được L nhắn cho biết có 02 khách cần xuất cảnh trái phép
sang Trung Quốc, Lô Tuấn T gọi điện rĐường Văn K cùng tham gia, thì str
tiền công cho Đường Văn K 200.000 đồng, Đường Văn K đồng ý. Sau đó, Lô
Tuấn T đến nhà nghỉ T, thtrấn N liên lc đón chị Nguyễn Thị T, do chNguyễn
ThT đi đưng mệt, xin nghtại nhà Tuấn T một hôm. Đường n K đón
một người đàn ông đưa đến khu vực đồi gần nhà Tuấn T chđể Tuấn T
đưa đi xuất cảnh, sau đó Đường Văn K đi về. Đến khoảng 03 giờ 30 phút ngày
14/6/2023, Tuấn T đưa người đàn ông xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc,
qua mốc 10** thuộc thôn N, T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, có một người đàn
ông đón tại phía hàng o Trung Quốc, nhưng chưa đưc trả tiền công, Lô Tuấn
T đã trcho Đường Văn K 200.000 đồng tiền công. Lần 3: Khoảng 11 ngày
14/6/2023 L tiếp tục thông báo có 02 khách cần đón tại thị trấn N, huyện V, tỉnh
Lạng Sơn. Khoảng 18 gi15 phút cùng ngày, Tuấn T và Đường Văn K đón
02 khách, Tuấn T chTrần Thị T, Đường Văn K chNguyễn Đăng Q cùng
vào khu vực biên giới, khi đến địa phận thôn N, T, huyện V, tnh Lạng n,
thì bbắt quả tang. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với
7
nhau và phù hợp với lời khai của các bị cáo đã khai tại cơ quan điều tra, p hợp
với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, người
chứng kiến...; phù hợp với vật chứng đã thu giữ được các tài liệu chứng cứ
khác trong hvụ án. Bcáo Tuấn T đã hành vi sắp xếp, bố trí, đón
đưa 06 người từ Việt Nam ra nước ngoài, không được scho phép, chấp
thuận của quan có thẩm quyền của Việt Nam, với mục đích vụ lợi. Các bcáo
Tuấn T và Đường Văn K đãhành vi sắp xếp, bố trí, đón đưa người 02 lần
trlên, từ Việt Nam ra nước ngoài không được sự cho phép, chấp thuận của
quan thẩm quyền của Việt Nam, với mục đích vlợi. vậy, đủ s
để kết luận bị cáo Tuấn T phạm tội Tchức cho người khác xuất cảnh trái
phép theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 348 của Bộ luật Hình sự; bị cáo
Đường Văn K phạm tội Tchức cho người khác xuất cảnh trái phép theo quy
định tại điểm b khoản 2 Điều 348 của Bộ luật Hình sự.
[3] Xét nh chất, mc đ của hành vi phm tội thy rng: Hành vi mà
các bị cáo thc hiện là nghiêm trng, gây nguy him cho xã hội, m phạm
đến trật t qun lý xut, nhp cnh ca Nhà nước y mt ổn định hội
tại địa phương nhất là khu vực biên giới. Các bcáo là người có đầy đủ năng lực
trách nhiệm hình sự, nhận thức được nh vi tổ chức cho người khác xuất cảnh
trái phép là vi phạm pháp luật, nhưng vì hám lợi nên vẫn cố ý thực hiện.
[4] Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn do các bị cáo Tuấn T,
Đường Văn K cùng cố ý thực hiện một tội phạm. Bị cáo Tuấn T vai trò
cnh trong vụ án, là người trực tiếp liên lạc, trao đổi, thỏa thuận, sắp xếp gọi b
cáo Đường Văn K cùng tham gia đón đưa người xuất cảnh trái phép sang
Trung Quốc, bị cáo Đường Văn K người giúp sức cho bcáo Lô Tuấn T trong
việc tổ chức cho nời khác xuất cảnh trái phép; khi được b cáo Lô Tuấn T trao
đổi, thỏa thuận, đặt vấn đề đưa người đi xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc s
trả công 200.000 đồng, bị cáo Đường Văn K đã đồng ý. Bị cáo Tuấn T đã
hành vi dùng xe chở 01 người chTrần Thị T b cáo Đường Văn K
dùng xe mô chanh Nguyễn Đăng Q đến thôn N, T để chTrần Thị T và
anh Nguyễn Đăng Q xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc, việc xuất cảnh không
thực hiện được là do lực lượng chức năng phát hiện ngăn chặn, nằm ngoài
ý muốn của các bị cáo.
[5] Về nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình s: Trong quá trình điều tra và
tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình
sự; khi bbắt các bcáo tự thú khai ra các lần phạm tội trước đó, là tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình
sự; bị cáo Lô Tun T nời dân tộc thiểu số sinh sng vùng có điều kiện kinh
tế hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật phần hạn chế, n được Hội
đồng xét x xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình s quy định tại khoản 2 Điều 51
của Bộ luật Hình sự
8
[6] Về tình tiết ng nặng trách nhiệm hình sự: Ngoài tình tiết tăng nặng
định khung, các bcáo không tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52
của Bộ luật Hình sự.
[7] Về nhân thân: Các bcáo Lô Tuấn T và Đường Văn K đều chưa tiền
án, tiền sự; chưa bị xử trách nhiệm hình sự hoặc xử lý vi phạm hành chính,
chưa bị xử lý kỷ luật, là người nhân thân tốt.
[8] Trên sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội,
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét
xử xét thấy cần thiết phải xử cách ly các bcáo ra khỏi đời sống hội một thời
gian nhất định để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.
[9] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào kết quả c minh cho thấy các bị cáo
nghề nghiệp làm ruộng, không i sản riêng gì giá trị, gia đình bị cáo Lô
Tuấn T thuc hcận nghèo. Do đó, Hội đồng t xử không áp dụng nh phạt bổ
sung hình pht tiền đối với c bị o.
[10] Đối với người ph nữ tên L đặt vấn đề th Lô Tun T đưa 06 người xuất
cảnh trái pp sang Trung Quốc, nhưng bịo Lô Tuấn T không biết rõ họ, địa chỉ,
số điện thoại. Do không thông tin cụ thể, n Cơ quan An ninh điều tra không
tiến nh c minh làm rõ được.
[11] Đối với i khoản mng xã hi Tiktok tên V đối ợng sử dụng tài
khoản Facebook, Zalo tên Miee và các đối ợng s dng s điện thoại
0348.192.***, 0792.275.*** đã liên lạc ớng dẫn Nguyn Thị T, Trần ThT và
Nguyễn Đăng Q đến Lạng Sơn để xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc, nng ch
Nguyễn Thị T, ch Trần Thị T và anh Nguyn Đăng Q đều không biết thông tin c
thcác đối tượng trên, nên quan An ninh điều tra không tiến nh xác minh m
đươc.
[12] Đối với người đàn ông đón người xuất cảnh trái phép ti hàng rào phía
biên giới Trung Quốc o c ngày 12/6/2023 và ngày 13/6/2023, theo bcáo Lô
Tuấn T khai không biết họ n, địa chcủa người đàn ông trên, nên quan An
ninh điều tra không tiến hành xác minh làm được.
[13] Đối với anh Lê Văn H lái xe Taxi được một nời đàn ông thuê đón
chị Trần Thị T t sân bay Nội Bài, thành phố Hà Nội đến thị trấn N, huyn V, tỉnh
Lạngn, nng anh Lê Văn H không biết mục đích ch Trần Thị T đến Lạng Sơn
để xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc. Đối với người đàn ông thuê anh Lê Văn H
đón chị Trn ThT đưa lên Lng Sơn, nhưng anh Lê Văn H không biết họ tên, địa
chcủa người đàn ông này, n quan An ninh điều tra không tiến nh c
minh làm rõ được.
[14] Về xử vật chứng: Đối với 03 chiếc điện thoại di động các b cáo đã
ng o việc phạm ti, tch thu a giá nộp vào ngân sách Nhà ớc. Đối với 01
xe biển kiểm soát 12V1-10***, tạm giữ của bị cáo Tuấn T và 01 xe
biển kiểm soát 12D1-21***, tạm giữ của bị o Đường Văn K. Tại phiên
tòa ch Triu Hương T vcủa bcáo Tuấn T, chTriệu My L vcủa b
cáo Đường Văn K, xin trlại xe, nhưng chTriệu Hương T, chTriệu My L
9
không xuất trình được tài liu, chng cgì đchứng minh là tài sản do mình t
mua, các bcáo Lô Tuấn T, Đường Văn K đã sdụng xe vào việc phạm tội, nên
tịch hóa giá nộp vào ngân sách Nhà nước.
[15] Đối với số tiền 1.000.000 đồng, đưc người phntên L đưa cho bị
cáo Tuấn T và bcáo Tuấn T đã trtiền công cho bcáo Đường Văn K
200.000 đồng, là tiền do các bị cáo thu lợi bất chính. Căn cứ Điều 46 của Bộ luật
Hình s, truy thu của bị cáoTun T số tiền 800.000 đồng, bị cáo Đường Văn
K 200.000 đồng, đnộp vào ngân sách Nhà nước.
[16] t đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng,
tỉnh Lạng Sơn về tội danh, mức hình phạt xvật chứng phợp với quy
định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[17] Ý kiến của người người chữa cho bcáo Tuấn T tại phiên tòa, đ
nghị mức án, xử lý vật chứng, Hội đồng xét xử sxem xét và quyết định.
[18] Ván phí: Các bị cáo bị kết án, nên phải chịu án phí nh sự theo quy
định tại khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Ttụng hình sự; điểm
a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
n c o điểm b, c khoản 2 Điều 348, Điều 50, điểm s, r khoản 1, 2 Điều
51, Điều 38 Điều 17, Điu 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị o Lô Tuấn T.
n c vào đim b khoản 2 Điều 348, Điều 50, điểm s, r khoản 1 Điều 51,
Điều 38 Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đường Văn K.
Căn cứ vào Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật nh sự; điểm a,
b khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136, Điều 331 Điều
333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14,
ngày 30/12/2016 của y ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lô Tun T, Đưng Văn K phạm tội: T
chức cho ni khác xut cảnh trái pp.
2. V hình phạt chính:
2.1. Xử phạt bịo Lô Tun T 06 (sáu) năm 06 (sáu) tng, thời hạn tù tính
từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 14/6/2023.
2.2. Xử phạt bị cáo Đường n K 05 (năm) năm , thời hạn nh từ ngày
bắt tạm giữ, tạm giam ngày 14/6/2023.
3. Vhình phạt bsung: Không áp dụng.
4. Về xử lý vật chứng:
10
*Tịch thu hóa giá, nộp ngân sách Nhà nước các tài sản sau:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu đen, cũ đã qua sử dụng,
số IMEI1 bốn scuối 8**1, số IMEI2 bốn số cuối 8**9, n trong
lắp 01 (một) sim Viettel của bị cáo Lô Tuấn T.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel u đen, cũ đã qua sử
dụng, số IMEI1 bốn số cuối 6**3, số IMEI2 bốn số cuối 6**1, bên
trong lắp 01 (mt) sim Viettel của bị cáo Lô Tuấn T.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu đen, cũ đã qua sử dụng,
số IMEI1 bốn scuối 9**9, sIMEI2 bốn số cuối 9**1, bên trong
lắp 02 (hai) sim Viettel của bị cáo Đường Văn K.
- 01 (một) xe mô nhãn hiệu Wave RSX, xe cũ đã qua sử dụng (xe không
có gương chiếu hậu), biển kiểm soát 12V1-10***, màu xanh đen, số khung:
RLHJA3803GY0***3, số máy: JA38E013***4 của bị cáo Lô Tuấn T.
- 01 (mt) xe nhãn hiệu Wava o, xe cũ đã qua sử dụng (xe không có
gương chiếu hậu), biển kiểm soát 12D1-21***, màu trắng đen, số khung:
RLHJA390HY223***5, số máy: JA39E022***0 của bị cáo Đường Văn K.
(Các vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện
Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/12/2023).
Truy thu của bị o Tuấn T 800.000 (tám trăm nghìn) đồng, nộp ngân
sách Nhà nước.
Truy thu của bị o Đường Văn K 200.000 (hai trăm nhìn) đồng, nộp ngân
sách Nhà nước.
5. Về án phí: Buộc các bcáo Tuấn T, Đường Văn K mỗi bị cáo phải
chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm, đnộp ngân sách
Nhà nước.
6. Quyền kháng cáo: Các b cáo quyền kháng cáo bản án; người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án, quyết
định liên quan đến quyền lợi, nghĩa vcủa họ, trong thời hạn 15 ngày k từ
ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận: THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND huyện Văn Lãng;
- CQ An ninh điều tra Công an t. Lạngn;
- Trại tạm giam Công an t. Lạng Sơn;
- Các bị cáo; người bào chữa; (đã ký)
- Người có QL, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
- Chi cục THADS h. Văn Lãng, t. Lạng Sơn;
- Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
- quan thi nh án hình sự;
- Lưu VP- hồ sơ vụ án. Triệu Thị Máy
Tải về
Bản án số 09/2024/HS-ST Bản án số 09/2024/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất