Bản án số 09/2022/HNGĐ-ST ngày 27/01/2022 của TAND tỉnh Bắc Giang về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 09/2022/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 09/2022/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 09/2022/HNGĐ-ST ngày 27/01/2022 của TAND tỉnh Bắc Giang về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Bắc Giang |
| Số hiệu: | 09/2022/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 27/01/2022 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Ban an HNGD giua anh C và chi A |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG
Bản án số: 09/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 27/01/2022
“V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Xuân Lộc
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Tuyết Trinh.
Ông Đỗ Văn Long.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giangtham gia phiên toà: Bà
Hà Thị Hải - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 27/01/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm
công khai vụ án thụ lý số 135/2021/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2021 về
tranh chấp Hôn nhân và gia đình.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2021/QĐXX-ST ngày
24/12/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2022/QĐ-ST ngày 11/01/2022 giữa
các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn A, sinh ngày 19/8/1983 (vắng mặt)
HKTT: thôn T, xã Đ, huyện N, tỉnh Bắc Giang.
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị B, sinh ngày 06/10/1987 (vắng mặt)
HKTT: thôn T, xã Đ, huyện N, tỉnh Bắc Giang.
Hiện nay đang lao động tại nước ngoài.
Địa chỉ cuối cùng của chị B tại Việt Nam tại: thôn K, xã M, huyện D, tỉnh
Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai Nguyên đơn là anh
Nguyễn Văn A trình bày:
2
Trước khi kết hôn hai vợ chồng được tự do tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân. Khi
cưới được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương. Hai vợ
chồng đăng ký kết hôn ngày 25/6/2009 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện N, tỉnh
Bắc Giang nơi anh đăng ký hộ khẩu thường trú. Sau khi kết hôn chị B về nhà anh
làm dâu ngày, vợ chồng chung sống hòa thuận. Tháng 8/2016 chị B đi lao động tại
Đài Loan đến nay chưa về. Trong thời gian chị B đi lao động nước ngoài hai vợ
chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Kể từ tháng
5/2021 đến nay anh và chị B không còn gọi điện hỏi thăm sức khỏe của nhau, ai có
cuộc sống riêng của người đó. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên
đề nghị Tòa án xử cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị B.
Về con chung: Có 01 con chung là cháu Nguyễn Văn K, sinh ngày
23/3/2010. Hiện nay cháu đang sinh sống cùng anh. Anh đề nghị được chăm sóc,
nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn. Anh không yêu cầu chị B phải cấp dưỡng
nuôi con chung
Về tài sản chung, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết
Chị Nguyễn Thị B là bị đơn không có mặt tại địa phương, không gửi văn bản
giấy tờ, tài liệu về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang:
Tại biên bản làm việc ngày 10/12/2021 và 24/12/2021 bà Lê Thị L là mẹ đẻ
chị Nguyễn Thị B cho biết chị B hiện nay đang đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan.
Về quan hệ hôn nhân bà cho biết: Anh A, chị B đăng ký kết hôn ngày 25/6/2009 tại
Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện N, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị B về nhà anh
A làm dâu ngay, vợ chồng chung sống hòa thuận. Khoảng tháng 8/2016 chị B đi
lao động tại Đài Loan. Trước khi đi lao động chị B có về ở với vợ chồng bà một
thời gian rồi mới đi lao động. Anh A, chị B có mâu thuẫn nhưng bà không biết rõ.
Chị B và anh A có 01 con chung là cháu Nguyễn Văn K, sinh ngày 23/3/2010. Hiện
nay cháu đang sinh sống cùng anh A.
Tại phiên tòa hôm nay: Anh A văng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị
B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt.
Hội đồng xét xử công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của anh A; Biên bản làm
việc với mẹ đẻ của chị B và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo
pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ
đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời
điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Đối với nguyên đơn anh Nguyễn
Văn A có đơn xin xét xử vắng mặt thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của

3
mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chị Nguyễn Thị B không
có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối
với chị B. Căn cứ các quy định của pháp luật, HĐXX xét xử vắng mặt chị B là
đúng theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 53, 56, 81, 82,
83, 84, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều
28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều
228, Điều 238, Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự;
khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn
Văn A.
Xử cho anh Nguyễn Văn A được ly hôn chị Nguyễn Thị B.
Về con chung: Do chị B hiện nay đang đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài
nên đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung là cháu Nguyễn Văn K, sinh ngày
23/3/2010 cho anh A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng: Anh A không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ chung: Anh A không yêu cầu giải quyết nên
không đặt ra xem xét giải quyết.
Anh Nguyễn Văn A phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên
toà. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Văn A là nguyên đơn có đơn xin xét xử
vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
quyết định xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn A.
Đối với bị đơn chị Nguyễn Thị B vắng mặt tại phiên tòa: Tòa án nhân dân
tỉnh Bắc Giang đã tiến hành làm việc với mẹ đẻ của chị B là bà Lê Thị L để giao
thông báo thụ lý vụ án và đề nghị bà L thông báo cho chị B biết việc Tòa án nhân
dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý vụ giải quyết vụ án tranh chấp “Hôn nhân gia đình”
giữa anh Nguyễn Văn A và chị Nguyễn Thị B. Bà L cho biết chị B vẫn thường
xuyên liên lạc về gia đình, nhưng chị B không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa
chỉ cụ thể của chị B tại Đài Loan. Vì vậy, đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa
chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Do đó, Tòa án đã
tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho bị đơn và xử vắng mặt bị

4
đơn theo Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối
cao và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền: Theo Công văn trả lời số 29987/QLXNC – P5 v/v cung
cấp thông tin xuất nhập cảnh ngày 08/12/2021 của Cục Quản lý xuất nhập cảnh -
Bộ công an xác định chị B xuất cảnh gần đây nhất ngày 18/11/2016 hiện chưa có
thông tin nhập cảnh về nước. Do đó, chị B được xác định là đang ở nước ngoài.
Ngoài ra lời khai của nguyên đơn, mẹ đẻ bị đơn xác định được nơi cư trú cuối cùng
của chị B ở Việt Nam trước khi xuất cảnh lần gần nhất là thôn K, xã M, huyện D,
tỉnh Bắc Giang. Anh A, chị B đều có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bắc Giang. Vì
vậy, đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình có đương sự ở nước ngoài, thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản
1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ Hôn nhân: Anh Nguyễn Văn A và chị Nguyễn Thị B kết hôn
trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện N,
tỉnh Bắc Giang. Vì vậy, đây là hôn nhân hợp pháp cần được pháp luật bảo vệ.
[4] Đối với yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Nguyễn Văn A với chị
Nguyễn Thị B. Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn anh A và chị B chung sống
với nhau hòa thuận, tháng 11/2016 chị B đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Sau
khi đi một thời gian thì mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống nên
từ tháng 5/2021 đến nay vợ chồng không còn liên lạc với nhau. Anh A xác định tình
cảm vợ chồng không còn nên đã làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh và chị B
được ly hôn. Do đó, cần xác định vợ chồng anh A, chị B không còn yêu thương,
quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng,
đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy,
cần xử cho anh A và chị B được ly hôn nhau là hoàn toàn phù hợp với Điều 51,
Điều 53 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[5] Về con chung: Anh A, chị B có 01 con chung là cháu Nguyễn Văn K, sinh
ngày 23/3/2010. Hiện nay cháu đang sinh sống cùng anh A và do anh A chăm sóc,
nuôi dưỡng. Ly hôn anh A có nguyện vọng nuôi con chung.
Xét yêu cầu nuôi con chung của anh A: Hội đồng xét xử thấy hiện nay chị B
đang lao động tại nước ngoài không thể trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục con chung. Chị B từ khi đi nước ngoài thì cháu Khang vẫn do anh A là
người trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc, cháu phát triển bình thường về thể chất và
tình thần, được đi học đầy đủ. Mặt khác cháu Khang trên 07 tuổi có nguyện vọng
được ở cùng bố. Nên căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Chấp nhận yêu cầu của anh A đề nghị được nuôi con chung là cháu Nguyễn Văn K.

5
Giao cho anh A là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con
chung Nguyễn Văn K, sinh ngày 23/3/2010 đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến
khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật là phù hợp với điều kiện thực
tế cũng như quyền và lợi ích về mọi mặt của con chung. Sau khi ly hôn chị B có
quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị B thực hiện quyền này.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do anh A không yêu cầu nên Hội đồng xét xử
không xem xét.
Trường hợp chị Nguyễn Thị B về Việt Nam có nguyện vọng nuôi con chung
hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu
cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại
Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.
[6] Về tài sản, công nợ: Do anh A không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không
xem xét.
[7] Về án phí: Anh Nguyễn Văn A phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân
gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự;
và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí, lệ phí Toà án nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm
ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
[7]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo
quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81,
Điều 82, Điều 83, Điều 84, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân và gia
đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều
147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ
Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn A được ly hôn với chị Nguyễn Thị B.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Văn K, sinh ngày
23/3/2010 cho anh Nguyễn Văn A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi
con đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về
cấp dưỡng nuôi con, chị Nguyễn Thị B không phải cấp dưỡng nuôi con.
6
Sau khi ly hôn, chị Nguyễn Thị B người không trực tiếp nuôi con có quyền,
nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Anh Nguyễn Văn A phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án
phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng
án phí đã nộp theo biên lai số 0000167 ngày 24/11/2021 của Cục Thi hành án dân
sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận anh Nguyễn Văn A đã nộp đủ.
4. Về quyền kháng cáo bản án: Anh Nguyễn Văn A vắng mặt tại phiên tòa có
quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản
án được niêm yết theo quy định.
Chị Nguyễn Thị B hiện đang ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa có thời hạn
kháng cáo Bản án là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án
được niêm yết theo quy định.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Bắc Giang;
- Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
- UBND xã Đ, huyện N;
- Cổng thông tin điện tử;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu Tổ HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lương Xuân Lộc
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm