Bản án số 09/2021/HNGĐ-ST ngày 31/08/2021 của TAND TP. Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 09/2021/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 09/2021/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 09/2021/HNGĐ-ST ngày 31/08/2021 của TAND TP. Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Phúc Yên (TAND tỉnh Vĩnh Phúc) |
| Số hiệu: | 09/2021/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 31/08/2021 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHÚC YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC
Bản án số: 09/2021/HNGĐ – ST
Ngày 31 tháng 8 năm 2021
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi
ly hôn”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trang Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Doãn Thị Vệ
2. Ông Nguyễn Xuân Thịnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân
thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên tham gia phiên
tòa: Bà Đinh Thị Thu Huyền – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phúc
Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 161/2021/TLST –
HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly
hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2021/QĐXXST- HNGĐ ngày
12 tháng 8 năm 2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1983, (có mặt).
Nơi cư trú: Phường X, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
2. Bị đơn: Anh Lê Ngọc S, sinh năm 1984, (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: Phường X, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện đề ngày 28 tháng 6 năm 2021 và lời khai tiếp theo
trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn
chị Nguyễn Thị L trình bày:
Chị và anh Lê Ngọc S kết hôn ngày 14/9/2007 được đăng ký kết hôn tại Ủy
ban nhân dân phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc. Trước khi kết hôn anh chị
được tự do tìm hiểu và tự nguyện đi đến hôn nhân. Kết hôn xong chị về làm dâu và
sống cung cùng gia đình anh S. Tình cảm vợ chồng thời gian đầu bình thường. Vợ
2
chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn từ tháng 8 năm 2015 nguyên nhân là do quan
điểm sống và cách sống của hai vợ chồng khác nhau. Hiện tại vợ chồng đã sống ly
thân nhau từ năm 2018 mặc dù sống chung nhà nhưng vợ chồng không còn quan hệ
tình cảm, không còn quan tâm và bỏ mặc nhau trong cuộc sống. Nay chị xác định
tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc, mâu thuẫn vợ
chồng đã đến mức trầm trọng không thể kéo dài nên chị xin được ly hôn anh S và đề
nghị Tòa án sớm xem xét giải quyết cho chị và anh S được ly hôn để cả hai có điều
kiện tạo lập cuộc sống mới.
Về con chung: Vợ chồng chị có hai con chung là cháu Lê Ngọc M, sinh ngày
21/9/2008 và cháu Lê Hoàng D, sinh ngày 14/10/2012. Hiện tại các cháu đang ở
cùng chị và anh S. Ly hôn chị có nguyện vọng xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi
dưỡng cháu Lê Hoàng D và đồng ý để anh S được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng
cháu Lê Ngọc M. Cả hai không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, tài sản riêng, khoản vay, cho vay và công sức đóng góp:
Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Lê Ngọc S vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình giải quyết
vụ án anh S trình bày:
Về tình cảm: Anh thừa nhận anh và chị Nguyễn Thị L kết hôn ngày
14/9/2007 được đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Xuân Hòa, thành
phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Trước khi kết hôn anh chị được tự do tìm hiểu và
tự nguyện đi đến hôn nhân. Kết hôn xong chị L về làm dâu và sống cung cùng gia
đình anh. Tình cảm vợ chồng thời gian đầu bình thường. Trong quá trình chung
sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, hiện tại chị L và anh vẫn sống chung một
nhà nhưng vợ chồng đã sống ly thân.
Nay chị L làm đơn xin ly hôn anh cũng xác định tình cảm vợ chồng không
còn, nếu chị L vẫn kiên quyết xin ly hôn thì anh cũng đồng ý.
Về con chung: Vợ chồng anh có hai con chung là cháu Lê Ngọc M, sinh
ngày 21/9/2008 và cháu Lê Hoàng D, sinh ngày 14/10/2012. Hiện tại các cháu
đang ở cùng anh và chị L. Ly hôn anh có nguyện vọng xin được trực tiếp chăm
sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi
con chung.
Về tài sản chung, tài sản riêng, khoản vay, cho vay và công sức đóng góp:
Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa: Chị L giữ nguyên quan điểm xin ly hôn, xin nuôi con và
không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.
+ Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh
Phúc tại phiên tòa sơ thẩm: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm
3
phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố
tụng dân sự; Tòa án xác định đúng quan hệ pháp luật, tư cách của người tham gia tố
tụng, thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và bảo đảm thời hạn
chuẩn bị xét xử cũng như chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu.
+ Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xé xử áp dụng các Điều 51, Điều 56,
Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147;
Khoản 2 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a
khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/6/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Lê Ngọc S.
- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị L được trực tiếp trông nom, chăm
sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Lê Hoàng D, sinh ngày 14/10/2012. Giao cho anh
Lê Ngọc S được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Lê Ngọc
M, sinh ngày 21/9/2008. Chị L và anh S không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con
chung. Sau khi ly hôn chị L và anh S có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con
chung không ai được cản trở, gây khó khăn.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn
đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng
án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh
tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ anh Lê Ngọc S nhưng anh S
vắng mặt tại Tòa lần thứ nhất và có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến
hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật
tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Chị
Nguyễn Thị L khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với anh Lê Ngọc S có hộ khẩu thường
trú tại: Phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc. Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình
về việc ly hôn, tranh chấp về con chung khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết
của Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên theo quy định tại khoản 1 Điều 28,
điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh S kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có
đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Xuân Hòa, thành phố Phúc Yên,
4
tỉnh Vĩnh Phúc vào ngày 14/9/2007 là phù hợp với quy định của Luật Hôn nhân
và gia đình nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Xét thấy, việc chị L làm đơn xin ly hôn anh S vì thấy rằng quá trình chung
sống vợ chồng không có hạnh phúc, nguyên nhân là do quan điểm sống và cách
sống của hai vợ chồng khác nhau. Cả hai không tìm được tiếng nói chung từ đó
dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Mặc dù chị L, anh S vẫn sống
chung một nhà nhưng trên thực tế đã sống ly thân, hoàn toàn bỏ mặc và không
còn quan tâm nhau trong cuộc sống.
Qua xác minh tại địa phương nơi chị L, anh S có hộ khẩu thường trú đều thể
hiện: Quá trình chung sống chị L, anh S có xảy ra mâu thuẫn, cả hai không có
tiếng nói chung và do bất đồng quan điểm sống. Chị L làm đơn xin ly hôn, anh S
cũng đồng ý. Điều đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh S đã đến
mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không
đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia
đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L.
[4] Về con chung: Vợ chồng chị L và anh S có hai con chung là cháu Lê
Ngọc M, sinh ngày 21/9/2008 và cháu Lê Hoàng D, sinh ngày 14/10/2012. Hiện
tại các cháu đang ở cùng anh S và chị L. Ly hôn chị L có nguyện vọng xin được
trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lê Hoàng D, chị đồng ý để anh S được trực
tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lê Ngọc M. Anh S xin được trực tiếp chăm sóc,
nuôi dưỡng cả hai con chung.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Cả chị L và anh S đều không yêu cầu.
Xét yêu cầu xin nuôi con của chị L và anh S là hoàn toản thực tâm. Qua xác minh tại
địa phương cũng như lời trình bày của chị L, anh S thì cả chị L và anh S đều đang công tác
tại nhà máy Z199 Bộ quốc Phòng đóng tại phường Xuân Hòa, thành phố Phúc Yên. Cả hai
anh chị đều có đủ điều kiện mọi mặt để mỗi người nuôi một con. Ngoài ra, quá trình giải
quyết vụ án Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của cháu M và cháu D. Cháu M có nguyện
vọng xin được ở với bố, còn cháu D có nguyện vọng xin ở với mẹ. Do vậy, cần giao cho
chị L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lê Hoàng D; giao cho anh S được trực tiếp
chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lê Ngọc M. Hai bên không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi
con chung là phù hợp.
[5] Về tài sản chung, tài sản riêng, khoản vay, cho vay và công sức đóng góp:
Chị L và anh S không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí: Theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn
đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
5
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2014; Điều 147; Khoản 2 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 của Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/6/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Lê Ngọc S.
2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị L được trực tiếp trông nom, chăm
sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Lê Hoàng D, sinh ngày 14/10/2012. Giao cho anh
Lê Ngọc S được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Lê Ngọc
M, sinh ngày 21/9/2008. Chị L và anh S không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con
chung. Sau khi ly hôn chị L và anh S có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con
chung không ai được cản trở, gây khó khăn.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn
đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng
án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số:
AA/2017/ 0008964 ngày 28 tháng 6 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự
thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án nguyên đơn có quyền kháng cáo
bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết
công khai./.
Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân
sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân thành phố Phúc Yên;
- Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên;
- Các đương sự;
- Ủy ban nhân dân phường X;
- Lưu HSVA; Văn phòng.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Thị Trang Nhung
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Bản án số 80/2026/KDTM-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 22/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 16/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Bản án số 16/2026/KDTM-PT ngày 14/02/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 14/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm