Bản án số 09/2020/HS-ST ngày 16/06/2020 của TAND huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa về tội trộm cắp tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 09/2020/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 09/2020/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 09/2020/HS-ST ngày 16/06/2020 của TAND huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa về tội trộm cắp tài sản |
|---|---|
| Tội danh: | 138.Tội trộm cắp tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Tĩnh Gia (TAND tỉnh Thanh Hóa) |
| Số hiệu: | 09/2020/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 16/06/2020 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN G
TỈNH THANH HOÁ
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 09/2020/HS-ST
Ngày 16 - 6 - 2020
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tân
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Đăng Thảnh - Nghề nghiệp: Cán bộ
Ông Phạm Đức Hoàn - Nghề nghiệp: Giáo viên
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Thịnh - Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân
huyện G, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G, tỉnh Thanh Hoá tham gia
phiên toà: Bà Hoàng Thị Lanh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Thanh
Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2020/TLST-HS
ngày 22 tháng 4 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
09/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2020, đối với bị cáo:
Bùi Xuân A; sinh ngày 19 tháng 7 năm 2002; tại tỉnh Thanh Hoá; nơi cư trú:
Làng E, xã F, huyện G, tỉnh Thanh Hoá; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ
văn hoá: 8/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt
Nam; con ông: Bùi Văn A; con bà: Bùi Thị B; tiền sự: Không; tiền án: Không;
nhân thân: Không; bị tạm giữ từ ngày 04/4/2020 đến ngày 07/4/2020, hiện đang bị
áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/4/2020 đến nay.
Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Bà Bùi Thị B; sinh năm: 1967; nơi cư
trú: Làng E, xã F, huyện G, tỉnh Thanh Hóa. Là mẹ của bị cáo. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Thị K Vân, Trợ giúp viên pháp lý, chi
nhánh trợ giúp pháp lý số 02, Kộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh
Thanh Hoá. Có mặt.
- Bị hại: Chị Lê Thị Hải C; sinh ngày: 03/3/2003; nơi cư trú: Làng H, xã I,
huyện G, tỉnh Thanh Hoá. Vắng mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Phạm Thị D; sinh năm: 1963; nơi
cư trú: Làng E, xã F, huyện G, tỉnh Thanh Hóa. Là bà ngoại của bị hại. Có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
2
+ Người làm chứng:
1. Chị Bùi Thị K; sinh ngày: 25/01/2003; nơi cư trú: Làng E, xã F, huyện G,
tỉnh Thanh Hoá. Vắng mặt.
2. Anh Lê Thái L; sinh năm: 1997; nơi cư trú: Thôn O, xã F, huyện G, tỉnh
Thanh Hoá. Vắng mặt.
3. Anh Lê Văn M; sinh ngày: 03/3/2001; nơi cư trú: Thôn O, xã F, huyện G,
tỉnh Thanh Hoá. Vắng mặt.
4. Anh Lê Văn N; sinh năm: 1981; nơi cư trú: Làng H, xã I, huyện G, tỉnh
Thanh Hoá. Vắng mặt.
5. Ông Bùi Văn A; sinh năm: 1964; nơi cư trú: Làng E, xã F, huyện G, tỉnh
Thanh Hoá. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau: Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 13/9/2019, Bùi Xuân A ở
làng E, xã F, huyện G, tỉnh Thanh Hóa đi bộ từ nhà đến đoạn đường gn nhà chị
Bùi Thị K ở cùng thôn thì nhìn thấy chị K cùng với chị Lê Thị Hải Yến ở làng
Sùng, x I, huyện Ngc Lặc vừa chở nhau ra khỏi nhà để đi hc, lúc đó khoảng 06
giờ 45 phút. Biết nhà chị K không có người nên đ nảy sinh ý định vào nhà để
trộm cắp tài sản. Quan sát xung quanh không có người, A đi theo lối cu thang
nm bên ngoài để lên sân thượng, lt tấm bờ lu xi măng đy ống thông khói tro
vào bếp nhà chị K. Sau đó, A vào phòng ngủ lục đồ đạc tìm tài sản nhưng không
thấy gì, nên đi ra phòng khách thì tìm thấy một chùm chìa khóa để trên ghế g,
trong đó có một chiếc chìa khóa xe máy mà trước đó A đ nhìn thấy dựng trước
sân nhà chị K. A lấy chìa khóa xe máy rồi mở cửa bên hông nhà đi ra ngoài sân
dùng chiếc chìa khóa vừa lấy được để mở khóa điện xe máy biển kiểm soát 36AB-
013.61 của chị Lê Thị Hải C ở làng H, xã I, huyện G rồi ngồi lên xe, đẩy cho xe
chạy trôi theo dốc ra ngoài đường dân sinh rồi n máy và điều khiển xe đi đến làng
Xăm, x F, huyện Ngc Lặc rủ Lê Văn M đi chơi. Đến khoảng 10 giờ 30 phút
cùng ngày thì rủ M đi bán xe (Huế không biết được xe máy biển kiểm soát 36AB-
013.61 là xe do A trộm cắp mà có) cho các quán ở x Kiên Th, huyện G (không
nhớ tên quán) nhưng không bán được do không có giấy tờ nên A về nhà Huế ăn
cơm và nghỉ trưa. Khoảng 13 giờ cùng ngày một mình A điều khiển xe máy BKS
36AB- 013.61 đến quán của anh Lê Thái L ở thôn Nguyệt Tiến, x F, huyện G hỏi
bán, anh L đồng ý mua với giá 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng)
trong lúc đợi L đi lấy tiền thì A bị Công an x F bắt.
Tại Kết lun định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 30/KL-HĐĐG ngày
24/9/2019 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Thanh
Hóa kết lun chiếc xe máy BKS 36AB- 013.61 tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá
trị 8.025.000đ (Tám triệu không trăm hai mươi lăm ngàn đồng).
Tại bản cáo trạng số 08/CT-VKSNL ngày 20 tháng 4 năm 2020, Viện kiểm
sát nhân dân (sau đây viết tắt là VKSND) huyện G, tỉnh Thanh Hoá đ truy tố Bùi
3
Xuân A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ lut Hình sự (sau
đây viết tắt là BLHS).
Tại phiên toà, đại diện VKSND giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp
dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 90;
Điều 91; Điều 101 BLHS để xử phạt Bùi Xuân A mức án từ 06 đến 09 tháng tù, bị
cáo được trừ thời gian tạm giữ vào thời gian chấp hành hình phạt.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đ nhn lại tài sản. Bị hại, người đại diện hợp
pháp của bị hại không yêu cu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên đề nghị không
xem xét.
Về vt chứng: Đ được xử lý trong giai đoạn điều tra nên đề nghị không
xem xét.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhn: Khoảng 06 giờ 00 phút ngày
13/9/2019, bị cáo đi bộ từ nhà đến đoạn đường gn nhà chị K ở cùng thôn thì nhìn
thấy chị K cùng với chị Yến vừa chở nhau ra khỏi nhà để đi hc. Quan sát xung
quanh không có người, bị cáo đi theo lối cu thang nm bên ngoài để lên sân
thượng, lt tấm bờ lu xi măng đy ống thông khói tro vào bếp nhà chị K. Sau đó,
bị cáo vào phòng ngủ lục đồ đạc tìm tài sản nhưng không thấy gì, nên đi ra phòng
khách thì tìm thấy một chùm chìa khóa để trên ghế g, trong đó có một chiếc chìa
khóa xe máy. Bị cáo lấy chìa khóa xe máy rồi mở cửa bên hông nhà đi ra ngoài sân
dùng chiếc chìa khóa vừa lấy được để mở khóa điện xe máy biển kiểm soát 36AB-
013.61 rồi ngồi lên xe, đẩy cho xe chạy trôi theo dốc ra ngoài đường dân sinh rồi
n máy và điều khiển xe đi đến làng Xăm, x F, huyện Ngc Lặc rủ anh M đi chơi.
Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày thì rủ M đi bán xe ở x Kiên Th, huyện G
nhưng không bán được do không có giấy tờ nên bị cáo về nhà anh Huế ăn cơm và
nghỉ trưa. Khoảng 13 giờ cùng ngày một mình bị cáo điều khiển xe máy BKS
36AB- 013.61 đến quán của anh L hỏi bán, anh L đồng ý mua với giá 1.500.000đ
trong lúc đợi anh L đi lấy tiền thì bị cáo bị Công an x F bắt.
Bị hại chị Lê Thị Hải C trình bày: Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 13/9/2019,
chị đi hc cùng với chị K, do xe không n máy được nên chị để chiếc xe máy BKS
36AB- 013.61 ở nhà chị K. Khi đi hc về thì chị phát hiện bị mất chiếc xe máy.
Sau đó chị đ báo cáo sự việc với công an xã F. Chị đ được nhn lại chiếc xe máy
và không yêu cu bị cáo phải bồi thường gì thêm.
Người làm chứng chị Bùi Thị K, anh Lê Thái L và anh Lê Văn M đều thống
nhất với lời trình bày của bị cáo và bị hại về sự việc bị cáo lấy trộm chiếc xe máy
BKS 36AB- 013.61 của bị hại.
Ý kiến trình bày của người bào chữa: Thống nhất với tội danh mà đại diện
VKSND đ truy tố đối với bị cáo. Đề nghị HĐXX xem xét bị cáo đ thành khẩn
khai báo, phạm tội ln đu và thuộc trường hợp ít nghiêm trng, bị cáo phạm tội
khi chưa đủ 18 tui, nhn thức còn hạn chế, để áp dụng Điều 54 BLHS cho bị cáo
để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, xử phạt bị cáo từ 03
tháng đến 06 tháng tù.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhn hành vi phạm tội và đề nghị Hội
đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX) cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
4
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được
tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhn định như sau:
[1] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhn hành vi phạm tội.
Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại; người làm chứng; vt chứng K
giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
[2] Về trách nhiệm hình sự: Khoảng 06 giờ 45 phút ngày 13/9/2019, Bùi
Xuân A lợi dụng lúc nhà chị K không có ai ở nhà đ có hành vi trộm cắp chiếc xe
máy biển kiểm soát 36AB- 013.61, nhn hiệu VIETTHAI của chị Lê Thị Hải C.
Tài sản tại thời điểm bị cáo trộm cắp có giá trị: 8.025.000đ (Tám triệu không trăm
hai mươi lăm ngàn đồng). Như vy, có đủ cơ sở kết lun bị cáo đ có hành vi phạm
vào khoản 1 Điều 173 BLHS.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội
không có tình tiết tăng nặng, có 03 tình tiết giảm nhẹ như sau: quá trình điều tra và
tại phiên tòa, bị cáo khai trung thực các tình tiết của vụ án là đ thành khẩn khai
báo, ăn năn hối cải; phạm tội ln đu và thuộc trường hợp ít nghiêm trng đây là
hai tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo
đu thú đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
Vì vy, cn xem xét giảm nhẹ một phn hình phạt cho bị cáo, để bị cáo có
cơ hội sửa chữa li lm, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp lut.
Ngoài ra, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi đang 17 tui 01 tháng 24
ngày nên cn áp dụng khoản 1 Điều 101 BLHS khi quyết định hình phạt đối với bị
cáo.
[4] Tuy nhiên, trong quá trình điều tra vụ án, khi đang bị áp dụng biện pháp
ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và giao cho người đại diện giám sát của Cơ quan
cảnh sát điều tra Công an huyện G thì bị cáo đ bỏ đi khỏi địa phương, không có
tin tức gì, cũng không báo cáo với gia đình, chính N địa phương và Cơ quan cảnh
sát điều tra nên Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện G đ ra Quyết định truy
n đối với bị cáo. Nên cho bị cáo một mức án phù hợp và cn cách ly khỏi x hội
một thời gian để bị cáo cải tạo trở thành người công dân tốt, có ích cho x hội,
đồng thời răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Thời gian bị cáo bị tạm giữ sẽ
được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt.
[5] Về đề nghị của người bào chữa: Áp dụng Điều 54 BLHS cho bị cáo để
xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Xét thấy trong quá trình
điều tra vụ án, khi đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, bị cáo đ bỏ đi khỏi địa
phương, không có tin tức gì, cũng không báo cáo với gia đình, chính quyền địa
phương, gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án của các cơ quan chức năng.
Vì vy, đề nghị áp dụng Điều 54 BLHS cho bị cáo để quyết định hình phạt dưới
mức thấp nhất của khung hình phạt của người bào chữa là chưa đủ sức răn đe nên
không chấp nhn.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đ nhn lại tài sản do bị cáo trộm cắp. Bị
hại, người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cu bị cáo phải bồi thường gì
5
thêm, nên không xem xét.
[7] Về vt chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đ thu giữ
chiếc xe máy biển kiểm soát 36AB- 013.61, nhn hiệu VIETTHAI. Sau khi định
giá tài sản trộm cắp, xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, nên Cơ
quan cảnh sát điều tra đ ra quyết định xử lý vt chứng, giao trả lại tài sản trên cho
chị Lê Thị Hải C là người quản lý, sử dụng hợp pháp là đúng quy định của pháp
lut.
[8] Đối với Lê Văn M là người cùng đi bán xe máy biển kiểm soát 36AB-
013.61 với bị cáo nhưng không biết chiếc xe đó là xe do bị cáo trộm cắp mà có nên
không có căn cứ để xử lý hình sự.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp lut.
[10] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G,
Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều
tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ
lut tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên
tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của
Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38;
Điều 90; Điều 91; Điều 101 BLHS:
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Xuân A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bùi Xuân A 07 (Bảy) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính
từ ngày đi thi hành án, được trừ 03 (Ba) ngày bị tạm giữ từ trước.
Án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều
23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: bị cáo Bùi Xuân A phải
chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo,
người bào chữa, người đại diện hợp pháp của bị hại; vắng mặt bị hại. Bị cáo, người
đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa, người đại diện hợp pháp của bị hại
có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có
quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhn được bản án hoặc
ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Lut thi hành án dân sự thì
người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và 9 Lut thi hành án
dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Lut thi hành án dân sự.
6
Nơi nhận:
- Bị cáo;
- Bị hại;
- Người bào chữa;
- CQĐT CA huyện G;
- CQTHAHS CA huyện G;
- VKSND huyện G;
- VKSND tỉnh Thanh Hoá;
- D HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Thanh Tân
7
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bùi Đăng Thảnh
Phạm Đức Hoàn
Nguyễn Thanh Tân
8
9
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 15/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 14/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 14/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 12/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 06/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 05/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 01/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 27/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 23/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 16/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Bản án số 04/2024/HS-PT ngày 05/02/2024 của TAND TP. Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình về tội trộm cắp tài sản
Ban hành: 05/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 05/02/2024 của TAND huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng về tội trộm cắp tài sản
Ban hành: 05/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 01/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 31/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 31/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 31/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 31/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 30/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 30/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm