Bản án số 09/2019/KDTM-PT ngày 07/06/2019 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp kiện đòi bồi thường thiệt hại hàng hóa theo hợp đồng vận chuyển bằng đường biển

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 09/2019/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 09/2019/KDTM-PT ngày 07/06/2019 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp kiện đòi bồi thường thiệt hại hàng hóa theo hợp đồng vận chuyển bằng đường biển
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về bảo hiểm
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 09/2019/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 07/06/2019
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp kiện đòi bồi thường thiệt hại hàng hóa theo hợp đồng vận chuyển bằng đường biển
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 09/2019/KDTM-PT
Ngày 07-6-2019
V/v tranh chấp kiện đòi bồi thường thiệt
hại hàng hóa theo hợp đồng vận chuyển
bằng đường biển
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
ỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Tuyến
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Dương
Bà Vũ Thị Thu Hà
- Thư ký phiên toà: Phạm Thị Nguyệt Minh - Thẩm tra viên của Toà án
nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên
toà: Bà Phạm Thị Hồng Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2019 và ngày 07 tháng 6 năm 2019, tại trụ s, Toà án
nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số
01/2019/TLPT-KDTM ngày 14 tháng 01 năm 2019 về tranh chấp kiện đòi bồi
thường thiệt hại hàng hóa theo hợp đồng vận chuyển bằng đường biển.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2018/KDTM-ST ngày 23 tháng 11 năm
2018 của Tòa án nhân dân quận B3, thành phố Hải Phòng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1048/2019/QĐ-PT ngày
15 tháng 3 năm 2019 Quyết định hoãn phiên tòa số 1399/2019/QĐ-PT ngày 08
tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm A (sau đây viết tắt là Tổng
ng ty Bảo him A); địa chỉ trụ sở: Số A1 đường A2, Phường A3, Quận A4,
thành phố Hồ Chí Minh.
Ngươ
̀
i đa
̣
i di n hp pháp của nguyên đơn : Ông Viết N; nơi ĐKNKTT:
Thôn N1, xã N2, huyện N3, Hải Phòng; nơi tạm trú: Số N5 đường N6, quận N7,
2
thành phố Hải Phòng, là người đại diện theo ủy quyền “Văn bản ủy quyền ngày 02
tháng 8 năm 2017”. mặt.
- Bị đơn: Công ty Cổ phần Vận tải B (sau đây viết tt là ng ty B); địa chỉ
trụ sở: Số B1 đường B2, phường B3, quận B3, thành phố Hải Phòng.
Người đại din hp pháp của bị đơn: Ông Đoàn Thành Tr; chức vụ: Phó
Trưởng phòng An toàn Hàng hải, ng ty Cphần Vận tải B; địa chỉ liên lạc: S
B1 đường B2, phường B3, quận B3, thành phHải Phòng, người đại diện theo
ủy quyền “Văn bản y quyền số: 83/UQ-VOSCO ngày 31 tháng 01 m 2019”.
mặt.
- Người có quyền li, nghĩa vụ liên quan:
+ Tổng Công ty Bảo hiểm C; địa chỉ trụ sở: Số 104 đường Trần Hưng Đạo,
quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
Người đại din hp pháp của Tổng Công ty Bảo hiểm C: Trương Thanh
Th; chức vụ: Phó Giám đốc Ban pháp chế Tổng Công ty Bảo hiểm C, người đại
diện theo ủy quyền “Văn bản ủy quyền ngày 13 tháng 3 năm 2018”.mặt.
+ Công ty TNHH một thành viên Tổng Công ty lương thực D (sau đây viết
tắt là Công ty D); địa chỉ trụ sở: Số 333 Trần Hưng Đạo, phường Cầu Kho, Quận
1, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại din hp pháp của ng ty D: Ông Huỳnh Thế N8; chức vụ:
Tổng Giám đốc, là người đại diện theo pháp luật. Vắng mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn Công ty Cổ phần Vận tải B (VOSCO).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kin đngày 02 tháng 8 năm 2017, các bản t khai tại a
án cũng như tại phn tòa sơ thm, ngươ
̀
i đa
̣
i diê
̣
n
̣
p pha
́
p cu
̉
a nguyên đơn
Tổng Công ty Bảo hiểm A trình bày:
Tổng Công ty Bảo hiểm A nhà bảo hiểm hàng hóa cho các hàng gạo
đóng bao của Công ty D.
Công ty D Công ty B đã ký kết các hợp đồng vận chuyển gồm: Hợp đồng
vận chuyển số 08/VNF- VOSCO/PHIL-2015 ngày 21 tháng 10 năm 2015, Hợp
đồng vận chuyển số 02/VNF- VOSCO/PHIL-2016 ngày 02 tháng 02 năm 2016,
Hợp đồng vận chuyển số 05/VNF- VOSCO/PHIL-2015 ngày 30 tháng 6 năm
2015, Hợp đồng vận chuyển số 12/VNF- VOSCO/PHIL-2015 ngày 03 tháng 02
năm 2016 Hợp đồng vận chuyển số 29/VNF- VOSCO/PHIL -2014 ngày 18
tháng 11 năm 2014.
3
Nội dung của các hợp đồng nêu trên Công ty D thuê Công ty B vận
chuyển các hàng gạo từ cảng thành phố Hồ Chí Minh đến một số cảng của
Philippines trên các tàu: Vĩnh Phước, Vĩnh An, Vĩnh Thuận Lan Hạ. Tàu Vĩnh
Phước, Vĩnh An, Vĩnh Thuận Lan Hạ đều thuộc quyền sở hữu, quản lý, khai
thác của Công ty B.
Các hàng gạo đóng bao được xếp xuống đầy đtheo từng vận đơn đường
biển. Tuy nhiên, trong quá trình vận chuyển, dỡ hàng và giao hàng, một số bao gạo
đã hư hỏng, bị rách vỡ, rơi vãi, không thu hồi được dẫn đến hàng hóa giao bị thiếu.
Tại Đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, Tổng Công ty Bảo hiểm A
đã khởi kiện đề nghTòa án buộc Công ty B phải bồi thường thiệt hại hàng hóa
của 05 hàng gạo theo 05 Hợp đồng vận chuyển và được vận chuyển trên các
tàu Vĩnh Phước, Vĩnh An, Vĩnh Thuận, Lan Hạ với số tiền là: 2.207.459.075 (Hai
tỷ hai trăm linh bảy triu bốn trăm m ơi chín nghìn không trăm bảy mươi
lăm) đồng.
Sau khi Tòa án ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tổng Công ty Bảo
hiểm A Công ty B đã hòa giải thỏa thuận bồi thường với nhau xong 04 hàng
được vận chuyển theo Hợp đồng vận chuyển số 08/VNF-VOSCO/PHIL- 2015
ngày 21 tháng 10 năm 2015 ; Hợp đồng vận chuyển số 02/VNF-VOSCO/PHIL
2016 ngày 02 tháng 02 năm 2016 tại tàu Vĩnh Phước; Hợp đồng vận chuyển số
05/VNF-VOSCO/PHIL - 2015 ngày 30 tháng 6 năm 2015 tại tàu Vĩnh An Hợp
đồng vận chuyển số 12/VNF-VOSCO/PHIL-2015 ngày 03 tháng 02 năm 2016
được vận chuyển tại tàu Vĩnh Thuận.
Tại phiên tòa sơ thẩm, Tổng Công ty Bảo hiểm A thay đổi rút một phần
yêu cầu khởi kiện, giữ yêu cầu Tòa án buộc Công ty B bồi thường tổn thất số
lượng 60,75 tấn gạo của hàng gạo được vận chuyển theo Hợp đồng vận chuyển
số 29/VNF-VOSCO/PHIL-2014 ngày 18 tháng 11 năm 2014 tại tàu Lan Hạ với
tổng số tiền là: 679.434.834 đồng.
Theo bị đơn Công ty B trình bày: Bị đơn thống nhất với lời khai của nguyên
đơn về việc hai bên đã kết 05 hợp đồng vận chuyển với Công ty D các lô
hàng đều được vận chuyển từ cảng thành phố Hồ Chí Minh đến một số cảng của
Philippines trên các tàu: Vĩnh Phước, Vĩnh An, Vĩnh Thuận Lan Hạ, cũng như
thống nhất quá trình thực hiện hợp đồng vận chuyển những tổn thất hàng hóa
như nguyên đơn đã nêu. Trên thực tế, quá trình vận chuyển 05 lô hàng hóa nêu trên
đã xảy ra tổn thất hàng hóa và các thiệt hại trong quá trình vận chuyển đã được tiến
hành giám định tại Công ty Giám định Intertek tại Philippines.
Sau khi Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Công ty B và Tổng Công
ty Bảo hiểm A đã thỏa thuận bồi thường xong đối với 04 Hợp đồng vận chuyển
được vận chuyển tại các tàu Vĩnh Phước, Vĩnh An, Vĩnh Thuận.
4
Ngày 08 tháng 8 năm 2018, bị đơn Đơn đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu
để giải quyết tranh chấp đối với Hợp đồng vận chuyển số 29/VNF-VOSCO/PHIL-
2014 được vận chuyển trên tàu Lan Hạ vì hợp đồng này đến nay hết thời hiệu khởi
kiện và đề nghị Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án.
Với nội dung trên, tại Bản án thẩm số 14/2018/KDTM-ST ngày 23 tháng
11 năm 2018, Tòa án nhân dân quận B3 quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, Điều 35, Điều 147, khoản 2 Điều 244, Điều
227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ o điểm a khoản 1 Điều 157, Điều 530, Điều 531, Điều 534 Bộ
luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 70, Điều 75, khoản 1 Điều 77; Điều 118 Điều 247 Bộ
luật Hàng hải 2005;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 17 Luật Kinh doanh bảo hiểm;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kin của Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm A về
vic đòi bồi thường tổn thất 60,75 tấn gạo đưc vận chuyển trên tàu LAN HẠ theo
Hp đồng vận chuyển số 29/VNF-VOSCO/PHIL-2014 ngày 18/11/2014.
Buộc Công ty Cổ phần Vận tải B phải bồi thường cho Tổng ng ty bảo
him A s lưng gạo b thiếu hụt và ch vỡ với tổng số tiền 679.434.834
đồng (Sáu trăm bảy mươi chín triu, bốn trăm ba ơi ngn, m trăm ba
ơi đồng).
2. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kin của Tổng Công ty Cổ phần
Bảo hiểm A về vic buộc Công ty Cổ phần Vận tải B về vic đòi bồi thường tổn
thất hàng gạo đưc vận chuyển theo Hp đồng vận chuyển số 08/VNF-
VOSCO/PHIL- 2015 ngày 21/10/2015 trên tàu Vĩnh Phước; Hp đồng vận chuyển
số: 02/VNF-VOSCO/PHIL 2016 ngày 02/02/2016 đưc vận chuyển trên tàu Vĩnh
Phước; Hp đồng vận chuyển số 12/VNF-VOSCO/PHIL-2015 ngày 03/02/2016
đưc vận chuyển trên tàu Vĩnh Thuận và Hp đồng vận chuyển số 05/VNF-
VOSCO/PHIL-2015 ngày 30/6/2015 đưc vận chuyển trên tàu Vĩnh An.
Ngoài ra bản án còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí, lãi suất thi hành án
quyền kháng cáo cho các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 07 tháng 12 năm 2018, bị đơn Công ty B đã
Đơn kháng cáo toàn bộ Bản án số 14/2018/KDTM-ST ngày 23 tháng 11 năm 2018
5
của Tòa án nhân dân quận B3 trừ phần nội dung tại mục số 2 trong quyết định của
Bản án với lý do:
- Thứ nhất, Intertek là đơn vị giám định do Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm
A chỉ định. Biên bản giám định số 14COM/AGR/0393-11 ngày 16 tháng 3 năm
2015 do đơn vị này phát hành cũng không nhận của thuyền trưởng tàu Lan
Hạ cũng như đại diện cảng hoặc đơn vị liên quan nào khác tại cảng Manila. Do đó,
Biên bản giám định này không đảm bảo tính khách quan nên không được coi
bằng chứng xác nhận tình trạng, số lượng cũng như chất lượng hàng hóa được dỡ
khỏi tàu Lan Hạ. Tòa án thẩm căn cứ vào biên bản này để xác nhận số lượng
hàng hóa bị thiếu hụt là không đủ cơ sở pháp lý.
- Thứ hai, Tòa án cấp thẩm không xem xét đến các bằng chứng khách
quan khác, có xác nhận của các bên liên quan là: Các chứng từ quyết toán hàng hóa
gồm giấy chứng nhận dỡ hàng số 0482 của Philworld; Giấy chứng nhận dỡ hàng
của Avega Bros thì hàng giao nguyên bao là 230.721 bao, thiếu 279 bao/13,95 tấn
so với số bao và trọng lượng đã thể hiện trong vận đơn.
- Thứ ba, tại khoản k điều 15 trách nhiệm của chủ tàu Hợp đồng vận chuyển
số 29 (Fixture Note) quy định: “Chủ tàu trách nhiệm đối với bất kỳ tổn thất
thiệt hại trong quá trình vận chuyển hàng a sau khi hàng hóa đã được chuyển
qua lan can tàu tại cảng dỡ”. Số liệu tổn thất về hàng hóa của Tổng Công ty Bảo
hiểm A dựa vào số liệu về số lượng chất lượng hàng giao tại kho của người
nhận hàng, tức là sau khi hàng hóa đã được dỡ khỏi lan can tàu nên không thuộc
trách nhiệm của chủ tàu.
- Thứ tư, tại Điểm (c), Điều (2) Điều kiện vận chuyển ghi trên mặt sau của
Vận đơn số 19/PH-4 cũng quy định rõ: “Trong mọi trường hợp, người vận chuyển
không phải chịu trách nhiệm đối với tổn thất hoặc tổn hại của hàng hóa phát sinh
trước khi xếp hàng xuống tàu và sau khi dỡ hàng khỏi tàu”.
- Thứ năm, tại mục “Kiểm tra hầm hàng niêm phong hầm hàng trước khi
bắt đầu dỡ hàng” của chính Biên bản giám định số 14COM/ARG/0339-11, cũng đã
xác nhận “Tất cả niêm phong hầm hàng còn nguyên vẹn”.
Không đủ sở để khẳng định người vận chuyển Công ty B tàu Lan
Hạ không chịu trách nhiệm với bất kỳ tổn thất hoặc tổn hại nào đối với hàng hóa
sau khi hàng hóa đã được dỡ khỏi lan can tàu tại cảng dỡ Manila.
- Thứ sáu, căn cứ khoản 2 Điều 1, Điều 118 , Điều 195 Bộ luật Hàng hải
năm 2005, tính đến ngày 04 tháng 8 năm 2017 (ngày Tòa án nhận được Đơn khởi
kiện của Tổng Công ty Bảo hiểm A) thì đã qthời hiệu khởi kiện 07 tháng 14
ngày. Ngày 08 tháng 8 năm 2018, bị đơn đã Đơn đnghị Tòa án áp dụng thời
hiệu khởi kiện để giải quyết tranh chấp và đơn này được gửi cho Tòa án trước thời
điểm mở phiên tòa sơ thẩm theo đúng quy định.
6
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, ngày 26 tháng 4 năm 2019,
người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Công ty B đã Đơn xin rút một phần
căn cứ kháng cáo đối với đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện để giải quyết
tranh chấp.
Tại phiên toà phúc thẩm,
Nguyên đơn Tổng Công ty Bảo hiểm A giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề
nghị Tòa án buộc Công ty B phải bồi thường tổn thất số lượng 60,75 tấn gạo của lô
hàng gạo được vận chuyển theo Hợp đồng vận chuyển số 29/VNF-VOSCO/PHIL-
2014 ngày 18 tháng 11 năm 2014 tại tàu Lan Hạthay đổi một phần yêu cầu khởi
kiện yêu cầu Công ty B phải bồi thường thiệt hại theo mức giá 475USD/tấn (theo
Hóa đơn thương mại của người bán số 19/NFA/C4-14 ngày 28 tháng 11 năm 2014
của Công ty D), tức đề nghị Tòa án buộc Công ty B phải bồi thường cho Tổng
Công ty Bảo hiểm A số tiền 617.668.031 đồng (60,75 tấn x 475 USD/tấn x
21.405 VNĐ/USD).
Bị đơn Công ty B giữ nguyên yêu cầu kháng cáo không đồng ý với một phần
quyết định của Bản án thẩm đã quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
Tổng Công ty Bảo hiểm A về việc đòi bồi thường tổn thất 60,75 tấn gạo được vận
chuyển trên tàu Lan Hạ theo Hợp đồng vận chuyển số 29/VNF-VOSCO/PHIL-
2014 ngày 18 tháng 11 năm 2014, buộc Công ty B phải bồi thường cho Công ty
Bảo hiểm Toàn Cầu số lượng gạo bị thiếu hụt rách vỡ với tổng số tiền
679.434.834 đồng với các căn cứ kháng cáo như Đơn kháng cáo của Công ty B, rút
nội dung căn cứ kháng cáo về yêu cầu Tòa án áp dụng Thời hiệu khởi kiện để giải
quyết tranh chấp, giữ nguyên các nội dung căn cứ kháng cáo còn lại.
Đại din Vin Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa
phát biểu quan điểm:
- Về việc chấp hành pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên
tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm đa
̃
chấp hành đúng ca
́
c
quy đi
̣
nh cu
̉
a Bô
̣
luâ
̣
t Tố tu
̣
ng dân sư
̣
. Nguyên đơn, bị đơn và người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan Tổng Công ty Bảo hiểm C đã thực hiện đúng các quy định
của pháp luật vquyền, nghĩa vụ theo ca
́
c quy định cu
̉
a Bô
̣
luâ
̣
t Tố tu
̣
ng dân sư
̣
.
Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty D không có mặt theo giấy
triệu tập của Tòa án, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do là chưa chấp hành đúng
quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ tố tụng, phần nào đó có ảnh hưởng tới
việc giải quyết vụ án. Việc kháng cáo của bị đơn đúng theo quy định của pháp luật
về quyền kháng o, đơn thời hạn kháng cáo. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm đã
thụ lý giải quyết để xem xe
́
t kha
́
ng ca
́
o theo đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung:
7
Về nội dung căn cứ kháng cáo của Công ty B đề nghị Tòa án áp dụng thời
hiệu để giải quyết tranh chấp đã được người đại diện theo ủy quyền của Công ty B
tự nguyện rút nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Các căn cứ kháng cáo khác của Công ty B về việc không đồng ý với một
phần quyết định của Bản án thẩm đã tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
Tổng Công ty Bảo hiểm A về việc đòi bồi thường tổn thất 60,75 tấn gạo được vận
chuyển trên tàu Lan Hạ theo Hợp đồng vận chuyển số 29/VNF-VOSCO/PHIL-
2014 ngày 18 tháng 11 năm 2014, buộc Công ty B phải bồi thường cho Tổng Công
ty Bảo hiểm A số lượng gạo bị thiếu hụt và rách vỡ với tổng số tiền là 679.434.834
đồng, Kiểm sát viên có quan điểm:
Trong quá trình giải quyết tại Tòa án cũng như tại phiên tòa thẩm, Công
ty B nhất trí lời trình bày của nguyên đơn về việc kết các hợp đồng bảo hiểm,
quá trình vận chuyển những tổn thất hàng hóa như Công ty D đưa ra chấp
nhận kết quả giám định của Intertek vsố lượng hàng hóa bị tổn thất thiếu hụt tại
tàu Lan Hạ. Biên bản giám định nêu trên được Cơ quan có thẩm quyền của
Philippines công chứng, được chứng nhận hợp pháp hóa lãnh sự bởi Bộ ngoại giao
Philippines và Đại sứ quán Việt Nam tại Philippines nên giá trị pháp để xem
xét xác định thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều 478 của Bộ luật Tố tụng dân
sự. Công ty B kháng cáo cho rằng Biên bản giám định không chữ xác nhận
của Thuyền trưởng tàu Lan Hạ, không khách quan không có giá trị pháp
không căn cứ, bởi lẽ: Công ty B không cung cấp được bất cứ tài liệu nào khác
làm bằng chứng xác nhận về khối lượng cũng như chất lượng hàng hóa được dỡ
khỏi tàu Lan Hạ. Hợp đồng vận chuyển không thỏa thuận thống nhất việc Biên
bản giám định phải được Thuyền trưởng tàu, đại điện cảng ... xác nhận. Không
quy định của pháp luật về việc Biên bản giám định không xác nhận của
các bên liên quan thì không có giá trị.
Về xác định trách nhiệm bồi thường: Căn cứ Biên bản giám định s
14COM/ARG/0393-11 ny 16 tháng 3 m 2015 của Intertek c định người
vận chuyển Công ty B phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với số lượng gạo
bị tổn thất (thiếu hụt) là 47,338 tấn, bởi lẽ: S lượng gạo đã giao 12.000 tấn -
hàng tốt nhận 11.939,250 tấn (gồm 238.358 bao + 427 bao phục hồi tốt) =
60,75 tấn (bao gồm số lượng hàng thiếu hụt và hàng hư hỏng nguyên đơn yêu cầu
bị đơn bồi thường). Cần giảm trtrách nhiệm bồi thường của bđơn đối với 263
bao hỏng không đủ căn cứ c định trách nhiệm bồi thường và 23 bao b
hỏng bởi công nhân bốc dtại cầu tàu, quét t tại kho (60,75 - 12,332- 1.08=
47,338 tấn). Công đoạn vận chuyển hàng bằng xe tải tcầu tàu đến kho thể
phát sinh tổn thất hàng. Tuy nhiên, do khi hàng bốc dỡ khỏi lan can tàu không
được tính cân, việc tính cân được thực hiện khi giao hàng tại kho nên toàn bộ
8
hàng thiếu hụt Công ty B phải chịu trách nhiệm bởi không căn cứ xác định lỗi
thiếu hụt hàng do người khác.
Về giá trị bồi thường: Căn cứ Hóa đơn thương mại của người bán số
19/NFA/C4-14 ngày 28 tháng 11 năm 2014 của Công ty D thể hiện: Đơn ghàng
475 USD/tấn, t giá được xác định theo yêu cầu của nguyên đơn 21.405
VNĐ/USD.
Như vậy, nội dung kháng cáo của bị đơn về xem xét đánh giá chứng cứ, xác
định trách nhiệm bồi thường của bị đơn phần căn cứ, cần xem xét chấp
nhận loại bớt lượng hàng tổn thất thuộc về công đoạn bốc dỡ, phương tiện vận
chuyển hàng tcầu tàu đến kho của khách hàng do chủ hàng thuê 23 bao, trọng
lượng 11.08 tấn; loại bớt trách nhiệm bồi thường đối với 263 bao, trọng lượng
12,332 tấn gạo hỏng do không đủ căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của
người vận chuyển và tính thiệt hại theo đơn giá hàng là 475 USD/tấn, xác định lại
án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Từ các nhận định trên, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 2
Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự, ćp nhâ
̣
n mô
̣
t phần kha
́
ng ca
́
o
của bị đơn ; sửa Bản án kinh doanh thương mại thẩm số 14/2018/KDTM-ST
ngày 23 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân quận B3, thành phố Hải Phòng
theo hướng:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Tổng Công ty Bảo
hiểm A, buộc Công ty B phải bồi thường cho Tổng Công ty Bảo hiểm A số tiền
481.303.198 đồng (47,338 tấn x 475 USD/tấn x 21.405 VNĐ/USD).
- Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của Tổng Công ty Bảo hiểm
A về việc buộc Công ty B bồi thường tổn thất hàng gạo được vận chuyển theo
các Hợp đồng vận chuyển số 08, 02, 12 và 05.
- Về án phí dân sự thẩm: Công ty B phải chịu án pdân sự thẩm
giá ngạch tính trên tổng số tiền phải bồi thường phải trả cho Tổng Công ty Bảo
hiểm A. Tổng Công ty Bảo hiểm A phải chịu án phí dân sự thẩm tương ứng với
phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận.
- Ván pdân sự phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm bị sửa nên bị đơn Công ty
B không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Sau khi xem xét các tài liệu trong hồ sơ, cũng như lời trình bày của các
đương sự, quan điểm của Viện Kiểm sát tại phiên tòa,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
9
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Tổng Công ty Bảo hiểm A
đã thực hiện trách nhiệm bồi thường bảo hiểm hàng hoá bị tổn thất cho ng ty D
được Công ty D thế quyền truy đòi số tiền bồi thường đối với hàng được bảo
hiểm theo Hợp đồng vận chuyển số 29/VNF-VOSCO/PHIL-2014 ngày 18 tháng 11
năm 2014 giữa Công ty D với Công ty B. vậy quan hệ pháp luật tranh chấp
“Tranh chấp kiện đòi bồi thường thiệt hại hàng hóa theo hợp đồng vận chuyển bằng
đường biển”. Theo quy định tại khoản 5 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[2] Kháng o của bị đơn Công ty B trong thời hạn luật định nên được xem
xét, giải quyết.
[3] Tại phiên tòa, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty D vắng
mặt. Đây là phiên tòa mở lại lần thứ ba, các đương sự đã được Tòa án triệu tập hợp
lệ đến phiên tòa nên Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng căn cứ vào khoản 2
Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt Công ty D.
[4] Về tư cách người tham gia tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định Tổng
Công ty Bảo hiểm C là người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đúng. Bởi
lẽ, Công ty B mua bảo hiểm cho các tàu Vĩnh Phước, Vĩnh An, Vĩnh Thuận
Lan Hạ tại Tổng Công ty Bảo hiểm C. Đối với tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại
hàng hóa theo hợp đồng vận chuyển giữa Tổng Công ty Bảo hiểm A Công ty B
thì Tổng Công ty Bảo hiểm C không trách nhiệm nghĩa vụ bồi thường
Tổng Công ty Bảo hiểm C chỉ có quan hệ hợp đồng bảo hiểm với Công ty B.
[5] Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của Tổng Công ty Bảo
hiểm A thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện yêu cầu Công ty B phải bồi thường
thiệt hại theo mức giá 522,5USD/tấn, tương ứng 110% của giá CIF (theo Hợp đồng
bảo hiểm số KT0136/14HB08GD giữa Tổng Công ty Bảo hiểm A với Công ty D),
đề nghị Tòa án chấp nhận mức giá 475USD/tấn (theo Hóa đơn thương mại của
người bán số 19/NFA/C4-14 ngày 28 tháng 11 năm 2014 của Công ty D). Xét thấy
việc thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hoàn toàn tự nguyện,
không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm
căn cứ khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân schấp nhận yêu cầu thay đổi
này của nguyên đơn.
- Về nội dung kháng cáo của Công ty B:
[6] Về nội dung căn cứ kháng cáo của Công ty B đề nghị Tòa án áp dụng
thời hiệu để giải quyết tranh chấp đã được người đại diện theo ủy quyền của Công
ty B tự nguyện rút nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
[7] Hợp đồng vận chuyển số 29/VNF-VOSCO/PHIL-2014 ngày 18 tháng 11
năm 2014 giữa Công ty D với Công ty B đều do đại diện hợp pháp của các bên
kết trên cơ sở tự nguyện và đã thực hiện. Như vậy giữa hai Công ty đã xác lập quan
10
hệ hợp đồng vận chuyển hàng hóa theo chuyến. Nội dung hợp đồng vận chuyển
theo chuyến phù hợp với các quy định của pháp luật nên hợp đồng kinh tế hợp
pháp và được pháp luật bảo vệ.
[8] Về xác định số lượng thiếu hụt: Căn cứ vận đơn số 19/PH4 chữ
của thuyền trưởng tàu Lan Hạ và Phiếu đóng gói hàng hóa số 19/NFA-C4-14 của
Công ty D ngày 28 tháng 11 năm 2014 xác nhận số lượng hàng hóa xếp lên tàu
Lan Hạ tại cảng thành phố Hồ C Minh 240.000 bao gạo được đóng gói
50kg/bao, tương đương 12.000 tấn, tổng trọng lượng 12.028,8 tấn. Khi tàu đến
cảng Manila tại Phillipines và tiến hàng dỡ hàng: Tại các giấy chứng nhận dỡ hàng
số 0482 của Philword Adjustments Avega Bros đều chữ xác nhận của
thuyền trưởng tàu Lan Hạ đại diện đại lý của tàu, trong đó nêu ngoài 279
bao thiếu hụt còn 1363 bao rách vỡ, rỗng (1350 bao rách, 13 bao rỗng). Như
vậy, việc thiếu hụt đã được phía chủ tàu là Công ty B xác nhận. Trước khi tiến
hành dỡ ng, ngày 31 tháng 12 năm 2014, Công ty D đã ra Thông báo số 345 đến
thuyền trưởng tàu Lan Hạ, cảng vụ Manila, Tổng Công ty Bảo hiểm A các bên
liên quan về việc ghi nhận lô hàng được phát hiện bị tổn thất thông báo sẽ
bảo lưu quyền khiếu nại đối với tổn thất này khi những chi tiết giá trị tổn thất
được xác định. Như vậy, việc bị đơn Công ty B quan điểm trong đơn kháng
cáo, căn cứ vào các giấy chứng nhận dỡ hàng số 0482 của Philword Adjustments
Avega Bros để xác định số lượng thiếu hụt 279 bao không căn cứ để
chấp nhận ngoài số lượng trên, đại diện bên vận chuyển đã chữ xác nhận
về tình trạng của 1363 bao rách vỡ, rỗng và phía nguyên đơn cũng đã có thông báo
bảo lưu quyền khiếu nại đối với những tổn thất này đến khi xác định được chi tiết
giá trị. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận căn cứ kháng cáo này
của Công ty B.
[9] Về nội dung căn cứ kháng cáo của bị đơn cho rằng Tòa án cấp thẩm
căn cứ Biên bản giám định của Intertek để xác định số lượng hàng hóa thiếu hụt,
hỏng không đủ sở pháp lý: Biên bản giám định số 14COM/ARG/0393-11
ngày 16 tháng 3 năm 2015 của Intertek phù hợp với Giấy chứng nhận dỡ hàng số
0482 của Philword Adjustments và Avega Bros đều có chữ xác nhận của
Thuyền trưởng tàu Lan Hạ và các tài liệu liên quan đến việc vận chuyển hàng.
Trong suốt quá trình giải quyết tại Tòa án cũng như tại phiên tòa thẩm, Công ty
B nhất trí lời trình bày của nguyên đơn về việc ký kết các Hợp đồng bảo hiểm, quá
trình vận chuyển và những tổn thất hàng hóa như Công ty D đưa ra chấp nhận
kết quả giám định của Intertek về số lượng hàng hóa bị tổn thất thiếu hụt tại tàu
Lan Hạ. Biên bản giám định nêu trên được Cơ quan có thẩm quyền của Philippines
công chứng, được chứng nhận hợp pháp hóa lãnh sự bởi Bộ Ngoại giao Manila
Philippines Đại sứ quán Việt Nam tại Philippines giá trị pháp đxem xét
xác định thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều 478 của Bộ luật Tố tụng dân s.
Công ty B kháng cáo cho rằng Biên bản giám định không chữ xác nhận của
Thuyền trưởng tàu Lan Hạ, không khách quan, không giá trị pháp không
11
căn cứ bởi lẽ Công ty B không cung cấp được bất cứ tài liệu nào khác làm bằng
chứng xác nhận về khối lượng cũng như chất lượng hàng hóa được dỡ khỏi tàu Lan
Hạ. Mặt khác, Hợp đồng vận chuyển số 29/VNF-VOSCO/PHIL-2014 ngày 18
tháng 11 năm 2014 giữa Công ty D với Công ty B không thỏa thuận thống nhất
việc Biên bản giám định phải được Thuyền trưởng tàu, đại điện cảng ... xác
nhận cũng không quy định nào của pháp luật về việc Biên bản giám định
không chữ xác nhận của các bên liên quan thì không gtrị. Do đó, Hội
đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận căn cứ kháng cáo này của Công ty B.
[10] Về xác định trách nhiệm bồi thường: Tại các điểm k, q Điều 15 Hợp
đồng vận chuyển số 29/VNF-VOSCO/PHIL-2014 ngày 18 tháng 11 năm 2014 quy
định: “k. Chủ tàu chịu tất cả các trách nhim đối với bất kỳ tổn hại hay tổn thất
hàng hóa nào sau khi hàng đã đưc đưa qua khỏi lan can tàu tại cảng xếp cho đến
khi hàng hóa lại đưc qua khỏi thành lan can tàu tại cảng dỡ hàng... Chủ tàu phải
xác nhận rằng khi Thông báo tổn thất hay thit hại hàng hóa, biên bản hàng
hóa hỏng đổ vỡ thiếu hụt sẽ đưc bởi thuyền trưởng đại din của người
thuê vận chuyển/Người làm vic thực tế của người thuê vận chuyển...; q. Người
vận chuyển/Chủ tàu phải chịu trách nhim về mọi tổn thất/thit hại/tổn hại bao
gồm nhưng không hạn chế vic mất cắp, giao lên bkhông đủ, giao thiếu, hàng
ướt, tàu bị chìm, hỏa hoạn hay cướp biển”. Thời điểm dỡ hàng tại các Giấy chứng
nhận dỡ hàng, thuyền trưởng tàu Lan Hạ đã xác nhận có 279 bao thiếu hụt và 1363
bao hàng rách/rỗng. Do đó, việc Công ty B cho rằng chỉ chịu trách nhiệm đối với
279 bao thiếu hụt tại thời điểm dỡ hàng không căn cứ, do thiệt hại của 1363
bao rách/rỗng đã phát sinh từ trước khi hàng hóa được dỡ khỏi lan can tàu, không
phải phát sinh tại kho theo phân tích của bị đơn.
[11] Về xác định số lượng hàng hóa phải bồi thường: Căn cứ Biên bản giám
định số 14COM/ARG/0393-11 ngày 16 tháng 3 năm 2015 của Intertek báo cáo kết
quả giám định: quan quản lương thực NFA đã nhận tổng số hàng hóa
239.721 bao với tổng khối lượng 11.815,092 tấn gạo trắng hạt dài, 25% tấm,
được xay xát kỹ, đóng bao và được chuyển đến kho của NFA từ HCPTI, Manila,
Philippines, trong đó 238.355 bao hàng tốt tương đương với 11.863,592 tấn.”.
Cũng tại Biên bản giám định báo cáo: Số lượng hàng hóa được dỡ trên mỗi hầm
hàng thiếu hụt 279 bao gạo (trọng lượng 13,950 tấn) đã được bốc dtheo vận đơn
sau khi hoàn thành việc bốc dỡ hàng từ tàu, số lượng bao rỗng gốc là 13 bao (trọng
lượng 0,65 tấn) tổng số bao rách được xác định sau khi hoàn thành việc bốc dỡ
hàng do lỗi bốc dỡ tại tàu là 1350 bao (trọng lượng 67,5 tấn). Việc quét hót gạo để
khôi phục với khối lượng không xác định được thực hiện để đóng gói và cân lại tại
kho nhận hàng của NFA. Sau khi phân loại, khôi phục, đóng lại 427 bao (trọng
lượng 21,35 tấn) được xem nhàng tốt được chấp nhận bởi người nhận
không bất cứ ngoại lệ nào. Ngoài ra, việc quét hót khôi phục tại tàu, do công
nhân bốc dỡ tại kho còn có 286 bao (trọng lượng 13,412 tấn) không phù hợp để
tiêu dùng theo kết quả kiểm tra bằng mắt được người nhận chấp nhận tại kho
12
bao gồm: 263 bao quét hót được khôi phục từ bao rách vỡ tại tàu (trọng lượng
12,332 tấn) giá trị tận dụng 23 bao (trọng lượng 1.08 tấn) bị hỏng bởi
công nhân bốc dỡ tại cầu tàu, quét hót tại kho (cụ thể được nêu tại mục tóm tắt
tổng số tổn thất/hư hỏng của Biên bản giám định: 03 bao nhiễm nước tiểu do công
nhân bốc dỡ tại cầu tàu, trọng lượng 141 kg; 15 bao quét hót tại cầu tàu do công
nhân bốc dỡ, trọng lượng 707 kg; 05 bao quét hót tại kho, trọng lượng 236 kg). Tại
phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của Tổng Công ty Bảo hiểm A xác
nhận Tổng Công ty Bảo hiểm A không đưa ra được bất cứ tài liệu, chứng cứ
chứng minh về giá trị tận dụng (còn lại) đối với số lượng bao gạo được quét hót
phục hồi không phù hợp để tiêu dùng nên không đủ căn cứ để xác định trách nhiệm
bồi thường thiệt hại của người vận chuyển đối với lượng hàng hóa bịhỏng này.
Do đó, cần giảm trừ trách nhiệm bồi thường của Công ty B đối với 263 bao
hỏng không đcăn cứ xác định trách nhiệm bồi thường 23 bao bị hỏng bởi
công nhân bốc dỡ tại cầu tàu, quét hót tại kho. Như vậy, xác định số lượng hàng
hóa bị thiệt hại là (279 bao + 13 bao) + (1350 bao 427 bao 286 bao) = 929 bao,
trọng lượng (13,95 tấn + 0,65 tấn) + (67,5 tấn 21,35 tấn 13,412 tấn) = 47,338
tấn. Ngoài 47,338 tấn được xác định là số lượng hàng hóa bị thiệt hại theo Biên
bản giám định của Intertek thì vẫn còn một lượng hàng hóa bị thiếu hụt trong công
đoạn vận chuyển hàng bằng xe tải từ cầu tàu đến kho. Tuy nhiên, do khi bốc dỡ
hàng khỏi lan can tàu không được tính cân, việc tính cân được thực hiện khi giao
ng tại kho nên toàn bhàng thiếu hụt này, Công ty B phải chịu trách nhiệm bởi
không căn cứ xác định lỗi thiếu hụt hàng do người khác. Bản án cấp thẩm
quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Tổng Công ty Bảo hiểm A về việc đòi
bồi thường tổn thất đối với 60,75 tấn gạo được vận chuyển trên tàu Lan Hạ theo
Hợp đồng vận chuyển số 29/VNF-VOSCO-PHIL-2014 ngày 18 tháng 11 năm
2014 là không đúng nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm sửa nội dung này của Bản
án sơ thẩm, chỉ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Tổng ng ty Bảo hiểm A về việc
đòi bồi thường tổn thất đối với 47,338 tấn gạo.
[12] Về xác định giá trị của hàng hóa bị tổn thất: Căn cứ theo Hóa đơn
thương mại của người bán số 19/NFA/C4-14 ngày 28 tháng 11 năm 2014 của
Công ty D thể hiện đơn giá hàng 475 USD/tấn điều kiện CIF, DDU tại cảng
Manila, Phillipines. Như vậy, giá trị thiệt hại thực tế của Công ty D là: 47,338 tấn
x 475 USD x 21.405 VNĐ/USD = 481.303.198 đồng (tỷ giá USD thời điểm phát
sinh thiệt hại 21.405 VNĐ/USD). Bản án thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện
ban đầu của Tổng Công ty Bảo hiểm A, bên nhận thế quyền của Công ty D căn
cứ vào giá trị bồi thường theo Hợp đồng bảo hiểm số KT0136/14HB08GD giữa
Công ty D với Tổng Công ty Bảo hiểm A để yêu cầu Công ty B phải bồi thường
thiệt hại theo mức giá 522,5USD/tấn, tương ứng 110% của giá CIF là không có căn
cứ do Hợp đồng bảo hiểm trên chỉ ràng buộc nghĩa vụ trách nhiệm của Công ty
D Tổng Công ty Bảo hiểm A, không liên quan đến Công ty B. Tại phiên tòa
phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của Tổng Công ty Bảo hiểm A đã thay đổi nội
dung khởi kiện này, đề nghị Tòa án yêu cầu ng ty B phải bồi thường thiệt hại
13
theo mức giá 475USD/tấn theo Hóa đơn thương mại của người bán số 19/NFA/C4-
14 ngày 28 tháng 11 năm 2014 của Công ty D là căn cứ. Do đó, Hội đồng xét
xử phúc thẩm chấp nhận nội dung kháng cáo này của bị đơn, sửa Bản án thẩm
đối với nội dung này.
[13] Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa một phần Bản
án thẩm, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Tổng Công ty Bảo hiểm A
về việc đòi bồi thường tổn thất đối với 47,338 tấn gạo được vận chuyển trên tàu
Lan Hạ theo Hợp đồng vận chuyển số 29/VNF-VOSCO-PHIL-2014 ngày 18
tháng 11m 2014, buộc Công ty B phải bồi thường cho Tổng Công ty Bảo hiểm
A slượng gạo bị tổn thất với số tiền 481.303.198 đồng; không chấp nhận một
phần yêu cầu khởi kiện của Tổng ng ty Bảo hiểm A về việc buộc Công ty B
phải bồi thường tổn thất với số tiền 617.668.031 đồng - 481.303.198 đồng =
136.364.833 đồng.
[14] Về án phí: Công ty B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm giá ngạch tính
trên tổng số tiền bồi thường phải trả cho Tổng Công ty Bảo hiểm A. Tổng Công ty
Bảo hiểm A phải chịu án phí dân sthẩm tương ứng với phần yêu cầu không
được Tòa án chấp nhận. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do Tòa án cấp phúc thẩm
sửa Bản án thẩm nên người kháng cáo bđơn Công ty B không phải chịu án
phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[15] Các quyết định khác của Bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn Công ty Cổ phần Vận tải B
(VOSCO), sửa một phần Bản án thẩm s14/2018/KDTM-ST ngày 23 tháng 11
năm 2018 của Tòa án nhân dân quận B3, thành phố Hải Phòng.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, Điều 35, Điều 147, khoản 2 Điều 148, Điều
227, Điều 228 và Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 157, Điều 530, Điều 531, Điều 534 Bộ luật
Dân sự;
Căn cứ vào Điều 70, Điều 75, khoản 1 Điều 77; Điều 118 Điều 247 Bộ
luật Hàng hải 2005;
Căn cứ vào điểm e khoản 1 Điều 17 Luật Kinh doanh bảo hiểm;
Căn cứ khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
14
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Tổng Công ty Cổ phần Bảo
hiểm A về việc đòi bồi thường tổn thất 47,338 tấn gạo được vận chuyển trên tàu
LAN HẠ theo Hợp đồng vận chuyển số 29/VNF-VOSCO/PHIL-2014 ngày 18
tháng 11 năm 2014.
Buộc Công ty Cổ phần Vận tải B phải bồi thường cho Tổng Công ty Cổ
phần Bảo hiểm A với tổng số tiền là 481.303.198 (Bốn trăm tám mươi mốt triu ba
trăm linh ba nghìn một trăm chín mươi tám) đồng.
Kể từ ngày Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm A có đơn yêu cầu thi hành án
cho đến khi thi hành án xong tất ccác khoản tiền, hàng tháng Công ty Cổ phần
Vận tải B n phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức
lãi suất quy định khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự, tương ứng thời gian chưa thi
hành án.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Tổng Công ty Cổ phần
Bảo hiểm A vviệc buộc Công ty Cổ phần Vận tải B phải bồi thường tổn thất với
số tiền 136.364.833 (Một trăm ba mươi sáu triu ba trăm sáu mươi tư nghìn tám
trăm ba mươi ba) đồng.
3. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của Tổng Công ty Cổ phần
Bảo hiểm về việc buộc Công ty Cổ phần Vận tải B về việc đòi bồi thường tổn thất
hàng gạo được vận chuyển theo Hợp đồng vận chuyển số 08/VNF-
VOSCO/PHIL-2015 ngày 21 tháng 10 năm 2015 trên tàu Vĩnh Phước; Hợp đồng
vận chuyển số: 02/VNF-VOSCO/PHIL-2016 ngày 02 tháng 02 năm 2016 được
vận chuyển trên tàu Vĩnh Phước; Hợp đồng vận chuyển số 12/VNF-
VOSCO/PHIL-2015 ngày 03 tháng 02 năm 2016 được vận chuyển trên tàu Vĩnh
Thuận Hợp đồng vận chuyển số 05/VNF-VOSCO/PHIL-2015 ngày 30 tháng 6
năm 2015 được vận chuyển trên tàu Vĩnh An.
4. Về án phí:
- Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm A phải chịu 6.818.242 (Sáu triu tám
trăm mười tám nghìn hai trăm bốn mươi hai) đồng tiền án phí dân sự thẩm.
Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm A đã nộp số tiền 38.100.000 (Ba mươi tám triu
một trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí dân sự thẩm, theo biên lai thu tiền s
0011858 ngày 13 tháng 12 năm 2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận B3,
thành phố Hải Phòng, được khấu trừ vào tiền án phí dân s thẩm Tổng Công ty
Cổ phần Bảo hiểm A phải nộp. Trả lại Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm A số tiền
31.281.758 (Ba mươi mốt triu hai trăm tám mươi mốt nghìn bảy trăm năm mươi
tám) đồng.
- Công ty Cổ phần Vận tải B phải chịu 23.252.128 (Hai mươi ba triu hai
trăm năm mươi hai nghìn một trăm hai mươi tám) đồng tiền án phí dân sự thẩm
không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Công ty Cổ phần Vận tải B đã nộp
2.000.000 (Hai triu) đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo Biên lai thu tiền
số 0015542 ngày 20 tháng 12 năm 2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận B3,
15
thành phố Hải Phòng, được trừ vào tiền án phí dân sự sơ thẩm mà Công ty Cổ phần
Vận tải B (VOSCO) phải chịu. ng ty Cổ phần Vận tải B còn phải nộp
21.252.128 (Hai mươi mốt triu hai trăm năm mươi hai nghìn một trăm hai mươi
tám) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án
dân sự./.
Nơi nhận:
- VKSND thành phố Hải Phòng;
- TAND quận B3, TP. Hải Phòng;
- Chi cc THADS qun B3, TP. Hi Phòng;
- Các đương sự (để thi hành);
- Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN T
Nguyễn Xuân Tuyến
Tải về
Bản án số 09/2019/KDTM-PT Bản án số 09/2019/KDTM-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất