Bản án số 08/2022/HS-ST ngày 28/02/2022 của TAND TX. Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình về tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 08/2022/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 08/2022/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 08/2022/HS-ST ngày 28/02/2022 của TAND TX. Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình về tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm |
|---|---|
| Tội danh: | 191.Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TX. Ba Đồn (TAND tỉnh Quảng Bình) |
| Số hiệu: | 08/2022/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 28/02/2022 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THỊ XÃ BA ĐỒN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH QUẢNG BÌNH
Bản án số: 08/2022/HS-ST
Ngày: 28 - 02 - 2022
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Anh Đức
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Xuân Vinh và Ông Mai Văn Chương
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Kiều Phương, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã
Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình tham gia
phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh
Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2022/TLST-HS ngày
18 tháng 02 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2022/QĐXXST-HS
ngày 18 tháng 02 năm 2022, đối với bị cáo:
Nguyễn Trung Th, sinh ngày 14 tháng 8 năm 1969 tại thị xã B, tỉnh Quảng Bình;
nơi cư trú: khu phố 4, phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: buôn bán;
trình độ học vấn: lớp 06/10; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con
ông Nguyễn Văn N (chết) và bà Phạm Thị Tr (chết); vợ: Nguyễn Thị Kim Ph, sinh
năm 1974; con: có 02 đứa (lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 1999); tiền sự: không;
tiền án: có 01 tiền án, tại bản án số 05/2017/HSST ngày 13/4/2017 của Tòa án nhân
dân tỉnh Quảng Bình, xử phạt tiền 30.000.000 đồng, về tội “Đánh bạc”. Bị cáo bị tạm
giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Ba Đồn kể từ ngày 31/12/2021. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Thùy Gi, sinh năm
1988; nơi cư trú: tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt không
có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ ngày 30/12/2021, Nguyễn Trung Th điều khiển xe mô tô
nhãn hiệu Honda Air Blade sơn màu đen, biển kiểm soát 75K9-9729 trên đường đi có
ghé vào một quán nước ven đường QL1A thuộc phường Quảng Thuận, thị xã Ba Đồn.
Quá trình ngồi uống nước tại quán thì có gặp một người đàn ông không rỏ danh tính
2
vào quán uống nước, hai bên trao đổi và thỏa thuận mua bán pháo, theo đó, Th đã đồng
ý và mua lại từ người đàn ông trên 10 (mười) hộp pháo loại 36 quả/hộp và 12 (mười
hai) hộp pháo loại 09 quả/hộp, với tổng giá tiền là 18.000.000 đồng (mười tám triệu
đồng). Sau khi mua được pháo, Th điều khiển xe mô tô chở toàn bộ số pháo trên về
cất giấu tại nhà ở của mình thuộc khu phố 4, phường Ba Đồn, thị xã Ba Đồn. Đến
khoảng 22 giờ ngày 30/12/2021, Th lấy bớt ra 10 (mười) hộp pháo, loại 36 quả/hộp để
vào trong một túi nilon màu đỏ và 06 (sáu) hộp pháo, loại 09 quả/hộp để vào trong
một túi nilon màu đen rồi buộc lên xe mô tô biển kiểm soát 75K9-9729 và điều khiển
xe chở đến quán bán cháo gà của gia đình tại khu phố 2, phường B, thị xã B nhằm cất
giấu để sử dụng trong dịp Tết Nguyên đán thì bị lực lượng Công an thị xã Ba Đồn phát
hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ 16 (mười sáu) hộp pháo cùng một số vật chứng có
liên quan. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Trung Th tại khu phố 4,
phường Ba Đồn, thị xã Ba Đồn, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 (một) túi ni-lon màu
đen, bên trong có 06 (sáu) hộp pháo, loại 09 quả/hộp.
Tại Bản kết luận giám định số 76/GĐ-PC09 ngày 07 tháng 01 năm 2022 của
Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Quảng Bình đối với số vật chứng đã thu
giữ gồm 22 (hai mươi hai) khối hình hộp mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị
xã Ba Đồn gửi giám định đều là Pháo nổ (loại pháo hoa nổ). Tổng khối lượng là 44,4kg
(Bốn mươi bốn phẩy bốn kilôgam).
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Ba Đồn đã thu giữ: 06 (sáu) khối
hình hộp, mỗi khối có kích thước (14,5 x 14,5 x 12,5)cm, có một dây ngòi nối từ trong
ra bên ngoài, vỏ bằng giấy nhiều màu sắc, in chữ nước ngoài, hình pháo hoa, nhãn
hiệu “CHONGKOL” mã ký hiệu “C0833” bên trong mỗi khối có 36 (ba mươi sáu) vật
hình trụ tròn liên kết lại với nhau bằng dây ngòi, tổng khối lượng 8,5 kg (tám phẩy
năm kilôgam); 03 (ba) khối hình hộp, mỗi khối có kích thước (14,5 x 14,5 x 12,5)cm,
có một dây ngòi nối từ trong ra bên ngoài, vỏ bằng giấy nhiều màu sắc, in chữ nước
ngoài, hình pháo hoa, nhãn hiệu “CHONGKOL” mã ký hiệu “C0836” bên trong mỗi
khối có 36 (ba mươi sáu) vật hình trụ tròn liên kết lại với nhau bằng dây ngòi, tổng
khối lượng 4,1 kg (bốn phẩy một kilôgam); 01 (một) khối hình hộp, mỗi khối có kích
thước (14,5 x 14,5 x 12,5)cm, có một dây ngòi nối từ trong ra bên ngoài, vỏ bằng giấy
nhiều màu sắc, in chữ nước ngoài, hình pháo hoa, nhãn hiệu “CHONGKOL” mã ký
hiệu “C0834” bên trong mỗi khối có 36 (ba mươi sáu) vật hình trụ tròn liên kết lại với
nhau bằng dây ngòi, khối lượng 1,4 kg (một phẩy bốn kilôgam); 12 (mười hai) khối
hình hộp, mỗi khối có kích thước (25,5 x 16 x 16)cm, có một dây ngòi nối từ trong ra
bên ngoài, vỏ bằng giấy nhiều màu sắc, in chữ nước ngoài, hình pháo hoa, nhãn hiệu
“CHONGKOL” mã ký hiệu “C1759” bên trong mỗi khối có 09 (chín) vật hình trụ tròn
liên kết lại với nhau bằng dây ngòi, tổng khối lượng 30,4 kg (ba mươi phẩy bốn
kilôgam).
Sau khi giám định, Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Quảng Bình
đã trả lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Ba Đồn 05 (năm) hộp pháo nổ,
mã ký hiệu “C0833”; 02 (hai) hộp pháo nổ, mã ký hiệu “C0836” và 10 (mười) hộp
pháo nổ, mã ký hiệu “C1759”. Tổng khối lượng 35,2kg (ba mươi lăm phẩy hai
kilôgam). Tất cả được niêm phong trong 02 thùng giấy cát tông, được đóng kín, gián
3
giấy niêm phong có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự và chữ ký của những người
có liên quan.
- 02 (hai) túi ni-lon, màu đen, kích thước mỗi túi khoảng (63 x 76)cm và 01
(Một) túi ni-lon, màu đỏ, kích thước khoảng (60 x 90)cm, đều đã qua sử dụng;
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu sơn đen bạc, BKS 75K9-
9729, số khung “RLHJF180AY380529” số máy “JF27E-0430433” xe đã qua sử dụng.
Đây là phương tiện mà Nguyễn Trung Th đã sử dụng để vận chuyển pháo nổ vào ngày
30/12/2021. Tài sản trên thuộc sở hữu của Nguyễn Trung Th, do Thành mua lại vào
năm 2018 từ một cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ ở thành phố Đồng Hới (không xác
định được địa chỉ và người bán) và sử dụng cho đến nay. Theo Kết luận giám định số
202/KL-KTHS-KT ngày 28 tháng 01 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09)
Công an tỉnh Quảng Bình, kết luận: “Số khung, số máy nguyên thủy của xe mô tô đeo
BKS 75K9-9729 đã bị đục phá, đóng lại; dãy ký tự “RLHJF180AY380529” đống trên
khung và dãy ký tự “JF27E-0430433” đóng trên máy không phải là các dãy ký tự
nguyên thủy. Quá trình giám định không tái hiện được số khung, số máy nguyên thủy
của xe mô tô đeo BKS 75K9-9729”. Do đó hiện không có cơ sở để xác minh làm rõ
nguồn gốc, chủ sở hữu của xe mô tô trên. Đối với biển kiểm soát xe mô tô 75K9- 9729
đeo trên xe mô tô trên, theo Kết luận giám định số 196/KL-KTHS-TL ngày 27 tháng
01 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Quảng Bình đã kết
luận “Không đủ cơ sở kết luận là thật hay giả do thiếu mẫu so sánh”.
- 01 (một) giấy “Đăng ký mô tô, xe máy” số 010767, tên chủ xe Nguyễn Thị
Thùy Gi, địa chỉ 25/87 N, TP H, biển số đăng ký 75K9-9729, đăng ký lần đầu ngày
21/09/2010 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Thừa Thiên Huế cấp. Theo
Kết luận giám định số 196/KL-KTHS-TL ngày 27 tháng 01 năm 2022 của Phòng Kỹ
thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Quảng Bình đã kết luận giấy “Đăng ký mô tô, xe
máy” trên là thật nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Ba Đồn đã chuyển cho
Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Thừa Thiên để xử lý theo quy định của pháp
luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa không có lý do,
dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Người này đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, xét
việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ án nên Hội đồng xét
xử quyết định xét xử vắng mặt.
Trong vụ án này có người đàn ông bán số pháo trên cho bị cáo Nguyễn Trung
Th. Quá trình điều tra chưa xác định được lai lịch cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều
tra Công an thị xã Ba Đồn chưa có căn cứ xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 13/CT-VKSBĐ ngày 16 tháng 02 năm 2012 của Viện kiểm
sát nhân dân, tỉnh Quảng Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Trung Th về tội “Tàng trữ,
vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn giữ nguyên quan
điểm truy tố bị cáo Nguyễn Trung Th theo toàn bộ nội dung Bản cáo trạng, đã xem
xét, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử:
4
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung Th phạm tội “Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm”.
- Về hình phạt: áp dụng điểm g khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51;
khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo
Nguyễn Trung Th từ 25 (hai mươi lăm) đến 30 (ba mươi) tháng tù; thời hạn chấp hành
hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 31/12/2021.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
+ Đối với 05 (năm) hộp pháo nổ, mã ký hiệu “C0833”; 02 (hai) hộp pháo nổ,
mã ký hiệu “C0836” và 10 (mười) hộp pháo nổ, mã ký hiệu “C1759”. Tổng khối lượng
35,2kg (ba mươi lăm phẩy hai kilôgam) còn lại sau khi giám định. Tất cả được niêm
phong trong 02 thùng bìa cát - tông, màu vàng, được niêm phong theo quy định. Hiện
đang được bảo quản tại kho Vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn.
Đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47
Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
+ Đối với 02 (hai) túi ni-lon, màu đen, kích thước mỗi túi khoảng (63 x 76)cm
và 01 (một) túi ni-lon, màu đỏ, kích thước khoảng (60 x 90)cm, đều đã qua sử dụng;
hiện không còn giá trị sử dụng nên áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng
Hình sự tịch thu tiêu hủy.
+ Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu sơn đen bạc, BKS
75K9-9729, số khung “RLHJF180AY380529” số máy “JF27E-0430433” xe đã qua
sử dụng. Đây là phương tiện mà Nguyễn Trung Th đã sử dụng để vận chuyển pháo nổ
vào ngày 30/12/2021. Tài sản trên thuộc sở hữu của Nguyễn Trung Th, do Th mua lại
vào năm 2018 từ một cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ ở thành phố Đồng Hới (không
xác định được địa chỉ và người bán) và sử dụng cho đến nay. Theo Kết luận giám định
số 202/KL-KTHS-KT ngày 28 tháng 01 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09)
Công an tỉnh Quảng Bình, kết luận: “Số khung, số máy nguyên thủy của xe mô tô đeo
BKS 75K9-9729 đã bị đục phá, đóng lại; dãy ký tự “RLHJF180AY380529” đống trên
khung và dãy ký tự “JF27E-0430433” đóng trên máy không phải là các dãy ký tự
nguyên thủy. Quá trình giám định không tái hiện được số khung, số máy nguyên thủy
của xe mô tô đeo BKS 75K9-9729”. Do đó hiện không có cơ sở để xác minh làm rõ
nguồn gốc, chủ sở hữu của xe mô tô trên. Đây là công cụ, phương tiện phạm tội, không
xác định được chủ sở hữu theo quy định của pháp luật nên cần áp dụng điểm a khoản
1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch
thu sung vào ngân sách Nhà nước. Giao vật chứng này cho Công an thị xã Ba Đồn xử
lý theo quy định của pháp luật (Hiện các vật chứng này đang lưu giữ tại kho vật chứng
thuộc Công an thị xã Ba Đồn).
+ Đối với biển kiểm soát xe mô tô 75K9- 9729 đeo trên xe mô tô trên, theo Kết
luận giám định số 196/KL-KTHS-TL ngày 27 tháng 01 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật
hình sự (PC09) Công an tỉnh Quảng Bình đã kết luận “Không đủ cơ sở kết luận là thật
hay giả do thiếu mẫu so sánh”. Đây là vật chứng không còn giá trị sử dụng nên áp
dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy.
5
+ Đối với 01 (một) giấy “Đăng ký mô tô, xe máy” số 010767, tên chủ xe Nguyễn
Thị Thùy Gi, địa chỉ 25/87 Ng, thành phố H, biển số đăng ký 75K9-9729, đăng ký lần
đầu ngày 21/09/2010 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Thừa Thiên Huế
cấp. Theo Kết luận giám định số 196/KL-KTHS-TL ngày 27 tháng 01 năm 2022 của
Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Quảng Bình đã kết luận giấy “Đăng ký
mô tô, xe máy” trên là thật nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Ba Đồn đã
chuyển cho Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Thừa Thiên Huế để xử lý theo
quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Tuyên bị cáo phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của
pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo nhất trí toàn bộ nội dung Bản cáo trạng mà Viện kiểm sát
nhân dân thị xã Ba Đồn đã truy tố, quan điểm luận tội của Kiểm sát viên, không tranh
luận gì.
Lời nói sau cùng: bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện
kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm
quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng
như tại phiên tòa,bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hay khiếu
nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội:
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận, vào khoảng 17 giờ ngày 30/12/2021, bị cáo điều
khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade sơn màu đen, biển kiểm soát 75K9-9729,
có ghé vào một quán nước ven đường Quốc lộ 1A thuộc phường Quảng Thuận, thị xã
Ba Đồn. Quá trình ngồi uống nước tại quán thì có gặp một người đàn ông không quen
biết, không rỏ danh tính vào quán uống nước, hai bên trao đổi và thỏa thuận việc mua
bán pháo, bị cáo đã đồng ý và mua lại từ người đàn ông trên 10 (mười) hộp pháo loại
36 quả/hộp và 12 (mười hai) hộp pháo loại 09 quả/hộp, với tổng giá tiền là 18.000.000
đồng (mười tám triệu đồng). Sau khi mua được pháo, bị cáo điều khiển xe mô tô chở
toàn bộ số pháo trên về cất giấu tại nhà ở của mình. Đến khoảng 22 giờ ngày
30/12/2021, bị cáo lấy bớt ra 10 (mười) hộp pháo, loại 36 quả/hộp để vào trong một
túi nilon màu đỏ và 06 (sáu) hộp pháo, loại 09 quả/hộp để vào trong một túi nilon màu
đen rồi buộc lên xe mô tô biển kiểm soát 75K9-9729 và điều khiển xe chở đến quán
bán cháo gà của gia đình tại khu phố 2, phường B, thị xã B cất giấu thì bị lực lượng
Công an thị xã Ba Đồn phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ 16 (mười sáu) hộp pháo
cùng một số vật chứng có liên quan. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo,
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ 01 (một) túi ni-lon màu đen, bên trong có 06
6
(sáu) hộp pháo, loại 09 quả/hộp do bị cáo tự nguyện khai báo. Sự việc xảy ra mà bị
cáo trình bày giống như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba
Đồn truy tố đối với bị cáo.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm và hiện
trường nơi xảy ra vụ án, vật chứng đã thu giữ; phù hợp với lời khai của bị cáo trong
quá trình điều tra; các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án và được
tranh tụng tại phiên tòa; đúng như tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn
đã truy tố, quan điểm luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Hội đồng xét xử kết
luận hành vi của bị cáo Nguyễn Trung Th đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ, vận
chuyển hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 191
Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo Nguyễn Trung
Th đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với các loại hàng hóa Nhà nước
cấm lưu thông, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội . Vì vậy, cần phải có
hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo, nhằm đảm bảo răn đe, giáo dục riêng và
mang tính phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xử phạt tiền
30.000.000 đồng, về tội “Đánh bạc”, tại bản án hình sự sơ thẩm số 05/2017/HSST
ngày 13/4/2017. Quá trình chấp hành bản án cho đến ngày 30/12/2021, bị cáo mới nộp
được số tiền 4.000.000 đồng, vẫn đang thi hành hình phạt chính. Như vậy, bị cáo chưa
chấp hành xong hình phạt mà tiếp tục phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách
nhiệm hình sự thuộc trường hợp “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ
luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên
tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhận thức được hành vi sai trái của
mình, thuộc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai
báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài
ra, bị cáo có ông nội tên là Nguyễn Văn Th được Nhà nước phong tặng danh hiệu liệt
sỹ.
[5] Về hình phạt và hình phạt bổ sung:
Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội; các tình tiết
tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy: bị cáo đã bị
Tòa án xử phạt, chưa chấp hành xong Quyết định của bản án lại tiếp tục phạm tội, thể
hiện ý thức coi thường pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xử xét thấy cần áp dụng Điều 38
Bộ luật hình sự để xử phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian;
như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 191 Bộ luật Hình sự “Người phạm tội còn có
thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ,
cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”; theo các tài liệu,
chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa xác định bị cáo nghề nghiệp
buôn bán, thu nhập không ổn định, không có khả năng thi hành án. Do vậy, Hội đồng
xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
7
[6] Về vật chứng vụ án:
+ Đối với 05 (năm) hộp pháo nổ, mã ký hiệu “C0833”; 02 (hai) hộp pháo nổ,
mã ký hiệu “C0836” và 10 (mười) hộp pháo nổ, mã ký hiệu “C1759”. Tổng khối lượng
35,2kg (ba mươi lăm phẩy hai kilôgam) còn lại sau khi giám định. Tất cả được niêm
phong trong 02 thùng giấy cát tông, được đóng kín, gián giấy niêm phong có hình dấu
của Phòng Kỹ thuật hình sự và chữ ký của những người có liên quan. Hiện đang được
bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn. Đây là vật cấm tàng trữ, cấm
lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47
Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
+ Đối với 02 (hai) túi ni-lon, màu đen, kích thước mỗi túi khoảng (63 x 76)cm
và 01 (một) túi ni-lon, màu đỏ, kích thước khoảng (60 x 90)cm, đều đã qua sử dụng;
hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định tại
điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
+ Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu sơn đen bạc, BKS
75K9-9729, số khung “RLHJF180AY380529” số máy “JF27E-0430433” xe đã qua
sử dụng. Đây là phương tiện mà Nguyễn Trung Th đã sử dụng để vận chuyển pháo nổ
vào ngày 30/12/2021. Theo Kết luận giám định số 202/KL-KTHS-KT ngày 28 tháng
01 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Quảng Bình, thì số
khung, số máy xe mô tô trên không phải là số khung, số máy nguyên thủy; hiện không
tái hiện được số khung, số máy nguyên thủy. Do đó, không có cơ sở để xác minh làm
rõ nguồn gốc, chủ sở hữu của xe mô tô trên. Đây là công cụ, phương tiện phạm tội nên
cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ
luật Tố tụng Hình sự tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Giao vật chứng này cho
Công an thị xã Ba Đồn xử lý theo quy định của pháp luật (Hiện các vật chứng này
đang lưu giữ tại kho vật chứng thuộc Công an thị xã Ba Đồn).
+ Đối với biển kiểm soát xe mô tô 75K9- 9729 đeo trên xe mô tô trên, theo Kết
luận giám định số 196/KL-KTHS-TL ngày 27 tháng 01 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật
hình sự (PC09) Công an tỉnh Quảng Bình đã kết luận “Không đủ cơ sở kết luận là thật
hay giả do thiếu mẫu so sánh”. Đây là vật chứng không sử dụng được nên tịch thu tiêu
hủy là phù hợp với quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
+ Đối với 01 (một) giấy “Đăng ký mô tô, xe máy” số 010767, tên chủ xe Nguyễn
Thị Thùy Gi, địa chỉ 25/87 N, thành phố H, biển số đăng ký 75K9-9729, đăng ký lần
đầu ngày 21/09/2010 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Thừa Thiên Huế
cấp. Theo Kết luận giám định số 196/KL-KTHS-TL ngày 27 tháng 01 năm 2022 của
Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Quảng Bình đã kết luận giấy “Đăng ký
mô tô, xe máy” trên là thật nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Ba Đồn đã
chuyển cho Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Thừa Thiên để xử lý theo quy
định của pháp luật. Xét việc chuyển Đăng ký mô tô, xe máy của Cơ quan cảnh sát điều
tra Công an thị xã Ba Đồn là phù hợp với quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử
không xem xét thêm.
[7] Về hành vi liên quan khác: Trong vụ án này có người đàn ông bán số pháo
trên cho bị cáo Nguyễn Trung Th. Trong quá trình điều tra chưa xác định được lai lịch
8
cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Ba Đồn chưa có căn cứ xử lý. Cơ
quan Điều tra Công an thị xã Ba Đồn tiếp tục xác minh và xử lý khi có kết quả.
[8] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng
hình sự; khoản 1 Điều 21 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; buộc bị cáo
Nguyễn Trung Th phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân
sách Nhà nước.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có
quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333
Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1
Điều 52; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào các điểm a, c khoản 1 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều
136; khoản 1 Điều 329; các khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng
Hình sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 21 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về
“Mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án”.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung Th phạm tội "Tàng trữ, vận
chuyển hàng cấm".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung Th 25 (hai mươi lăm) tháng tù,
thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 31/12/2021.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Trung Th với thời hạn 45 ngày, kể từ ngày
tuyên án sơ thẩm (28/02/2022) để đảm bảo thi hành án, theo quyết định tạm giam của
Hội đồng xét xử.
3. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
4. Vật chứng vụ án:
Tịch thu tiêu hủy 05 (năm) hộp pháo nổ, mã ký hiệu “C0833”; 02 (hai) hộp pháo
nổ, mã ký hiệu “C0836” và 10 (mười) hộp pháo nổ, mã ký hiệu “C1759”. Tổng khối
lượng 35,2kg (ba mươi lăm phẩy hai kilôgam) còn lại sau khi giám định. Tất cả được
niêm phong trong 02 thùng giấy cát tông, được đóng kín, gián giấy niêm phong có
hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự và chữ ký của những người có liên quan. Hiện
đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn
(Vật chứng có đặc điểm mô tả cụ thể như Biên bản giao nhận vật chứng ngày
9
21/02/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Ba Đồn và Chi cục thi hành
án dân sự thị xã Ba Đồn).
Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) túi ni-lon, màu đen, kích thước mỗi túi khoảng (63 x
76)cm và 01 (một) túi ni-lon, màu đỏ, kích thước khoảng (60 x 90)cm.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Air
Blade, màu sơn đen bạc, BKS 75K9-9729, số khung “RLHJF180AY380529” số máy
“JF27E-0430433” xe đã qua sử dụng. Giao vật chứng này cho Cơ quan Công an thị xã
Ba Đồn xử lý theo quy định của pháp luật (Hiện vật chứng này đang lưu giữ tại kho
vật chứng thuộc Công an thị xã Ba Đồn).
Tịch thu tiêu hủy biển kiểm soát xe mô tô 75K9- 9729 đeo trên xe mô tô nhãn
hiệu Honda Air Blade, màu sơn đen bạc, số khung “RLHJF180AY380529”, số máy
“JF27E-0430433”.
5. Án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Trung Th phải chịu 200.000 đồng án phí hình
sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (28/02/2022); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản
án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án theo quy định pháp luật.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Quảng Bình; THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- VKSND tỉnh Quảng Bình;
- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình;
- VKSND thị xã Ba Đồn; (Đã ký)
- Công an thị xã Ba Đồn;
- Cơ quan THAHS Công an tx. Ba Đồn;
- Chi cục THADS thị xã Ba Đồn;
- Bị cáo, Phan Anh Đức
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- THA hình sự.
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng