Bản án số 08/2019/DS-PT ngày 12/04/2019 của TAND tỉnh Quảng Bình về đòi lại đất bị lấn chiếm
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 08/2019/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 08/2019/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 08/2019/DS-PT ngày 12/04/2019 của TAND tỉnh Quảng Bình về đòi lại đất bị lấn chiếm |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Quảng Bình |
| Số hiệu: | 08/2019/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 12/04/2019 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH QUẢNG BÌNH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 08/2019/DS - PT
Ngày: 12 - 4 - 2019
V/v đòi lại đất bị lấn chiếm
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phu
́
c thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Ông Nguyễn Văn Nghĩa
Các Thâ
̉
m pha
́
n: Bà Từ Thị Hải Dương
Ông Võ Bá Lưu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuận – Thẩm tra viên Tòa án nhân
dân tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Ngọc Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 4 năm 2019, tại phòng xét xử án dân sự Tòa án nhân dân tỉnh
Quảng Bình, xét xử phu
́
c thẩm công khai vụ án thụ lý số 10/2019/TLPT - DS ngày
11 tháng 3 năm 2019, về việc đòi lại đất bị lấn chiếm.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2019/DS – ST ngày 24 tháng 01 năm 2019
của Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số /2019/QĐ - PT ngày 02 tháng 4
năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đinh Anh L, sinh năm 1960
Trú tại: Tiểu khu L, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
Bà Đinh Thị T, sinh năm 1957
Trú tại: Thị trấn Q, huyện M, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
Ông Đinh Hữu B, sinh năm 1961
Trú tại: Xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
Ông Đinh Xuân H, sinh năm 1972
Trú tại: Tiểu khu L, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà T, ông B và ông H: Ông Đinh Anh L,
sinh năm 1960
2
Trú tại: Tiểu khu L, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình, có mặt (văn bản
uỷ quyền ngày 09/4/2018 ).
- Bị đơn: Ông Đinh Văn C, sinh năm 1953, bà Đinh Thị M, sinh năm 1952
Trú tại: Tiểu khu L, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình. Ông C có mặt, bà
M vắng mặt nhưng ủy quyền cho ông C tham gia tố tụng, theo văn bản ủy quyền
ngày 01/8/2018.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Nguyễn Khắc Ch -
Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Bình, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Bình
Địa chỉ: Thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình
Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Hồ Duy Ph – Phó trưởng
phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T, có mặt (văn bản ủy quyền ngày
17/8/2018).
- Người kháng cáo: Ông Đinh Văn C, sinh năm 1953
Trú tại: Tiểu khu L, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình. Ông C có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa thì nội
dung vụ án như sau:
Năm 2001, cụ Đinh K và cụ Cao Thị H (đã chết) là bố, mẹ của các nguyên
đơn Đinh Anh L, Đinh Thị T, Đinh Hữu B và Đinh Xuân H được Uỷ ban nhân dân
(viết tắt UBND) huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt
GCNQSDĐ) sản xuất lâm nghiệp với diện tích 50.000 m
2
và được cấp đổi vào
ngày 10/12/2008, vào sổ số H00097, tại thửa số 118, tờ bản đồ số 45 thị trấn Đ,
huyện T với diện tích 62.834m
2
, thời hạn sử dụng đến tháng 11/2051. Sau khi
được giao đất bố mẹ của các nguyên đơn sử dụng ổn định, không có tranh chấp.
Năm 2012, vợ chồng ông Đinh Văn C, bà Đinh Thị M là người được giao đất rừng
sản xuất liên với thửa đất của gia đình nguyên đơn đã xảy ra tranh chấp, vụ việc
được hòa giải thống nhất giữa hai gia đình (có biên bản xác định ranh giới của cán
bộ địa chính thị trấn Đ, cán bộ địa chính huyện T và cán bộ Sở Tài nguyên và Môi
trường đo đạc xác nhận). Năm 2017, ông Đinh Văn C làm đơn khiếu nại lên thị
trấn Đ và được UBND thị trấn Đ tổ chức hòa giải xác định lại ranh giới. Năm
2018, gia đình ông Đinh Văn C khai thác, đốn hạ và trồng lại cây trên diện tích đất
của gia đình nguyên đơn nên nguyên đơn làm đơn trình lên UBND thị trấn Đ giải
quyết đã xác định ông C lấn chiếm 1.754,3 m
2
đất và đốn hạ 877 cây keo trên diện
3
tích đất nói trên của gia đình nguyên đơn. Số cây đã khai thác có đường kính từ 15
đến 18 cm, trung bình mỗi cây nặng 80kg, giá 1500 đồng/kg, thành tiền là
70.160.000đ (bảy mươi triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng). Hiện nay trên
1.754,3 m
2
đất tranh chấp ông C đã trồng lại cây keo, tràm khoảng 7 tháng tuổi.
Do đó các nguyên đơn yêu cầu Toà án buộc ông Đinh Văn C, bà Đinh Thị M phải
trả lại đất đã lấn chiếm 1.754,3 m
2
và bồi thường 877 cây đã đốn hạ có trị giá
70.160.000 đồng.
Ông Đinh Văn C, bà Đinh Thị M trình bày: Năm 2001, UBND huyện T cấp
GCNQSD đất vào sổ 29/QSDĐ/TT cho bà Đinh Thị M với diện tích 2,75 ha
(27.500 m
2
) đất trồng rừng tại thửa 101, tờ bản đồ số 91 thôn L (hiện nay là tiểu
khu L), thị trấn Đ, huyện T. Quá trình sử dụng, gia đình ông bà có tranh chấp đất
với hộ gia đình ông Đinh Minh Ng vào năm 2007; năm 2012 tranh chấp đất với hộ
gia đình ông Đinh Anh L và được cán bộ địa chính UBND thị trấn Đ, cán bộ trung
tâm kỷ thuật địa chính tỉnh Quảng Bình, cán bộ phòng Tài nguyên và Môi trường
huyện T hoà giải thành. Năm 2012, ông L khai thác cây và không thực hiện đúng
theo biên bản hoà giải ngày 27/6/2012. Năm 2018 do bão làm gãy đổ cây nên ông
bà thuê người dọn cây theo đất của ông, bà được xác định như trong biên bản hoà
giải ngày 27/6/2012. Ngày 02/4/2018 cán bộ UBND thị trấn Đ đến thực địa xác
định ranh giới nhưng không đúng với ranh giới ngày 27/6/2012 mà hai hộ gia đình
đã thống nhất nên ông C, bà M không nhất trí. Nay các nguyên đơn khởi kiện yêu
cầu ông trả lại 1.754,3 m
2
đất, vợ chồng ông bà không đồng ý, vì gia đình ông bà
sử dụng đúng diện tích đất như trong GCNQSD đất được cấp năm 2001 và trong
biên bản hoà giải ngày 27/6/2012.
Tại Bản tự khai ông Hồ Duy Ph là người đại diện theo uỷ quyền của Uỷ ban
nhân dân huyện T trình bày: Thực hiện Nghị định số163/1999/NĐ-CP ngày
16/11/1999 về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá
nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp: Qua kiểm tra quy trình,
hồ sơ, thủ tục trình tự giao đất và cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp cho các hộ gia đình,
cá nhân trên địa bàn thị trấn Đ. Ngày 02/11/2001 hộ bà Đinh Thị M được UBND
huyện T cấp GCNQSDĐ số P900993, tại lô số 01, khoảnh 1, tiểu khu số 91, trạng
thái rừng 1c, rừng trồng sản xuất, diện tích 27.500 m
2
tại tiểu khu L, thị trấn Đ,
huyện T.
Ngày 02/11/2001 hộ cụ Đinh K được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ số
P900124, tại lô đất số 2.52, khoảnh 2, tiểu khu số 91, trạng thái rừng 1c, rừng
trồng sản xuất, diện tích 50.000 m
2
, tại tiểu khu L, thị trấn Đ.
Ngày 10/12/2008 hộ cụ Đinh K, cụ Cao Thị H được cấp đổi GCNQSDĐ tại
thửa đất số 118, tờ bản đồ số 45, loại đất rừng sản xuất với diện tích 62.834 m
2
,
4
địa chỉ thửa đất 9/12 tiểu khu L, thị trấn Đ. Hộ gia đình bà Đinh Thị M không
được cấp đổi GCNQSD đất lâm nghiệp vì đất đang có tranh chấp vụ việc lúc đó
đang được Tòa án thụ lý giải quyết.
Qua kiểm tra hồ sơ, bản đồ và các loại sổ sách, quá trình giao đất và cấp
GCNQSD đất lâm nghiệp năm 2001 so với cấp đổi lại GCNQSD đất năm 2008
của gia đình cụ Đinh K, cụ Cao Thị H và hộ bà Đinh Thị M thì: Trước đây hộ cụ
K được cấp đất diện tích 5 ha, hộ bà Đinh Thị M được cấp 2,75 ha. Năm 2007
thực hiện dự án đo đạc cấp đổi GCNQSD đất thửa đất của hộ cụ Đinh K được đo
đạc cấp đổi thành thửa đất số 118, diện tích 6,28 ha. Ranh giới thửa đất được các
hộ giáp ranh ký tên xác nhận đầy đủ (trong đó có hộ ông C bà M). Thửa đất của bà
M chưa thực hiện cấp đổi là do thời điểm đó ông C và bà M đang còn tranh chấp
với đất của ông Ng. Đất của ông C, bà M theo bản đồ đo đạc năm 2008, diện tích
khoảng 3,2 ha. Như vậy so với bản đồ năm 2001, hai thửa đất của hai hộ đều tăng
lên. Qua kiểm tra xác định 2.318 m
2
đất hộ ông C bà M lấn chiếm của cụ K. Ông
Hồ Duy Ph đại diện UBND huyện T đề nghị hai hộ gia đình nên thoả thuận để có
hướng giải quyết cụ thể.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 04/2019/DS-ST ngày 24/01/2019 Toà án nhân
dân huyện Tuyên Hóa đã quyết định:
Tuyên bố: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Tranh chấp quyền sử dụng
đất” của ông Đinh Anh L đối với hộ ông Đinh Văn C, bà Đinh Thị M.
1. Áp dụng Điều 166, Điều 189, Điều 190 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều
135 và Điều 203 Luật Đất đai năm 2013 xử: Buộc bị đơn ông Đinh Văn C, bà
Đinh Thị M phải trả lại cho nguyên đơn ông Đinh Anh L toàn bộ diện tích đất mà
ông C, bà M đã lấn chiếm và trồng cây keo là 2318,8 m
2
tại thửa đất số 118, tờ bản
đồ số 45; địa chỉ thửa đất: Tiểu khu L, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình. Có vị
trí các cạnh:
- Phía Bắc giáp Quốc lộ 12A.
- Phía Nam giáp đất ông Đinh K.
- Phía Tây giáp đất ông Đinh K.
- Phía Đông giáp đất bà Đinh Thị M.
(Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 25/12/2018 và sơ đồ bản vẽ
hiện trạng sử dụng đất của Trung tâm phát triển quỹ đất huyện T có trong hồ sơ vụ
án).
2. Về tài sản trên đất: Ông Đinh Anh L được sở hữu toàn bộ số cây keo
trồng trên toàn bộ diện tích 2318,8 m
2
đất bị lấn chiếm. Buộc ông Đinh Anh L phải
có nghĩa vụ trả lại giá trị tiền cây keo là 4.568.000 đồng (bốn triệu năm trăm sáu
5
mươi tám nghìn đồng) cho hộ ông Đinh Văn C, bà Đinh Thị M theo kết quả của
Hội đồng định giá ngày 25/12/2018.
3. Về chi phí thẩm định và định giá tài sản: Áp dụng Điều 157, Điều 158,
Điều 165 và khoản 1 Điều 166 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 buộc hộ ông
Đinh Văn C, bà Đinh Thị M phải chịu toàn bộ số tiền chi phí đo đạc, thẩm định tại
chỗ và định giá tài sản là 4.680.000đ (bốn triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng).
Toà án nhân dân huyện Tuyên Hoá trả lại số tiền còn thừa 1.320.000 đồng cho ông
Đinh Văn C.
Ông Đinh Anh L không phải chịu chi phí thẩm định tại chỗ và định giá tài
sản và được nhận lại toàn bộ số tiền đã nộp tạm ứng chi phí đo đạc, thẩm định và
định giá tài sản là 6.000.000 đ (sáu triệu đồng) tại Toà án nhân dân huyện Tuyên
Hoá.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần án phí và tuyên quyền
kháng cáo cho các đương sự
Ngày 31 tháng 01 năm 2019 bị đơn ông Đinh Văn C kháng cáo toàn bộ bản
án sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Tuyên Hoá với nội dung không chấp nhận
bản án sơ thẩm về việc không chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn; xóa giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 118, tờ bản đồ số 45, buộc ông L trả lại
phần đất lấn chiếm sai phạm 12.834 m
2
cho gia đình bà M, ông C; làm rõ tờ bản đồ
số 45, thị trấn Đ, huyện T xem cá nhân, tập thể nào lập, sơ đồ sai lệch bí ẩn làm
ảnh hưởng của gia đình ông C 12.834 m
2
có liên quan đến lợi ích nhóm hay tiêu
cực không.
Ngày 25 tháng 02 năm 2019, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình nhận được
đơn phản tố của ông Đinh Văn C, bà Đinh Thị M với nội dung: Yêu cầu cấp phúc
thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm; yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số H 00097 ngày 10/12/2008 của UBND huyện T cấp cho cụ K, cụ H
tại thửa số 118, tờ bản đồ số 45 thị trấn Đồng Lê; không chấp nhận đơn khởi kiện
của ông Đinh Anh L.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn giữ nguyên đơn khởi kiện, bị đơn giữ
nguyên đơn kháng cáo và cho rằng bản án sơ thẩm buộc vợ chồng bị đơn trả lại
diện tích đất cho ông Đinh Anh L là không đúng và đề nghị xem xét việc ông bà
phải chịuh án phí sơ thẩm, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc
giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa phúc
thẩm phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm các đương sự và người tiến
hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

6
- Về nội dung: Đề nghi
̣
Hô
̣
i đồng xe
́
t xư
̉
không chấp nhận đơn kháng cáo
của bị đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm, đồng thời sửa lại nội dung buộc ông C,
bà M trả lại đất đã lấn chiến cho các nguyên đơn và miễn án phí cho bị đơn.
Sau khi xem xét nội dung kháng cáo, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã
được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; kết quả tranh luận, ý kiến của kiểm sát
viên; nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Ngày 24 tháng 01 năm 2019 Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa xét xử
sơ thẩm vụ án số 04/2019/DS – ST về đòi lại đất bị lấn chiếm, ngày 31 tháng 01
năm 2019 bị đơn ông Đinh Văn C làm đơn kháng cáo, đơn kháng cáo của bị đơn
làm trong hạn luật định, đã nộp đủ tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đúng quy định
tại Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự nên chấp nhận để xét xử phúc
thẩm.
[2] Vợ chồng cụ Đinh K, cụ Cao Thị H sinh hạ được 04 người con chung
gồm ông Đinh Anh L, bà Đinh Thị T, ông Đinh Hữu B và ông Đinh Xuân H, hai
cụ không có con riêng. Cụ Đinh K chết năm 2018, cụ Cao Thị H chết năm 2016,
hai cụ không để lại di chúc, bố mẹ của hai cụ đều đã chết trước hai cụ. Ngày 03
tháng 7 năm 2018 ông Đinh Anh L, bà Đinh Thị T, ông Đinh Hữu B và ông Đinh
Xuân H khởi kiện yêu cầu ông Đinh Văn C, bà Đinh Thị M trả lại đất đã lấn chiếm
của cụ K, cụ H (ông B, ông H và bà T ủy quyền cho ông L tham gia tố tụng) là
đúng quy định. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm tuyên chấp nhận đơn khởi kiện của một
mình ông L và buộc ông C, bà M phải trả lại 2.318,8 m
2
đất tại thửa số 118, tờ bản
đồ số 45 tiểu khu L, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình cho một mình ông Đinh
Anh L là không đúng, đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp
pháp của bà Đinh Thị T, ông Đinh Hữu B và ông Đinh Xuân H.
[3] Ngày 02/11/2001 vợ chồng cụ Đinh K, cụ Cao Thị H là bố mẹ của các
nguyên đơn trong vụ án được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ số P900124 tại
thửa số 2.52, khoảnh 2, tiểu khu số 91 với diện tích 50.000 m
2
tại tiểu khu L, thị
trấn Đ. Cùng thời gian trên bà Đinh Thị M được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ
số P900993 tại thửa số 01, khoảnh 1, tiểu khu số 91 với diện tích 27.500 m
2
tại
tiểu khu L, thị trấn Đ.
[4] Năm 2008 vợ chồng cụ Đinh K, cụ Cao Thị H được UBND huyện T cấp
đổi lại GCNQSDĐ số AO 541506 tại thửa 118, tờ bản đồ số 45 với diện tích
62.834 m
2
tại thửa đất 9/12 tiểu khu L, thị trấn Đ. Việc cấp đổi GCNQSDĐ của cụ
K, cụ H được thực hiện đúng quy định, có các hộ liền kề xác nhận rõ ranh giới
7
trong đó có gia đình ông C, bà M ký xác nhận. Do đang có tranh chấp đất với hộ
ông Đinh Minh Ng nên đến nay bà Đinh Thị M, ông Đinh Văn C chưa được cấp
đổi GCNQSDĐ.
[5] Kháng cáo của ông Đinh Văn C về việc không chấp nhận Tòa án cấp sơ
thẩm chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn thấy: Tại Biên bản xác định ranh
giới, mốc giới thửa đất theo hiện trạng sử dụng của cụ Đinh K do UBND thị trấn
Đồng Lê lập ngày 05 tháng 8 năm 2007 thì ông Đinh Văn C là hộ sử dụng đất liền
kề với diện tích đất của cụ K đã ký xác nhận ranh giới giữa hai thửa đất (BL 132).
Tại biên bản thẩm định tại chổ ngày 25 tháng 12 năm 2018 của Tòa án cấp sơ
thẩm xác định ông C, bà M đã trồng cây lấn chiếm sang diện tích đất của cụ K, cụ
H 2.318,8 m
2
. Theo yêu cầu của bị đơn ông Đinh Văn C ngày 02/4/2019 Tòa án
cấp phúc thẩm đã tiến hành thẩm định lại thửa đất tranh chấp, cụ thể diện tích đất
của ông Đinh Văn C, bà Đinh Thị M thực tế đang sử dụng 32.815,3m
2
(trong đó
có 2.624.4m
2
đất hành lang lưới điện đã được đền bù). Căn cứ vào tờ bản đồ số 45
thị trấn Đ và tọa độ được xác định trên GCNQSDĐ của UBND huyện T đã cấp
cho cụ Đinh K, cụ Cao Thị H thì ông C, bà M đã trồng cây lấn chiếm 2.349,9m
2
đất của cụ K, cụ H, ranh giới giữa hai thửa đất được xác định qua hai lần thẩm
định đều giống nhau, riêng diện tích tranh chấp thẩm định lần sau cao hơn lần
trước nhưng tại phiên tòa các đương sự nhất trí lấy số liệu Tòa án cấp sơ thẩm đã
thẩm định để giải quyết nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận số liệu này. Từ
các nội dung trên thấy kháng cáo của ông Đinh Văn C không chấp nhận kết quả
xét xử của bản án sơ thẩm là không có cơ sở.
[6] Đối với kháng cáo yêu cầu xóa GCNQSDĐ tại thửa số 118, tờ bản đồ
số 45 thị trấn Đồng Lê và buộc ông Đinh Anh L trả lại 12.834 m
2
cho ông C, bà M
thấy: Ông C, bà M là bị đơn trong vụ án nhưng quá trình giải quyết ở cấp sơ thẩm
ông bà không làm đơn yêu cầu phản tố theo Điều 200 của Bộ luật tố tụng dân sự
để yêu cầu hủy GCNQSDĐ tại thửa số 118, tờ bản đồ số 45 thị trấn Đồng Lê nên
cấp phúc thẩm không có căn cứ để xem xét yêu cầu này. Nếu ông C, bà M thấy có
đủ chứng cứ thì ông bà có quyền khởi kiện ở một vụ án khác theo đúng quy định
của pháp luật. Đối với yêu cầu buộc ông Đinh Anh L trả lại 12.834 m
2
Hội đồng
xét xử thấy: Qua hai lần thẩm định tại chổ, căn cứ vào tờ bản đồ số 45 thị trấn Đ
và tọa độ được xác định trong GCNQSDĐ của cụ K, cụ H và các hộ liền kề thì yêu
cầu này của ông C không có cơ sở để chấp nhận.
[7] Kháng cáo yêu cầu làm rõ tờ bản đồ số 45, thị trấn Đ, huyện T xem cá
nhân, tập thể nào lập, sơ đồ sai lệch bí ẩn làm ảnh hưởng của gia đình ông C
12.834 m
2
có liên quan đến lợi ích nhóm hay tiêu cực không thấy: Nội dung kháng

8
cáo này của ông Đinh Văn C không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nên
Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Đối với đơn phản tố đề ngày 21 tháng 02 năm 2019 của ông Đinh Văn
C yêu cầu cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm; yêu cầu hủy một phần giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số H 00097 ngày 10/12/2008 của UBND huyện T
cấp cho cụ K, cụ H tại thửa số 118, tờ bản đồ số 45 thị trấn Đ; không chấp nhận
đơn khởi kiện của ông Đinh Anh L thấy: Đơn này ông Đinh Văn C ghi đơn phản
tố nhưng các nội dung trong đơn ghi tượng tự các nội dung trong đơn kháng cáo
và đã được nhận định ở mục [6] nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Từ các phân tích tại các mục [5], [6], [7] và [8] nêu trên thấy không có
căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông Đinh Văn C. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc
thẩm ông Đinh Văn C trình bày một số yêu cầu về kháng cáo, các nội dung này
không vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu, mặt khác bản án sơ thẩm tuyên chấp
nhận đơn khởi kiện của một mình ông L và buộc ông C, bà M phải trả lại 2.318,8
m
2
đất tại thửa số 118, tờ bản đồ số 45 tiểu khu L, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Quảng
Bình cho một mình ông Đinh Anh L là không đúng, đã làm ảnh hưởng nghiêm
trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Đinh Thị T, ông Đinh Hữu B và ông
Đinh Xuân H nên cần sửa bản án sơ thẩm buộc ông C, bà M phải trả lại cho các
đồng nguyên đơn 2.318,8 m
2
đất
tại thửa số 118, tờ bản đồ số 45 tiểu khu L, thị
trấn Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình.
[10] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về chi phí thẩm định, định giá
tài sản không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời
hạn kháng cáo, kháng nghị. Đối với yêu cầu thẩm định, định giá ở cấp phúc thẩm
chi phí hết số tiền 4.980.000 đồng, do ông Đinh Văn C yêu cầu thẩm định nhưng
không được Tòa án chấp nhận nên ông C phải chịu toàn bộ chi phí này (ông C đã
nộp đủ toàn bộ số tiền chi phí thẩm định, định giá).
[11] Ông Đinh Văn C kháng cáo không được Tòa án cấp phúc thẩm chấp
nhận theo quy định thì phải chịu án phí dân sự phúc thẩm nhưng ông C là người
cao tuổi nên được miễn toàn án phí dân sự phúc thẩm. Tòa án cấp sơ thẩm buộc
ông C, bà M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm là không đúng quy
định, do đó cần sửa án sơ thẩm theo hướng miễn toàn bộ án phí sơ thẩm cho ông
C, bà M. Các nguyên đơn ông Đinh Anh L, bà Đinh T, ông Đinh Hữu B và ông
Đinh Xuân H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm những phải chịu 288.000
đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Tại phiên tòa phúc thẩm ông Đinh Anh
L xin chịu toàn bộ 288.000 đồng án phí thay cho các nguyên đơn, việc ông L xin
chịu toàn bộ án phí là hoàn toàn tự nguyện nên Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự
nguyện này.
9
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165, Điều 272, Điều 273, khoản 2
Điều 308 và khoản 2 Điều 309 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 166, Điều 189 và
Điều 191 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 135 và Điều 203 Luật đất đai; tiết 4
điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm b khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH
14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Đinh Văn C về việc không chấp
nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn; xóa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại
thửa 118, tờ bản đồ số 45, buộc ông Liệu trả lại phần đất lấn chiếm sai phạm
12.834 m
2
cho gia đình bà M, ông C; làm rõ tờ bản đồ số 45, thị trấn Đ, huyện T
xem cá nhân, tập thể nào lập, sơ đồ sai lệch bí ẩn làm ảnh hưởng của gia đình ông
C 12.834 m
2
đất có liên quan đến lợi ích nhóm hay tiêu cực không.
2. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2019/DS - ST nga
̀
y 24 tháng 01 năm
2019 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Bình.
Buộc ông Đinh Văn C, bà Đinh Thị M trả lại cho ông Đinh Anh L, bà Đinh
T, ông Đinh Hữu B và ông Đinh Xuân H 2.318,8 m
2
đất tại thửa số 118, tờ bản đồ
số 45 tiểu khu L, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình (thửa đất Uỷ ban nhân dân
huyện T cấp cho cụ Đinh K, cụ Cao Thị H là bố mẹ của các nguyên đơn trong vụ
án). Có sơ đồ thửa đất kèm theo bản án
3. Về tài sản trên đất: Ông Đinh Anh L, bà Đinh Thị T, ông Đinh Hữu B và
ông Đinh Xuân H được sở hữu toàn bộ số cây keo trồng trên 2.318,8 m
2
đất ông C,
bà M lấn chiếm nhưng có nghĩa vụ trả 4.568.000 đồng (bốn triệu năm trăm sáu
mươi tám nghìn đồng) giá trị toàn bộ cây keo cho ông Đinh Văn C, bà Đinh Thị
M.
4. Ông Đinh Văn C, bà Đinh Thị M phải chịu 4.680.000 đồng chi phí thẩm
định, định giá ở cấp sơ thẩm và 4.980.000 đồng chi phí thẩm định ở cấp phúc
thẩm. Ông C, bà M đã nộp đủ toàn bộ số tiền này.
5. Về án phí: Ông Đinh Văn C, bà Đinh Thị M được miễn toàn bộ án phí
dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại cho ông Đinh Văn C 300.000
đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0003697 ngày 13 tháng 02 năm
2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T. Chấp nhận sự tự nguyện của ông
Đinh Anh L xin chịu 288.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch nhưng thay
cho các đồng nguyên đơn, được trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí ông L đã

10
nộp tại biên lai số 0003642 ngày 01 tháng 8 năm 2018 của Chi cục Thi hành án
dân sự huyện T, ông L được nhận lại 72.000 đồng.
Tuyên bố: Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án,
bên có nghĩa vụ thi hành án phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với
thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo khoản 2
Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi
hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 12/4/2019.
Nơi nhâ
̣
n: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- TANDCC tại Đà Nẵng; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh QB (P9);
- TAND huyện Tuyên Hóa;
- Chi cục THADS huyện Tuyên Hóa;
- Các đương sự; (đã ký)
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
Nguyễn Văn Nghĩa

11
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 13/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 11/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 09/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 08/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 08/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 08/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 08/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 08/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 03/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 03/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm