Bản án số 07/2024/HS-ST ngày 06/03/2024 của TAND huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 07/2024/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 07/2024/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 07/2024/HS-ST ngày 06/03/2024 của TAND huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Văn Quan (TAND tỉnh Lạng Sơn) |
| Số hiệu: | 07/2024/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 06/03/2024 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN QUAN
TỈNH LẠNG SƠN
Bản án số: 07/2024/HS-ST
Ngày 06-3-2024
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN QUAN, TỈNH LẠNG SƠN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nông Thị Mỹ Phước
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nông Văn Hưng
Bà Hoàng Thị Tuyết
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lương Thị Bích – Thẩm tra viên
Tòa án nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn tham
gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh
Lạng Sơn xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 05/2023/TLST-HS,
ngày 31 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
06/2024/QĐXXST-HS, ngày 23 tháng 2 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 20/11/1987 tại thị trấn B,
huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Số
225, đường K, khối phố L, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lái
xe; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không;
quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1961 và bà Lâm Yến X
sinh năm 1969; vợ là: Nguyễn Thị Phương T, sinh năm 1991 và 02 người con, sinh
năm 2017 và năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: chưa bị xử lý vi phạm
hành chính, xử lý kỷ luật. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/11/2023, tạm giam từ ngày
14/11/2023 đến ngày 03/01/2024 được thay thế biện pháp ngặn chặn bảo lĩnh đến
nay. Có mặt.
Bị hại: Ông Dương Thanh S (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Bùi Thị V, sinh năm 1955. Địa chỉ:
Thôn L, xã Đ, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

2
Người đại diện theo ủy quyền của bà Bùi Thị V: ông Dương Công G, sinh
năm 1975. Địa chỉ: Khối phố T, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt, có
đơn xin xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Dương Văn D, sinh năm 1974, trú tại Khu 2, xã T, huyện V, tỉnh
Lạng Sơn. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1961, trú tại Số 225, đường K, khối phố L,
thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
3. Bà Lâm Yến X, sinh năm 1969, trú tại Số 225, đường K, khối phố L, thị
trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
- Người làm chứng:
1. Hoàng Công C. Vắng mặt.
2. Nguyễn Anh T. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Ông Dương Văn D có chiếc xe ô tô khách 16 chỗ, biển kiểm soát 12B-
007.45. Ngày 27/10/2022 ông Dương Văn D đã ủy quyền cho ông Nguyễn Văn H
quản lý và sử dụng xe ô tô trên, theo giấy uỷ quyền ngày 27/10/2022, thời hạn uỷ
quyền từ ngày ký hợp đồng cho đến khi thực hiện xong công việc được ủy quyền.
Quá trình sử dụng xe ô tô biển kiểm soát 12B-007.45 đạt tiêu chuẩn hiện hành về
an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đến ngày 06/02/2024.
Khoảng 05 giờ 50 phút ngày 11/11/2023, Nguyễn Văn T (con trai ông
Nguyễn Văn H có giấy phép lái xe hợp lệ) điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 12B-
007.45 từ nhà tại thị trấn B đi hướng T - Đ, Nguyễn Văn T, trên xe có hành khách
là ông Hoàng Công C ngủ ở sau ghế lái. Khi đi đến km 43 + 318 quốc lộ 1B thuộc
địa phận thôn B, xã L, huyện V (là đoạn đường vòng cua về bên phải) Nguyễn Văn
T điều khiển xe ô tô 12B-007.45 đi lấn sang phần đường bên trái, khi qua hết cua
thì xảy ra tai nạn với xe mô tô biển kiểm soát 12S1-121.51 do ông Dương Thanh S
điều khiển đi ngược chiều. Bánh xe trước bên trái của xe ô tô va chạm với bánh xe
phía trước của xe mô tô dẫn đến nổ lốp cả 02 bánh xe. Phần đầu xe và gương chiếu
hậu của xe ô tô 12B-007.45 va chạm vào người làm ông Dương Thanh S cùng xe
mô tô biển kiểm soát 12S1-121.51 bị đổ sang lề đường bên phải (theo chiều đi của
ông Dương Thanh S), xe ô tô đi thêm 23m nữa thì dừng lại, lúc này một phần xe ô
tô biển kiểm soát 12B-007.45 vẫn ở phần đường bên trái hướng T - Đ, do thời tiết
nhiều sương mù, sợ sẽ xảy ra tai nạn tiếp nên Nguyễn Văn T đã điều khiển xe ô tô
lùi lại 06 mét để cho xe ô tô biển kiểm soát 12B-007.45 về phần đường bên phải
của mình, rồi Nguyễn Văn T và ông Hoàng Công C xuống xe kiểm tra thì thấy
người đàn ông nằm bất tỉnh ở cạnh đường, Nguyễn Văn T gọi điện cho ông

3
Nguyễn Văn H đang lái 01 xe ô tô khác ở phía sau đến đưa ông Dương Thanh S đi
cấp cứu, còn Nguyễn Văn T ở lại hiện trường đợi cơ quan chức năng đến giải
quyết. Hậu quả ông Dương Thanh S đã tử vong trên đường đưa đi cấp cứu, xe ô tô
và mô tô bị hư hỏng.
Kết luận giám định tử thi số 1118/KL-KTHS, ngày 13/11/2023 của Phòng
Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: “Nguyên nhân chết của ông
Dương Thanh S: Mất máu do vết thương vỡ lách”.
Kết luận giám định số 43/KL-KTHS ngày 26/11/2023 và Kết luận giám định
số 44/KL-KTHS ngày 29/11/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Lạng
Sơn kết luận: “Không tìm thấy Ethanol và các chất ma túy thường gặp (heroin,
morphine, methamphetamine, MDMA, ketamine, THC…) trong mẫu máu thu của
Dương Thanh S”.
Kết luận giám định kỹ thuật số 148/GĐKT-ĐK, ngày 10/12/2023 của Công
ty Cổ phần đăng kiểm xe cơ giới Lạng Sơn kết luận: “Xe ô tô biển số 12B-007.45,
khi xảy ra tai nạn các hệ thống an toàn của xe đầy đủ, hoạt động bình thường và
đảm bảo an toàn kỹ thuật; Xe mô tô biển số 12S1-121.51, khi xảy ra tai nạn các hệ
thống an toàn của xe đầy đủ, hoạt động bình thường và đảm bảo an toàn kỹ
thuật”.
Kết luận định giá tài sản số 19/KL-ĐGTSTTTHS, ngày 30/11/2023 của Hội
đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Văn Quan kết luận: “Xe ô tô
nhãn hiệu FORD, biển kiểm soát 12B-007.45 bị thiệt hại 15.850.000đ; xe mô tô
nhãn hiệu HONDA, biển số 12S1-121.51 bị thiệt hại 1.960.000 đồng”
Biên bản kiểm tra nồng độ cồn đối với Nguyễn Văn T là 0,00miligam/lít khí
thở; âm tính với chất ma túy.
Vật chứng, đồ vật đã thu giữ gồm: 01 xe ô tô biển kiểm soát 12B-007.45,
nhãn hiệu FORD, màu sơn: Bạc, số khung: RL3DLT4MFHCR63526, số máy:
H7P42528DURATORQ4D244L; 01 xe mô tô biển kiểm soát 12S1-121.51, nhãn
hiệu HONDA, màu sơn: Đen - đỏ, số khung: 3647GY110214, số máy:
JA36B0594270; 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi
trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số: EA1054576 của xe ô tô kiểm
số 12B-007.45 do Trung tâm đăng kiểm 11-02D, Công ty Trách nhiện hữu hạn
đăng kiểm tỉnh Cao Bằng cấp ngày 07/8/2023; 01 Giấy phép lái xe hạng D, số:
200111201851 mang tên Nguyễn Văn T do Sở Giao thông vận tải tỉnh Lạng Sơn
cấp ngày 25/5/2021; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 12000114, mang tên
Dương Văn D, do Công an huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn cấp ngày 28/12/2022;
01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự xe ô tô số: OTOBB22
0123248, chủ xe Dương Văn D do Công ty Cổ phần bảo hiểm Viễn Đông cấp ngày
03/01/2023; Các mảnh nhựa vỡ màu trắng, xanh, đen; Vỏ nhựa cụm gương chiếu
hậu bên trái và mặt kính gương chiếu hậu bên trái xe ô tô biển số 12B-007.45; Vỏ
đèn gầm phía trước bên trái xe ô tô 12B-007.45; 01 mũ bảo hiểm nhãn hiệu
INDEX, màu xanh - đỏ; 01 thẻ nhớ màu đen, dung lượng 64GB, nhãn hiệu
HIKVISION, được niêm phong trong phong bì thư dán kín có chữ ký của những

4
người liên quan và hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Văn
Quan.
Tại bản Cáo trạng số 07/CT-VKS ngày 29/01/2024 của Viện kiểm sát nhân
dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn truy tố Nguyễn Văn T, về tội “Vi phạm quy
định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260
Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội,
thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Quan truy tố bị cáo
đúng người, đúng tội, không oan. Dó đó có cơ sở xác định: Khoảng 05 giờ 50 phút
ngày 11/11/2023, Nguyễn Văn T điều khiển xe ô tô biển kiểm soát biển kiểm soát
12B-007.45 đi theo hướng T- Đ, khi đi đến km 43 + 318 quốc lộ 1B thuộc địa phận
thôn B, xã L, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, do không chấp hành quy định khi tham gia
giao thông đường bộ, nên đã gây tai nạn với xe mô tô biển kiểm soát 12S1-121.51
do ông Dương Thanh S điều khiển đi ngược chiều. Hậu quả ông S tử vong trên
đường đưa đi cấp cứu. Sau sự việc xảy ra bị cáo đã tác động gia đình thỏa thuận
bồi thường cho gia đình bị hại các khoản gồm: bồi thường tính mạng, mai táng phí,
mua xe máy mới và tổn thất tinh thần với tổng số tiền là 216.500.000đ. Việc bồi
thường là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc. Đối với chiếc xe mô tô 12S1-
121.51 bị thiệt hại là 1.960.000 đồng, bị cáo đã bồi thường tiền để mua xe máy mới
cho bị hại, nay được sự nhất trí của đại diện bị hại, bị cáo yêu cầu trả chiếc xe mô
tô trên cho bị cáo. Đối với xe ô tô biển kiểm soát 12B-007.45, 01 Giấy chứng nhận
đăng ký xe ô tô, 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự xe ô tô
là của ông Dương Văn D, nay bị cáo đề nghị trả lại cho ông Dương Văn D; 01
Giấy phép lái xe hạng D, số: 200111201851 mang tên Nguyễn Văn T đền nghị trả
lại cho bị cáo.
Bà Bùi Thị V và người đại diện theo uỷ quyền là ông Dương Công G (là vợ
và con ông Dương Thanh S) vắng mặt tại phiên toà nhưng trong các biên bản lời
khai tại Cơ quan điều tra khai: Khoảng 08 giờ ngày 11/11/2023 biết tin ông Dương
Thanh S đang trên đường từ thị trấn Đ, huyện C về nhà tại Thôn L, xã Đ, huyện B
thì xảy ra tai nạn với xe ô tô do Nguyễn Văn T điều khiển, dẫn đến ông Dương
Thanh S tử vong. Sau khi xảy ra sự việc gia đình Nguyễn Văn T đã thăm hỏi, hỗ
trợ tiền mai táng phí và thoả thuận bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại về tính
mạng, tổn thất tinh thần và tiền để mua xe máy mới với tổng số tiền 216.500.000đ.
Việc thoả thuận bồi thường là tự nguyện, có sự nhất trí của bà Bùi Thị V và Dương
Công G. Nay gia đình bị hại không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự cho bị cáo Nguyễn Văn T. Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm
soát 12S1-121.51 mang tên đăng ký là Bùi Thị V, ông Dương Thanh S điều khiển
va chạm với xe ô tô của Nguyễn Văn T, gia đình đã được bị cáo bồi thường tiền để
mua 01 chiếc xe mô tô mới. Nay bà Bùi Thị V và Dương Công G đề nghị trả lại
chiếc xe mô tô trên cho Nguyễn Văn T nên được chấp nhận. Đối với 01 mũ bảo
hiểm đã bị hư hỏng đề nghị tịch thu tiêu huỷ.
Dương Văn D vắng mặt tại phiên toà nhưng trong biên bản lời khai tại Cơ
quan điều tra khai: Năm 2017 ông mua 01 ô tô khách 16 chỗ, biển kiểm soát 12B-

5
007.45 mục đích để kinh doanh, đăng ký tên ông là Dương Công D kèm theo 01
thẻ nhớ màu đen, dung lượng 64GB, nhãn hiệu HIKVISION. Ngày 27/10/2022
ông đã ủy quyền cho ông Nguyễn Văn H (bố của Nguyễn Văn T) quản lý và sử
dụng xe ô tô, có viết giấy uỷ quyền. Ông được biết ngày 11/11/2023 Nguyễn Văn
T điều khiển xe ô tô của ông gây tai nạn. Qua định giá thiệt hại chiếc xe là
15.850.000 đồng, ông không yêu cầu Nguyễn Văn T phải bồi thường số tiền trên.
Nay ông yêu cầu trả lại chiếc xe ô tô và thẻ nhớ để ông tự mang đi sửa chữa và tiếp
tục sử dụng, kinh doanh. Đối với các mảnh nhựa vỡ, vỏ nhựa cụm gương chiếu hậu
bên trái và mặt kính gương chiếu hậu bên trái, vỏ đèn gầm phía trước bên trái của
xe ô tô 12B-007.45 bị hư hỏng không còn giá trị sử dụng, đề nghị tịch thu tiêu huỷ.
Ông Nguyễn Văn H khai: Ngày 11/11/2023 Nguyễn Văn T (là con của ông)
điều khiển xe ô tô 12B-007.45 đi thành phố Lạng Sơn có việc. Ông và con trai là
Nguyễn Anh T điều khiển xe ô tô khách 12b-006.78 đi Cao Bằng. Đến 06 giờ thì
ông Nguyễn Văn H nhận được cuộc gọi của Nguyễn Văn T báo xảy ra tai nạn với
01 xe mô tô tại địa bàn xã L, huyện V. 10 phút sau ông đi đến nới xảy ra tai nạn thì
thấy 01 người đàn ông bị thương nằm bên lề đường, xe mô tô đổ cạnh đó. Ông
Nguyễn Văn H bảo Nguyễn Anh T dừng xe cùng mọi người đưa nạn nhân đi cấp
cứu tại Trạm y tế xã L. Do vết thương nặng nên cán bộ y tế xã bảo phải chuyển nạn
nhân lên Bệnh viện huyện V. Khi đang đi trên đường thì ông mới nhận ra nạn nhân
là người quen tên là Dương Thanh S, đi đến Trung tâm y tế huyện V thì được bác
sĩ thông báo nạn nhân đã tử vong, gia đình ông đã hỗ trợ đưa nạn nhân về nhà mai
táng. Sau sự việc xảy ra hai bên gia đình đã tự thoả thuận bồi thường cho bị hại
tổng số tiền là 216.500.000 đồng. Đối với xe ô tô 12B-007.45 do ông Dương Văn
D đã uỷ quyền cho ông được quản lý, sử dụng, cho thuê, mượn, bán, tặng cho. Nay
ông yêu cầu trả lại xe ô tô cho ông D. Đối với số tiền 216.500.000 do vợ chồng
ông hỗ trợ bị cáo bồi thường cho bị hại là tự nguyện, nay ông không yêu cầu
Nguyễn Văn T trả lại số tiền này. Bà Lâm Yến X thống nhất với lời khai của ông
Nguyễn Văn H và không có yêu cầu gì.
Trong phần tranh luận, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa
vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông
đường bộ.
Áp dụng điểm a, khoản 1, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51;
Điều 50, 65 Bộ luật Hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn
T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, đề nghị xử phạt
bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử
thách từ 04 năm đến 05 năm. Áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo: Cầm hành
nghề lái xe trong thời hạn 01 năm.
Về xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c, khoản
2; điểm a, b khoản 3, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Trả lại cho ông
Dương Văn D 01 xe ô tô biển kiểm soát 12B-007.45, nhãn hiệu FORD, màu sơn:
Bạc, số khung: RL3 DLT4 MFHCR 63526, số máy: H7P 42528 DURATORQ 4
D244L; 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường

6
phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số: EA1054576 của xe ô tô kiểm số 12B-
007.45 do Trung tâm đăng kiểm 11-02D, Công ty Trách nhiện hữu hạn đăng kiểm
tỉnh Cao Bằng cấp ngày 07/8/2023; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số:
12000114, mang tên Dương Văn D, do Công an huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn
cấp ngày 28/12/2022; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự
xe ô tô số: OTOBB22 0123248, chủ xe Dương Văn D do Công ty Cổ phần bảo
hiểm V cấp ngày 03/01/2023; 01 thẻ nhớ màu đen, dung lượng 64GB, nhãn hiệu
HIKVISION, được niêm phong trong phong bì thư dán kín có chữ ký của những
người liên quan và hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Văn
Quan. Trả lại cho Nguyễn Văn T 01 xe mô tô biển kiểm soát 12S1-121.51, nhãn
hiệu HONDA, màu sơn: Đen - đỏ, số khung: 3647GY110214, số máy:
JA36B0594270; 01 Giấy phép lái xe hạng D, số: 200111201851 mang tên Nguyễn
Văn T do Sở G tỉnh Lạng Sơn cấp ngày 25/5/2021. Tịch thu tiêu hủy các mảnh
nhựa vỡ màu trắng, xanh, đen; Vỏ nhựa cụm gương chiếu hậu bên trái và mặt kính
gương chiếu hậu bên trái xe ô tô biển số 12B-007.45; Vỏ đèn gầm phía trước bên
trái xe ô tô 12B-007.45; 01 mũ bảo hiểm nhãn hiệu INDEX, màu xanh - đỏ.
Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số
tiền 216.500.000 đồng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung
ngân sách Nhà nước.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện
kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm
pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong
quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy
định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa
những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định
của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến
hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người đại diện hợp pháp của bị
hại, người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại, nhưng đều
có đơn xin xét xử vắng mặt; vắng mặt người làm chứng. Tại phiên tòa bị cáo, người
tham gia tố tụng khác và Kiểm sát viên không ai đề nghị hoãn phiên tòa nên Hội đồng
xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người nêu trên theo quy định Điều 292, 293
Bộ luật Tố tụng hình sự
[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra,
phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, kết luận

7
giám định pháp y về thương tích và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án
đã được thẩm tra tại phiên toà. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 05 giờ 50
phút ngày 11/11/2023, Nguyễn Văn T điều khiển xe ô tô biển kiểm soát biển kiểm
soát 12B-007.45 đi theo hướng T - Đ, khi đi đến km 43 + 318 quốc lộ 1B thuộc địa
phận thôn B, xã L, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, do không chấp hành quy định khi tham
gia giao thông đường bộ, nên đã gây tai nạn với xe mô tô biển kiểm soát 12S1-121.51
do ông Dương Thanh S điều khiển đi ngược chiều. Hậu quả ông S tử vong trên đường
đưa đi cấp cứu; thiệt hại xe ô tô là 15.850.000đ, thiệt hại xe mô tô là 1.960.000đ.
Hành vi của Nguyễn Văn T đã vi phạm: Khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ:
"Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn
đường, phần đường quy định". Khoản 1 Điều 17 Luật Giao thông đường bộ: "Trên
đường không phân chia thành hai chiều xe chạy riêng biệt, hai xe đi ngược chiều
tránh nhau, người điều khiển phải giảm tốc độ và cho xe đi về bên phải theo chiều xe
chạy của mình". Điểm a, khoản 1, Điều 38 Luật Giao thông đường bộ: “Người điều
khiển phương tiện và những người liên quan trực tiếp đến vụ tai nạn có trách
nhiệm sau đây: Dừng ngay phương tiện; giữ nguyên hiện trường”. Khoản 8, khoản
11, Điều 5, Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT, ngày 29/8/2019 quy định về các
trường hợp phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn: "8. Tránh xe
chạy ngược chiều; 11. Có sương mù". Bị cáo đủ tuổi và đủ năng lực chịu trách
nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm
quy định về tham gia giao thông đường bộ”, Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo điểm
a, khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[4] Về nhân thân: Bị cáo chưa bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính,
xử lý kỷ luật do đó là người có nhân thân tốt.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình
điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, tác
động gia đình thoả thuận bồi thường cho gia đình bị hại, là tình tiết giảm nhẹ theo
điểm b, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2
Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về hình phạt, bị cáo là người có thể chất phát triển bình thường, có đầy đủ
năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi điều khiển xe
mô tô sau khi đã sử dụng rượu, bia, lái xe không làm chủ tốc độ là vi phạm pháp luật.
Hành vi của bị cáo đã vi phạm Luật giao thông đường bộ, vi phạm các quy định của
Nhà nước về bảo vệ sức khỏe, tính mạng của con người, do đó cần xử phạt bị cáo một
mức án phù hợp với tính chất, mức độ hành vi cảu bị cáo gây ra để cải tạo bị cáo và
răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này
luôn chấp hành đúng chính sách pháp luật, trong thời gian tại ngoại không có hành vi
bỏ trốn hay tiếp tục vi phạm pháp luật. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội với lỗi
vô ý, tỏ ra ăn năn hối cải, cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51
Bộ luật hình sự, do đó cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với để thể hiện
sự khoan hồng của pháp luật. Căn cứ Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP-TANDTC,
ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn, quy
8
định về điều kiện cho hưởng án treo thì bị cáo có đủ điều kiện. Vì vậy, không cần bắt
bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội mà áp dụng khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự
cho bị cáo được hưởng án treo và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú
để giám sát, giáo dục cũng đủ điều kiện để giúp bị cáo trở thành công dân tốt có ích
cho gia đình và xã hội.
[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có nghề nghiệp là lái xe, công việc chính là
hành nghề lái xe khách, do vậy Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung đối với
bị cáo cấm hành nghề lái xe trong thời hạn 01 năm là phù hợp khoản 5 Điều 260
Bộ luật hình sự.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo và gia đình bị hại đã tự
nguyện thỏa thuận tiền bồi thường gồm: Thiệt hại tính mạng, chi phí mai táng, tổn
thất tinh thần và tiền mua xe mới cho gia đình bị hại với tổng số tiền là 216.500.000
đồng, nay gia đình bị hại không có yêu cầu gì thêm, do vậy Hội đồng xét xử xác nhận
việc bồi thường trên.
[9] Về vật chứng: 01 xe ô tô biển kiểm soát 12B-007.45, 01 Giấy chứng
nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ
giới đường bộ số: EA1054576 của xe ô tô kiểm số 12B-007.45 do Trung tâm đăng
kiểm 11-02D, Công ty Trách nhiện hữu hạn đăng kiểm tỉnh Cao Bằng cấp ngày
07/8/2023; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 12000114, mang tên Dương
Văn D, do Công an huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn cấp ngày 28/12/2022; 01 Giấy
chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự xe ô tô số: OTOBB22 0123248
và 01 thẻ nhớ nay bị cáo và ông Nguyễn Văn H, ông Dương Văn D đều yêu cầu trả
lại cho ông Dương Văn D là có căn cứ, cần được chấp nhận. Các mảnh nhựa vỡ
màu trắng, xanh, đen; Vỏ nhựa cụm gương chiếu hậu bên trái và mặt kính gương
chiếu hậu bên trái xe ô tô biển số 12B-007.45; Vỏ đèn gầm phía trước bên trái xe ô
tô 12B-007.45; 01 mũ bảo hiểm nhãn hiệu INDEX, màu xanh - đỏ, đã bị hư hỏng
không còn giá trị sử dụng bị cáo đề nghị tịch thu tiêu huỷ cần được chấp nhận. Đối
với 01 xe mô tô biển kiểm soát 12S1-121.51, nhãn hiệu HONDA của bị hại Dương
Thanh S bị hư hỏng thiệt hại với số tiền là 1.960.000đ, bị cáo và gia đình đã tự
nguyện bồi thường số tiền 15.000.000đ cho gia đình bị hại để mua xe máy mới,
người đại diện theo pháp luật cho bị hại cũng nhất trí trả lại chiếc xe này cho bị
cáo, nay bị cáo yêu cầu trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12S1-121.51 và 01
Giấy phép lái xe hạng D, số: 200111201851 mang tên Nguyễn Văn T do Sở G tỉnh
Lạng Sơn cấp ngày 25/5/2021 là có căn cứ, cần được chấp nhận
[10] Đối với ông Dương Văn D uỷ quyền cho ông Nguyễn Văn H để quản lý,
sử dụng chiếc xe ô tô biển kiểm soát 12B-007.45 mục đích để kinh doanh, đăng ký
tên ông là Dương Văn D từ ngày 27/10/2022, vẫn thuộc quyền sở hữu của ông
Dương Văn D, việc xảy ra tai nạn khiến chiếc xe bị thiệt hại về tài sản là
15.850.000 đồng, tuy nhiên ông không yêu cầu bồi thường, đây là sự tự nguyện
của ông Dương Văn D, không bị ép buộc. Nay ông yêu cầu trả lại chiếc xe ô tô để
ông tiếp tục sử dụng và kinh doanh là có cơ sở, được chấp nhận.
9
[11] Đối với ông Nguyễn Văn H là người giao xe cho Nguyễn Văn T điều
khiển, Nguyễn Văn T là người có giấy phép lái xe, đủ năng lực, hành vi để điều
khiển xe, việc xảy ra tai nạn ông Nguyễn Văn H hoàn toàn không biết, do vậy không
có căn cứ xử lý đối với ông Nguyễn Văn H.
[12] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt cũng như các
vấn đề khác phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[13] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm
theo quy định, không phải chịu án phí dân sự có giá ngạch do bị cáo và gia đình bị
hại đã thoả thuận bồi thường xong trong giai đoạn điều tra. Bị cáo, người đại diện
hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo
theo quy định định tại các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1, 5 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 47;
Khoản 1 Điều 50; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ khoản 1, điểm c, khoản 2; điểm a, b khoản 3 Điều 106; các Điều
292; 293; 331; 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định
về tham gia giao thông đường bộ”
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 (Hai) năm tù cho hưởng
án treo. Thời gian thử thách 04 (Bốn) năm. Thời gian chấp hành án tính từ ngày
tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng
Sơn để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử
thách nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự
02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù
của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi
nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo Nguyễn Văn T hành nghề lái xe trong thời
hạn 01 năm, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
3. Về xử lý vật chứng:
3.1 Trả lại cho ông Dương Văn D 01 xe ô tô biển kiểm soát 12B-007.45; 01
Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện
giao thông cơ giới đường bộ số: EA1054576 của xe ô tô kiểm số 12B-007.45 do
Trung tâm đăng kiểm 11-02D, Công ty Trách nhiện hữu hạn đăng kiểm tỉnh Cao
Bằng cấp ngày 07/8/2023; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 12000114,
mang tên Dương Văn D, do Công an huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn cấp ngày
28/12/2022; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự xe ô tô số:
10
OTOBB22 0123248 và 01 thẻ nhớ màu đen, dung lượng 64GB, nhãn hiệu
HIKVISION.
3.2. Trả cho bị cáo Nguyễn Văn T 01 Giấy phép lái xe hạng D, số:
200111201851 mang tên Nguyễn Văn T do Sở G tỉnh Lạng Sơn cấp ngày 25/5/2021
và 01 xe mô tô biển kiểm soát 12S1-121.51, nhãn hiệu HONDA số khung:
3647GY110214, số máy: JA36B0594270.
3.3. Tịch thu tiêu huỷ: Các mảnh nhựa vỡ màu trắng, xanh, đen; Vỏ nhựa
cụm gương chiếu hậu bên trái và mặt kính gương chiếu hậu bên trái xe ô tô biển số
12B-007.45; Vỏ đèn gầm phía trước bên trái xe ô tô 12B-007.45; 01 mũ bảo hiểm
nhãn hiệu INDEX, màu xanh - đỏ
(Các vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự
huyện V, tỉnh Lạng Sơn theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 31/01/2024).
4. Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị cáo đã bồi thường xong cho gia đình
bị hại theo biên bản giao nhận tiền ngày 30/11/2023.
5. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự
sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên đến vụ án
có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời
hạn trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại
vắng mặt có quyền kháng cáo bản án, người có lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án
vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Toà án tỉnh Lạng Sơn; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Lạng Sơn;
- Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND huyện Văn Quan;
- Công an huyện Văn Quan;
- Chi cục THADS huyện V;
- Bị cáo và những người TGTT khác;
- Lưu HS + Tổ HCTP. Nông Thị Mỹ Phước
11
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nông Văn Hưng
Hoàng Thị Tuyết
Nông Thị Mỹ Phước
12
TÒA ÁN
NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN QUAN
TỈNH LẠNG SƠN
–––––––––––––
Số: 02/2023/TB-TA
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
___________________________________
Văn Quan, ngày 11 tháng 8 năm 2023
13
QUYẾT ĐỊNH
SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN
Căn cứ các điều 45, 260 và 261 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Xét thấy Bản án hình sư sơ thẩm số: 27/2023/HS-ST, ngày 28 tháng 7 năm
2023 của Tòa án nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn, có nhầm lẫn trong khi
đánh máy cần được sửa chữa, bổ sung như sau:
1. Từ dòng thứ 20 từ trên xuống, trang 01 của bản án sơ thẩm nêu trên đã
ghi: “...Ngày 24 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Quan,
tỉnh Lạng Sơn …”.
Nay sửa chữa, bổ sung như sau:
“...Ngày 28 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Quan,
tỉnh Lạng Sơn …”.
2. Từ dòng thứ 24, 25 từ trên xuống, trang 03 của bản án sơ thẩm nêu trên đã
ghi: “Tại bản Cáo trạng số 25/CT-VKS ngày 02/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân
huyện Văn Quan truy tố Nông Thế Linh, về tội …”
Nay sửa chữa, bổ sung như sau:
Tại bản Cáo trạng số 25/CT-VKS ngày 02/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân
huyện Văn Quan đã truy tố bị cáo Linh Thế Nội, về tội …”
Nơi nhận: THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn;
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn;
- Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND H. Văn Quan, T. Lạng Sơn;
- Công an H.Văn Quan, T. Lạng Sơn;
- CC THADS H. Văn Quan, T. Lạng Sơn;
- Bị cáo và những người TGTT khác;
- Lưu HS + Tổ HCTP
Nông Thị Mỹ Phước
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Bản án số 80/2026/KDTM-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 22/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 16/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Bản án số 16/2026/KDTM-PT ngày 14/02/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 14/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm