Bản án số 07/2024/HNGĐ-ST ngày 10/05/2024 của TAND huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 07/2024/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 07/2024/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 07/2024/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 07/2024/HNGĐ-ST ngày 10/05/2024 của TAND huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Văn Quan (TAND tỉnh Lạng Sơn) |
| Số hiệu: | 07/2024/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 10/05/2024 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con chung |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN QUAN
TỈNH LẠNG SƠN
Bản án số: 07/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 10-5-2024
V/v Tranh chấp Ly hôn,
nuôi con chung
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN QUAN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hường
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bành Văn Dân
Bà Nguyễn Thị Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn tham
gia phiên toà: Ông Nông Quang Thịnh - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Quan,
tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số:
15/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024 về việc tranh chấp Ly hôn,
nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXXST-
HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số:
05/2024/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nông Thị P, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Thôn N, xã Y,
huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt
- Bị đơn: Anh La Văn T, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Thôn N, xã Y, huyện
V, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 28/02/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ
án, nguyên đơn Nông Thị P trình bày:
Chị Nông Thị P và anh La Văn T quen biết nhau từ năm 2009 khi cùng
nhau đi làm ở Bắc Ninh, đến năm 2011 thì yêu nhau và tháng 01/2013 được hai
bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương, đăng ký kết hôn
ngày 21/01/2013 tại UBND xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Sau khi kết hôn vợ
2
chồng chung sống ở thôn N, xã Y, huyện V cùng gia đình chồng, cuộc sống ban
đầu hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì. Từ năm 2016 mâu thuẫn vợ chồng phát
sinh do ghen tuông, anh La Văn T nhiều lần bạo hành, đánh đập chị Nông Thị P,
năm 2020 chị Nông Thị P đã nộp đơn xin ly hôn anh La Văn T nhưng sau đó lại
rút đơn để vợ chồng đoàn tụ. Tuy nhiên, anh La Văn T không thay đổi cách sống
nên vợ chồng ngày càng mâu thuẫn trầm trọng, không còn yêu thương, quan tâm
đến nhau nữa, chị Nông Thị P sống và làm việc ở thành phố L còn anh La Văn T
gần đây sống chủ yếu ở thôn N, xã Y, huyện V, thi thoảng mới ra thành phố. Nay
xác định tình cảm không còn, chị Nông Thị P yêu cầu được ly hôn với anh La
Văn T. Về con chung: Có 02 con chung tên là La Đình C, sinh ngày 03/02/2014 và
La Thị Ngọc D, sinh ngày 06/10/2020. Khi ly hôn chị Nông Thị P yêu cầu được
trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu La Thị Ngọc D; anh La
Văn T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu La Đình C cho
đến khi các con đủ 18 tuổi, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung,
vay nợ chung: Không có
Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai ngày 09/4/2024 bị đơn La Văn T trình
bày: Anh La Văn T và chị Nông Thị P quen biết, yêu nhau và kết hôn với nhau
như chị Nông Thị P đã trình bày. Sau khi kết hôn thì vợ chồng hạnh phúc, thi
thoảng có mâu thuẫn nhưng không có gì nghiêm trọng. Gần đây do vợ chồng
không thống nhất được quan điểm nên xảy ra mâu thuẫn, có lần bực tức nên anh
La Văn T có tát chị Nông Thị P một hai lần chứ không thường xuyên. Anh La
Văn T vẫn có tình cảm với chị Nông Thị P nên mong muốn đoàn tụ, nếu chị
Nông Thị P kiên quyết ly hôn thì anh La Văn T nhất trí. Về con chung: Có 02 con
chung tên là La Đình C và La Thị Ngọc D như chị Nông Thị P đã trình bày. Khi ly
hôn thì anh La Văn T yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục cháu La Đình C, chị Nông Thị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục cháu La Thị Ngọc D cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Không ai
phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, vay nợ chung: Không có.
Toà án nhân dân huyện Văn Quan đã tiến hành xác minh tình trạng hôn
nhân của đương sự. Tại công văn số 199/CV-UBND ngày 18/3/2024 của UBND
xã Y, huyện V cho biết: Anh La Văn T và chị Nông Thị P kết hôn và chung sống
tại thôn N, xã Y, huyện V, sau đó chị Nông Thị P làm việc và sinh sống ở thành
phố L. Trong thời gian chung sống anh La Văn T và chị Nông Thị P không có
mâu thuẫn cãi vã gì ảnh hưởng đến gia đình phải nhờ đến Tổ hòa giải của thôn
can thiệp. Tại Công văn số 180/UBND-CV số ngày 29/3/2024, UBND xã T,
huyện V cho biết chị Nông Thị P và anh La Văn T đăng ký kết hôn tại UBND xã
T, tại sổ đăng ký kết hôn quyển số 01/2013, số thứ tự: 03/2013 đăng ký ngày
21/01/2013, sau khi kết hôn chị Nông Thị P và anh La Văn T sinh sống và có hộ
khẩu thường trú ở thôn N, xã Y, huyện V. Tại biên bản xác minh ngày 26/3/2024,
ông La Văn K (là bố đẻ của anh La Văn T) trình bày: Anh La Văn T và chị Nông
Thị P được gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương năm
2013, sau khi lấy nhau thì chung sống với bố mẹ chồng ở thôn N, xã Y, huyện V,
cuộc sống vợ chồng hạnh phúc không có mâu thuẫn gì, gần đây ông La Văn K có
nghe kể vợ chồng có mâu thuẫn, cãi cọ với nhau nhưng về vấn đề gì thì ông La
3
Văn K không biết. Tại biên bản lấy lời khai con chưa thành niên ngày 14/3/2024
cháu La Đình C cho biết hiện nay cháu đang học và sống cùng mẹ tại thành phố
L, trường hợp bố mẹ ly hôn thì cháu sống cùng ai cũng được vì cháu đều yêu cả
bố và mẹ.
Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng
cứ và hòa giải vào ngày 02/4/2024 để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc
giải quyết vụ án, tuy nhiên anh La Văn T vắng mặt, chị Nông Thị P có đơn đề
nghị Toà án không hòa giải vụ án nên Tòa án chỉ tiến hành phiên họp kiểm tra
việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Từ khi thụ lý vụ
án đến trước khi xét xử, Thẩm phán đã tiến hành tố tụng đúng trình tự thủ tục,
hướng dẫn đương sự viết tự khai, lấy lời khai đương sự, tiến hành xác minh thu
thập chứng cứ, tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát
nghiên cứu đúng quy định. Quá trình tiến hành tố tụng tại phiên tòa Thẩm phán,
Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp
luật tố tụng; bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do, không chấp hành quy
định của pháp luật tố tụng.
Về quan điểm giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng
xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Nông Thị P, xử cho chị Nông Thị P được ly hôn
anh La Văn T. Về con chung, giao cháu La Đình C, sinh ngày 03/02/2014 cho
anh La Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, giao cháu La
Thị Ngọc D sinh ngày 06/10/2020 cho chị Nông Thị P trực tiếp trông nom, chăm
sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con đủ 18 tuổi, không ai phải cấp
dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung do đương sự trình bày không
có nên không giải quyết. Về án phí, buộc chị Nông Thị P phải chịu án phí hôn
nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra
tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng
xét xử nhận định:
[2] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con chung, bị
đơn có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn N, xã Y, huyện V, tỉnh Lạng Sơn
nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Văn Quan theo quy
định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ
luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ
hai nhưng đều vắng mặt không có lý do, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt
nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt cả nguyên đơn, bị đơn theo quy
định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
4
[3] Về quan hệ hôn nhân, xét thấy chị Nông Thị P và anh La Văn T có quen
biết, yêu nhau, tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn ngày
21/01/2013 tại UBND xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn nên quan hệ hôn nhân là hợp
pháp. Nguyên đơn trình bày vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn từ năm 2016
đến nay, nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu do vấn đề bạo hành gia đình, chị Nông
Thị P đã một lần nộp đơn xin ly hôn, sau đó lại rút đơn về đoàn tụ nhưng không
cải thiện được quan hệ vợ chồng. Anh La Văn T cũng thừa nhận vợ chồng có mâu
thuẫn và có xảy ra bạo lực gia đình nhưng không thường xuyên, trường hợp chị
Nông Thị P kiên quyết ly hôn thì anh La Văn T nhất trí. Toà án đã mở phiên họp
kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải nhưng anh La
Văn T không có mặt tham gia phiên họp, không tham gia phiên toà, thể hiện anh
La Văn T không có nguyện vọng đoàn tụ, không có biện pháp để hàn gắn quan hệ
vợ chồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nông
Thị P và anh La Văn T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên
chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nông Thị P.
[4] Về con chung: Chị Nông Thị P và anh La Văn T có 02 con chung là La
Đình C, sinh ngày 03/02/2014 và La Thị Ngọc D, sinh ngày 06/10/2020. Khi ly
hôn chị Nông Thị P và anh La Văn T đều yêu cầu giao cháu La Đình C cho anh La
Văn T, giao cháu La Thị Ngọc D cho chị Nông Thị P trực tiếp trông nom, chăm
sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con đủ 18 tuổi, không bên nào phải cấp
dưỡng nuôi con chung. Yêu cầu của chị Nông Thị P và anh La Văn T phù hợp với
nguyện vọng của cháu La Đình C tại biên bản lấy lời khai ngày 14/3/2024 nên Hội
đồng xét xử chấp nhận. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đi lại
thăm nom con chung, không ai được cản trở. Khi cần thiết hai bên đương sự có
quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con
theo quy định của pháp luật.
[5] Về tài sản chung, vay nợ chung: Không xem xét giải quyết do các bên
đương sự đều trình bày không có.
[6] Về án phí: Chị Nông Thị P là nguyên đơn có yêu cầu ly hôn, không yêu
cầu miễn án phí nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định
của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy
định tại các Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1
Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; các
Điều 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia
đình.
5
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử
cho chị Nông Thị P được ly hôn anh La Văn T.
2. Về con chung: Giao cháu La Đình C, sinh ngày 03/02/2014 cho anh La
Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao cháu La Thị
Ngọc D sinh ngày 06/10/2020 cho chị Nông Thị P trực tiếp trông nom, chăm sóc,
nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Không ai phải cấp dưỡng
nuôi con chung. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đi lại, thăm
nom con chung không ai được cản trở. Khi cần thiết, hai bên đương sự có quyền
yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy
định của pháp luật.
3. Về tài sản chung, vay nợ chung: Không có.
4. Về án phí: Chị Nông Thị P phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân
gia đình sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước. Xác nhận chị Nông Thị P đã nộp
đủ số tiền nêu trên theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003193
ngày 08 tháng 3 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Lạng Sơn.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết
theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND H. Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn
- CCTHADS H. V, tỉnh Lạng Sơn.
- UBND xã T, H.Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn;
- Các đương sự;
- Lưu: HS + Tổ HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hoàng Thị Thu Hường
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 24/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 17/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 11/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 07/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 06/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 31/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 31/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 31/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 31/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 30/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 30/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm