Bản án số 06/2024/HS-ST ngày 05/03/2024 của TAND huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 06/2024/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 06/2024/HS-ST ngày 05/03/2024 của TAND huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Văn Quan (TAND tỉnh Lạng Sơn)
Số hiệu: 06/2024/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 05/03/2024
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Vụ án Hủy hoại rừng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN QUAN
TỈNH LẠNG SƠN
Bản án số: 06/2024/HS-ST
Ngày 05-3-2024
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN QUAN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:ng Thị Mỹ Phước
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hoàng Hương Liễu.
Bà Nông Th Vân Đip.
- Thư ký phiên tòa:Hà Thị Bích Liên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn
tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 29 tháng 02 ngày 05 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa
án nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai ván
hình sự thụ số: 01/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2024 theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2024,
Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2024/HSST-ngày 31/01/2024, Quyết định
tm ngng phiên tòa số: 01/2024/QĐ-ST, ngày 29 tháng 02 năm 2024 đối với bị
cáo:
Đưng Văn S (Tên gi khác: Kng), sinh ngày 20/10/1956 tại L,
huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng hộ khẩu thường trú và chỗ hiện nay:
Thôn N, L, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn
hóa: Lớp 03/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt
Nam; con ông Đường Văn B Hoàng Thị C (đều đã chết); vợ là: Đàm Thị
N 06 người con, con lớn sinh năm 1981, nhỏ sinh năm 1995; tiền án, tiền sự:
Không; nhân thân: chưa bị xử lý vi phạm hành chính, xử kỷ luật. Bo bị áp
dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/10/2023 đến nay. mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Lương Thị Hương L Trợ giúp viên pháp
lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
- Nguyên đơn dân sự:
Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Người đại diện theo pháp luất
bà Lương Mai T, chức vụ: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân (UBND) huyện V, tỉnh
Lạng Sơn. Người đại diện theo uỷ quyền: Ông La Mạnh H, Chuyên viên Phòng
2
Nông nghiệp phát triển nông thôn huyện V (Theo văn bản số 2538/UBND
NN ngày 04/12/2023 của Chủ tịch UBND huyện V, tỉnh Lạng Sơn). Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ủy ban nhân dân L, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Người đại diện theo
pháp luật: Ông Hứa Văn Đ, chức vụ: Chủ tịch UBND L, huyện V, tỉnh Lạng
Sơn. Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Hoàng Minh T, Công chức địa chính
xây dựng L (Theo văn bản số 289/UBND ngày 29/11/2023 của Chủ tịch
UBND xã L, huyện V, tỉnh Lạng Sơn). Có mặt.
2. Anh Nông n T, sinh năm 1989, địa chỉ: Thôn N, xã L, huyện V, tỉnh
Lạng Sơn. Có mặt.
3. Anh Nông n L, sinh năm 1979, địa chỉ: Thôn N, xã L, huyện V, tỉnh
Lạng Sơn. Có mặt.
4. Anh Đường Văn H, sinh năm 1983, địa chỉ: Thôn N, L, huyện V,
tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho anh Đường Văn H:
Lương Thị Hương L - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà
nước tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
5. Nông Thị D, địa chỉ: Thôn N, L, huyện V, tỉnh Lạng Sơn.
mặt.
6. Người định giá tài sản: Ông Hoàng Xuân H, chuyên viên Phòng tài
chính Kế hoạch huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các i liệu có trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Gia đình Đường Văn S thửa đất số 92, tờ bản đồ số 02 bản đồ lâm
nghiệp L, rừng Lầy Nặm Lìn, thôn N, L, huyện V, do cha ông để lại, S
quản sử dụng ttrước năm 1994, hiện tại chưa khai để cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất.
Gia đình Nông Văn T Nông Văn L (ở thôn N) đều đất tại rừng Lầy
Nặm Lìn, thôn N, L, huyện V, do cha ông để lại tại các thửa s61 số 91,
tờ bản đồ số 02 bản đồ lâm nghiệp L (năm 2011). Năm 2011 đã được Ủy ban
nhân dân huyện V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Do muốn trồng rừng phát triển kinh tế, khoảng tháng 3 năm 2023, Đường
Văn S đã một mình mang theo dao, cưa tay đến các thửa đất số 61, 91, 92 tại
rừng Lầy Nặm Lìn ở thôn N, L chặt, phá cây rừng tự nhiên. Đến tháng 6 năm
2023, Đường Văn S bảo con trai là Đường Văn H lên khu rừng Lầy Nặm Lìn
tiếp tục chặt phá cây rừng tnhiên. Tại biên bản xác định hiện trường ngày
23/08/2023 xác định: Tổng diện tích rừng tự nhiên bị chặt, phá 9.574,1m2,
khối lượng gỗ bị chặt là 9,414m3. Trong đó: Diện tích 5.328,1m2 thuộc thửa đất
số 61, 91, 92, khối lượng gỗ bchặt 7,866m3 (hiện trường số 02, số 03);
3
diện ch 4.246m2 thuộc thửa đất số 92, tờ bản đồ số 02 bản đồ lâm nghiệp
Lương Năng, có khối lượng gỗ bị chặt là 1,548m3 (hiện trường số 05). Bị cáo tự
mình chặt phát rừng, không bàn bạc, thống nhất với các thành viên trong gia
đình. Đường Văn H được bị cáo bảo hộ phát rừng cũng không biết việc bị cáo
không xin phép quan nhà nước thẩm quyền trước khi chặt phá. Diện tích
Đường n H tham gia chặt phá cây rừng tự nhiên được c định tn 1.345m
2
(nằm trong một phần hiện trường số 05), khối lượng gỗ bị thiệt hại 0,755m
3
thuộc thửa đất số 92.
Đối với một phần diện ch 2.655,1m
2
thuộc thửa số 61, đã được bị o
trồng cây keo tnăm 2022 (hiện trường số 01).
Một phần diện tích 2.837,5m
2
thuộc thửa đất số 91 hiện đã được bịo trồng
y bạch đàn từ đầu năm 2023 (hiện trường số 04)
Tại Kết luận giám định pháp trong lĩnh vực lâm nghiệp số 02-
2023/KL/GĐCN ngày 05/10/2023 Kết luận giám định bổ sung trong lĩnh vực
lâm nghiệp số 05-2023/KL/GĐCN ngày 09/11/2023 của ông Kiềng Mạnh H
Giám định viên tư pháp theo vụ việc, kết luận:
* Diện tích bị chặt, phá 9.574,1m
2
, khối lượng gỗ bị chặt 9,414m
3
,
trong đó:
Din tích 5.328,1m
2
tọa độ X: 416868, Y: 2415935, thuc lô 5, 8, lô
9, 11 khonh 8 tiu khu 269b, thuc các tha s 61, 91, 92 t bản đồ lâm
nghip L năm 2011, thuộc quy hoch rng sn xut rng t nhiên rng
thưng xanh, trng thái rng nghèo kit, hiu TXK; khối lượng g thông
thưng Nhóm (IV-VIII) b chặt đo đếm được ti hiện trưng trên din tích
5.328,1m
2
7,866m
3
, tương đương khối lượng 14,763m
3
/ha. (n cứ theo Ngh
định 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 ca Chính ph quy định chi tiết thi
hành mt s điu ca Lut Lâm nghip; Ph lc I, phân chia trng thái rng
(Ban hành kèm theo Thông tư số 33/2018/TT-BNN&PTNT, ngày 16/11/2018 ca
B Nông nghip Phát trin nông thôn quy định v điu tra, kim theo
dõi din biến rng) thì din tích cây b cht phá là thuc rng t nhiên lá
rộng thường xanh, có trng thái là: Rng nghèo kit (ký hiu là TXK), tr ng
t 10 m
3
đến 50 m
3
/ha).
Din tích 4.246m
2
ta độ X: 416820, Y: 2415900, thuc 8 khonh 8
tiu khu 269b, thuc thửa đt s 92 t bản đồ s 02 bản đồ lâm nghip L
(năm 2011) trng thái là din tích có cây g tái sinh núi đất, chưa thành rừng, ký
hiu DT2, khối lượng g thông thường Nhóm (IV-VIII) b cht phá 1,548m
3
,
tương đương 3,646 m
3
/ha. (Căn cứ theo Ngh định 156/2018/NĐ-CP ngày
16/11/2018 ca Chính ph quy định chi tiết thi hành mt s điu ca Lut Lâm
nghip; Ph lc I, phân chia trng thái rừng (Ban hành kèm theo Thông số
33/2018/TT-BNN&PTNT, ngày 16/11/2018 ca B Nông nghip Phát trin
4
nông thôn Quy định v điu tra, kim kê và theo dõi din biến rng) thì din tích
cây b cht phá trng thái : Rừng chưa trữ ng (ký hiu TXP),
tr ợng dưới10 m
3
/ha hoc din tích cây g tái sinh núi đt (ký hiu
DT2) tr ng dưới 10 m
3
/ha. Căn c đim b, khoản 1, điều 11 Thông s
29/2018 ngày 16/11/2018 ca B Nông nghip và Phát trin nông thôn quy đnh
v các biện pháp lâm sinh “Diện tích đất chưa rng, thc cây bi, cây
g ri rác và cây g tái sinh mục đích có chiều cao trên 0,5 m vi s ợng dưới
500 cây/ha không có kh năng phục hi thành rng có giá tr kinh tế” thuộc đối
ợng được trng mi rng sn xut, v trí din tích 4.246 m
2
mật độ 136
cây/ha).
Về 02 vị trí đã bị chặt phá, đốt dọn khác trong biên bản xác định hiện
trường (hiện trường số 01, 04), qua xem xét, kiểm tra thực tế hiện trường, kết
luận:
Vị trí 01: Diện tích chặt phá, đốt dọn 2.655,1m
2
thuộc 5, khoảnh 8
tiểu khu 269b, thuộc thửa đất số 61, tờ bản đsố 02 bản đồ m nghiệp L
năm 2011, đối chiếu với bản đồ điều chỉnh lại quy hoạch 3 loại rừng L theo
Quyết định số 687/QĐ-UBND ngày 24/4/2022 của UBND tỉnh Lạng Sơn thì
diện tích trên tại 5, khoảnh 8, tiểu khu 269b thuộc quy hoạch rừng sản xuất,
năm 2011 đã được UBND huyện V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
ông Nông Văn T.
Vị trí 02: Diện tích chặt phá, đốt dọn là 2.837,5 m
2
thuộc lô 11, khoảnh 8,
tiểu khu 269b, thuộc thửa đất số 91, tờ bản đsố 02 bản đồ m nghiệp L
(năm 2011), đối chiếu với bản đồ điều chỉnh lại quy hoạch 3 loại rừng xã L theo
Quyết định số 687/QĐ-UBND ngày 24/4/2022 của UBND tỉnh Lạng Sơn thì
diện tích trên tại 11, khoảnh 8, tiểu khu 269b thuộc quy hoạch rừng sản xuất,
năm 2011 đã được UBND huyện V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
ông Nông Văn L.
Trên diện tích bị chặt phá, đốt dọn,
hiện trường tại thời điểm giám định đã
bị o trộn, không còn nguyên vẹn, cây rừng đã bị chặt, phát, đốt dọn,c gốc cây
tự nhiên đã khô, mục; thân, cành không còn tại hiện trường. Phần diện tích này đã
được trồng keo từ năm 2022 và trồng bạch đàn đầum 2023 nên không xác định
khối lượng gỗ, loài gỗ cây rừng đã bị chặt phá, đốt dọn, không đủ căn cứ xác định
trạng thái rừng.
Diện tích rừng bị chặt phá 5.328,1m
2
tại lô 5, lô 8, lô 9, lô 11 khoảnh 8 tiểu
khu 269b, thuộc thửa số 61, 92, 91, tờ bản đồ số 02 bản đồ lâm nghiệp xã L (năm
2011) thuộc đối tượng được cải tạo rừng. (Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 8
Thông số 29/2018/TT-BNN&PTNT ngày 16/11/2018 của Bộ Nông nghiệp
Phát triển nông thôn quy định về các biện pháp lâm sinh).
Tại Kết luận định giá tài sản số 16/KL-ĐGTSTTTHS ngày 10/11/2023
của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V, kết luận: 9,414m
3
5
gỗ thuộc loài thông thường từ nhóm IV đến nhóm VIII có tổng trị giá 2.447.000
đồng. Không có cơ sở để xác định giá trị thiệt hại về môi trường.
Tại Kết luận định giá tài sản bổ sung số 06/KL-ĐGTSTTTHS ngày
04/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V, kết luận:
Giá trị thiệt hại đối với rừng tự nhiên do hành vi vi phạm pháp luật gây ra
6.135.000 đồng.
Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân L, huyện V, Phòng Nông
nghiệp Phát triển nông thôn huyện V Hạt Kiểm lâm huyện V xác định
Đường Văn S, Đường Văn H chặt, phá cây rừng để lấy đất trồng cây keo cây
bạch đàn không xin phép cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Vật chứng, đvật đã thu giữ gồm: 9,414m3 gỗ thu giữ tại hiện trường
trong đó 7,866m3 gỗ trên diện tích 5.328m2 và 1,548m3 gỗ trên diện tích
4.246m2 chưa thành rừng; 01 cưa tay bằng kim loại, chuôi bằng gỗ, chiều
dài 65cm, phần lưỡi cưa i 48cm, bản rộng 10cm, báng gỗ dài 17cm x 1,5cm;
01 con dao bằng kim loại, chuôi bằng gỗ, chiều dài 53cm, phần thân dao
bằng kim loại 35cm, bản rộng 4,5cm, chuôi dao bằng gỗ dài 20cm x 03cm.
Tại Bản cáo trạng số 04/CT-VKSVQ ngày 11/01/2024 của Viện kiểm sát
nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Đường Văn S về tội
Hủy hoại rừng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà bị cáo Đường Văn S thừa nhận hành vi phạm tội như trên,
khai nhận, hành vi hủy hoại rừng như o trạng truy tố ra trước Tòa đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật; không bị ép cung, nhục hình, bức cung trong
quá trình điều tra truy tố. Do bị cáo trình độ văn hoá thấp, nhận thức pháp luật
còn hạn chế, nay nhận thức được hành vi huỷ hoại rừng vi phạm pháp luật,
thành thật hối lỗi tự nguyện khắc phục được một phần hậu quả. Đối với các
vật chứng 01 cưa tay 01 con dao của bị cáo sử dụng vào việc chặt phá
cây rừng, bị cáo đề nghị tịch thu tiêu huỷ. Về trách nhiệm dân sự: Ngày
11/12/2023 b cáo Đường Văn S đã nộp số tiền 2.500.000 đồng ngày
05/3/2024 nộp số tiền 3.000.000 đồng để khắc phục hậu quả tại Chi cục Thi
hành án dân sự huyện V. Sau phiên toà bị cáo sẽ nộp số tiền còn lại 2.681.000
đồng.
Đường n H khai: Khoảng tháng 6 năm 2023 thấy bđẻ Đường n
S phát rừng để trồng cây keo, Đường Văn H đưa cơm, nước lên cho thì được
Đường Văn S bảo lên rừng hộ chặt cây, phát dọn thực bì. Trước khi chặt cây cả
02 bố con không được bàn bạc nên Đường Văn H không biết bị cáo Đường Văn
S xin phép cơ quan thẩm quyền hay không. Đường Văn H được tham gia
chặt cây rừng trên diện tích hơn 1.000m
2
. Sau sự việc xảy ra Cơ quan điều tra
triệu tập lên làm việc thì Đường Văn H mới biết bcáo Đường Văn S chưa xin
phép quan Nhà nước thẩm quyền, nay nhận thức hành vi chặt phá rừng tự
nhiên là vi phạm pháp luật, cam kết sẽ không tiếp tục vi phạm.
Nguyên đơn dân sự Uỷ ban nhân dân huyện V, đnghị bị cáo Đường
Văn S trách nhiệm đối với thiệt hại theo kết quả định giá nộp sung ngân
6
sách Nhà nước với tổng số tiền 8.180.000 đồng. Xin Hội đồng xét xử giảm
nhẹ hình phạt cho bị cáo Đường Văn S. Uỷ ban nhân dân L, huyn V hiện
đang bảo quản vật chng 9,414m3 gỗ, đề nghHội đồng t xử xử lý theo quy
định. ng Văn T và Nôngn L, Nông Thị D trình bày bịo Đườngn S chặt
phá y trên phần diện tích đất của 02 hộ gia đình ng n T Nông Văn L,
Nông ThD tại c thửa số 61 s91, tờ bản đồ số 02 bản đồ lâm nghiệp
Lương ng, đã được Ủy ban nhân n huyn V cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho hộ Nông Văn T và Nông Văn L, Nông Thị D, toàn bộ cây bị chặt phá
y rừng tự nhiên, chưa cây trồng của 02 hộ gia đình, do vậy nay hộ ng
Văn T Nông Văn L, ng Thị D kng yêu cầu và đề nghị.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh
Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên b bị
cáo Đường Văn S phạm tội Hủy hoại rừng.
V hình pht chính: Áp dụng đim b khoản 1 Điều 243; điểm b, s khon
1, khon 2 Điu 51; Điều 38, khon 1 Điều 47, 50, 65 B lut Hình s; đim a
khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 B lut T tng hình s, đề ngh:
V nh pht chính: X pht b cáo t 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù,
cho hưởng án treo, thi gian th thách t 02 năm đến 03 năm. V hình pht b
sung: Không áp dng, do b cáo không tài sn riêng, không thu nhp n
định để đảm bo thi hành án.
V trách nhim dân s: Đề ngh Hội đồng xét x công nhn s tha thun
gia nguyên đơn dân s UBND huyn V b cáo Đường Văn S v vic bi
thưng thit hi theo kết qu định giá tài sản 8.180.000đ. B cáo đã nộp tin
ti Chi cc Thi hành án dân s huyn V 5.500.000đ, bị cáo còn phi np
2.680.000đ để tr lại cho nguyên đơn dân sự.
V x vt chng: Giao cho y ban nhân dân L, huyn V, tnh Lng
Sơn quản lý, x đối vi 7,866m
3
g; Tch thu tiêu hủy 01 cưa tay bng kim
loi, chuôi bng g, chiu dài 65cm, phần lưỡi cưa dài 48cm, bản rng
10cm, báng g dài 17cm x 1,5cm; 01 con dao bng kim loi, chuôi bng g,
chiu dài 53cm, phn thân dao bng kim loi 35cm, bn rng 4,5cm, chuôi dao
bng g dài 20cm x 03cm.
V án phí: B cáo người cao tui nên đề ngh Hội đồng xét x min án
phí hình s sơ thm, án phí dân s sơ thẩm cho b cáo theo điểm đ khoản 1 Điều
12 Ngh quyết s 326/2016/UBTVQH14 ca Ủy ban Thường v Quc hi.
Ý kiến phát biểu tranh luận của người bào chữa cho bị cáo nhất trí về
hành vi tội danh như bị cáo đã thừa nhận. Về hình phạt, về trách nhiệm dân
sự, vật chứng, án phí nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị
Hội đồng xét xử áp dụng đim b khoản 1 Điều 243; đim b, s, khon 1, khon 2
Điều 51; Điều 65 B lut Hình s x pht b cáo Đường Văn S mc hình pht t
12 - 15 tháng cho b cáo được hưởng án treo, để b cáo điều kin sa
cha li lm, tr thành công dân tt ca hi. Không áp dụng hình phạt bổ
7
sung hình phạt tiền gia đình bị cáo hoàn cảnh khó khăn, thuộc hộ cận
nghèo, không có tài sản có giá trị. Về bồi thường thiệt hại: Đề ngh Hội đồng xét
x ghi nhn sa tho thun giữa nguyên đơn dân sự b cáo Đường Văn S đã
bồi thường s tin 5.500.000 đồng thit hi do hành vi cht phá rng. V án phí:
B cáo người dân tc thiu s, sinh sng vùng điều kin kinh tế - hi
đặc biệt khó khăn, thuc din h cn nghèo, vậy đề ngh áp dụng điểm đ,
khoản 1, Điều 12 Ngh quyết s 326/2016/UBTVQH14, tuyên min toàn b án
phí cho b o.
B cáo đồng ý vi li bào cha của người bào cha. Không ý kiến
tranh lun vi lun ti ca đại din Vin kim sát;
Li nói sau cùng b cáo tha nhn hành vi của mình đã vi phạm pháp lut,
vi phạm quy đnh v bo v rừng, đã năn năn hi ci, nay tui cao, sc yếu b
cáo đề ngh Hội đồng xét x xem xét gim nh hình pht cho b cáo đưc
ng án treo, ci to tại địa phương đ có điều kin tiếp tc khc phc hu qu.
NHẬN ĐỊNH CA TÒA ÁN:
Trên sở ni dung v án, căn c vào các tài liu trong h vụ án đã
đưc tranh tng ti phiên tòa, Hội đồng xét x nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong
quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy
định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa b
cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành
tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại phiên
toà bị cáo Đường Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời
khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với
các chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ vụ án, cụ thể: Từ tháng
3/2023 đến tháng 6/2023, tại lô 5, lô 8, lô 9, lô 11 khoảnh 8 tiểu khu 269b, thuộc
các thửa đất số 61, 91, 92 tờ bản đồ số 02 bản đồ lâm nghiệp xã L (năm 2011)
khu rừng Lầy Nặm Lìn thuộc thôn N, L, huyện V, Đường Văn S đã hành
vi chặt phá trái phép 5.328,1m
2
rừng sản xuất rừng tự nhiên rộng thường
xanh, trạng thái rừng nghèo kiệt, hiệu TXK; khối lượng gỗ bị chặt phá
7,866m
3
, trị giá 2.045.000 đồng. (Căn cứ theo Nghị định 156/2018/NĐ-CP ngày
16/11/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm
nghiệp; Phụ lục I, phân chia trạng thái rừng (Ban hành kèm theo Thông số
33/2018/TT-BNN&PTNT, ngày 16/11/2018 của Bộ Nông nghiệp Phát triển
nông thôn quy định về điều tra, kiểm và theo dõi diễn biến rừng) thì diện tích
cây bị chặt phá thuộc rừng tự nhiên lá rộng thường xanh, có trạng thái là:
Rừng nghèo kiệt (ký hiệu TXK), trữ lượng từ 10 m
3
đến 50 m
3
/ha). Diện tích
rừng bị chặt phá 5.328,1m
2
tại lô 5, lô 8, lô 9, lô 11 khoảnh 8 tiểu khu 269b, thuộc
thửa số 61, 92, 91, tờ bản đồ số 02 bản đồ lâm nghiệpL (năm 2011) thuộc đối
tượng được cải tạo rừng. (Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 8 Thông số
8
29/2018/TT-BNN&PTNT ngày 16/11/2018 của Bộ Nông nghiệp Phát triển
nông thôn quy định về các biện pháp lâm sinh). Do đó có căn cxác định bị o
Đường Văn S phạm tội Hủy hoại rừng theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều
243 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng
Sơn truy tố bị cáo hoàn toàn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Đối với diện tích 4.246m
2
tọa độ X: 416820, Y: 2415900, thuộc
8 khoảnh 8 tiểu khu 269b, thuộc thửa đất số 92 tờ bản đồ số 02 bản đồ lâm
nghiệp L (năm 2011) trạng thái là diện tích cây gỗ tái sinh núi đất, chưa
thành rừng, hiệu DT2, khối lượng gỗ thông thường Nhóm (IV-VIII) bị chặt
phá 1,548m
3
. Căn cứ theo Nghị định 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 của
Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp; Phụ lục
I, phân chia trạng thái rừng (Ban hành kèm theo Thông số 33/2018/TT-
BNN&PTNT, ngày 16/11/2018 của Bộ Nông nghiệp Phát triển nông thôn
Quy định về điều tra, kiểm theo dõi diễn biến rừng) thì diện tích cây bị
chặt phá trạng thái là: Rừng chưa trữ lượng (ký hiệu TXP), trlượng
dưới10 m
3
/ha hoặc diện tích cây gỗ tái sinh núi đất (ký hiệu DT2) trữ
lượng dưới 10 m
3
/ha. Căn cứ điểm b, khoản 1, điều 11 Thông số 29/2018
ngày 16/11/2018 của Bộ Nông nghiệp Phát triển nông thôn quy định về các
biện pháp lâm sinh “Diện tích đất chưa rừng, thực cây bụi, cây gỗ rải
rác cây gỗ tái sinh mục đích chiều cao trên 0,5 m với slượng dưới 500
cây/ha không khả năng phục hồi thành rừng giá trị kinh tế” thuộc đối
tượng được trồng mới rừng sản xuất, vị trí diện tích 4.246 m
2
mật độ 136
cây/ha). quan điều tra tách ra để xử lý hành chính căn cứ nên Hội đồng
xét xử không xem xét.
[4] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo thấy
rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo Đường Văn S đã trực tiếp xâm phạm đến c
quy định của Nhà nước về quản và bảo vệ rừng, gián tiếp m phạm đến chế
độ quản lý của nhà nước về lĩnh vực trật tự an toàn xã hội, hành vi ấy phải được
xử lý nghiêm minh trước pháp luật. Tuy nhiên bị cáo có trình độ văn hóa thấp,
người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng điều kiện kinh tế hội đặc biệt
khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế, nhất thời phạm tội, có nhân thân tốt,
nơi cư trú rõ ràng, ăn năn hối cải, do đó cần xem xét giảm nhẹ một phần hình
phạt đối với bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Căn cứ Nghị quyết
số 02/2018/NQ-TP-TANDTC, ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn, quy định về điều kiện cho hưởng án treo thì
bị cáo có đủ điều kiện. Vì vậy, không cần bắt bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội
áp dụng khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo
và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi trú để giám sát, giáo dục cũng
đủ điều kiện để giúp bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra tại phiên a ngày hôm
nay, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, ăn
năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. Bị cáo người dân tộc
thiểu số, sinh sống tại vùng điều kiện kinh tế - hội đặc biệt khó khăn,
thuộc hộ cận nghèo, người cao tuổi, tham gia kháng chiến tại chiến trường
9
Miền Nam được hưởng trợ cấp 01 lần. vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm
nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về tình tiết tăng nặng: Không có.
[7] Về hình phạt bổ sung, tại khoản 4 Điều 243 của Bộ luật Hình sự
“Người phạm tội thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000
đồng.... Qua c minh tại phiên tòa, xét thấy bị cáo người cao tuổi, thuộc
hộ cận nghèo, không có thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt
bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Công nhận sự thoả thuận của nguyên đơn dân
sự bị cáo Đường Văn S. Bị cáo trách nhiệm bồi thường về thiệt hại lâm
sản và thiệt hại về rừng số tiền 8.180.000đ. Xác nhận bị cáo đã tự nguyện nộp
số tiền 5.500.000 đồng theo biên lai thu số 0003153 ngày 11/12/2023 số
0003168 ngày 05/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Lạng
Sơn, bị cáo còn phải bồi thường tiếp 2.680.000 đồng. UBND huyện V, tỉnh
Lạng Sơn trách nhiệm đầu bảo vệ, phát triển rừng bị hủy hoại từ khoản
tiền bồi thường thiệt hại, thực hiện quản sử dụng đất rừng đã được giao đúng
quy định của pháp luật.
[9] Về vật chứng: Giao cho UBND xã L, huyện V xử đối với số vật
chứng 7,866m3 gỗ đang được bảo quản tại Uỷ ban nhân dân xã L. Tch thu tiêu
huỷ 01 cưa tay bằng kim loại, chuôi bằng gỗ, chiều dài 65cm, phần lưỡi
cưa dài 48cm, bản rộng 10cm, báng gỗ dài 17cm x 1,5cm; 01 con dao bằng kim
loại, chuôi bằng gỗ, chiều dài 53cm, phần thân dao bằng kim loại 35cm, bản
rộng 4,5cm, chuôi dao bằng gỗ dài 20cm x 03cm.
[10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa về mức hình
phạt, trách nhiệm dân sự, vật chứng các vấn đề khác phù hợp với nhận định
của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[11] Đối với Đường Văn H được tham gia chặt phá diện tích 1.345m2
(nằm trong phần diện tích 4.246m2), khối lượng gỗ bị thiệt hại là 0,755m3 thuộc
thửa đất số 92, tờ bản đồ lâm nghiệp xã L (năm 2011) theo kết luận giám định là
diện tích có cây gỗ tái sinh núi đất, chưa thành rừng nên hành vi của Đường Văn
H không cấu thành tội phạm, quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Văn
Quan đã tách ra để xử hành chính thoả đáng. Đối với Nông Văn L, Nông
Văn T, Nông Thị D người được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối
với thửa thửa số 61 số 91, nhưng quá trình quản lý, chưa canh tác, trồng cây,
tàì sản bị thịêt hại cây rừng tự nhiện, nay không yêu cầu đề nghị gì, do
vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[12] Về án phí quyền kháng cáo: Bcáo người cao tuổi, thuộc hộ
cận nghèo, là dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc
biệt khó khăn đơn xin miến án phí nên được chấp nhận. B cáo, nguyên đơn
dân sự, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan quyền kháng cáo bản
án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
10
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c đim b khon 1 Điu 243; điểm b, s khon 1, khon 2 Điu 51;
Điu 38; 1 Điều 47; Điu 50; Điu 65 B lut Hình s.
Căn cứ đim a khoản 2, đim b khoản 3 Điều 106; Điều 135; Điều 136;
Điu 262; Điều 331; Điều 333 B lut T tng hình s.
Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự.
Căn cứ đim đ khoản 1 Điều 12 Ngh quyết s 326/2016/UBTVQH14
ngày 30 tháng 12 năm 2016 ca Ủy ban thường v Quc Hội quy định v mc
thu, min, gim, thu, np, qun lý và s dng án phí, l phí Tòa án.
1. Tuyên b b cáo Đường Văn S phm ti Hy hoi rng.
X pht b cáo Đường Văn S 01 (Mt) năm 03 (Ba) tháng , cho hưởng
án treo, thi gian th thách 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tng. Thi gian chp hành
án tính t ngày tuyên án thm. Giao b cáo cho y ban nhân dân L, huyn
V, tnh Lạng Sơn để giám sát, giáo dc b cáo trong thi gian th thách.
Trong thi gian th thách, người được hưởng án treo c ý vi phạm nghĩa
v 02 ln tr lên thì Tòa án th quyết định buộc người được hưởng án treo
phi chp hành hình pht ca bản án đã cho hưng án treo. Trong trường hp
người được hưởng án treo thay đổi nơi trú thì thực hiện theo quy định ti
Điu 68 và khoản 3 Điều 92 Lut Thi hành án hình s.
Không áp dng hình pht b sung là hình pht tiền đối vi b cáo.
2. V x lý vt chng:
2.1. Giao cho U ban nhân dân xã L, huyn V x lý đối vi s vt chng
toàn b khi lượng g 7,866m
3
(Theo biên bản giao nhận giữa quan Cnh
t điều tra Công an huyện n Quan y ban nhân n L, huyn V ngày
23/8/2023)
2.2. Tịch thu tiêu hủy 01 cưa tay bằng kim loại, chuôi bằng gỗ chiều
dài 65cm; 01 con dao bằng kim loại, chuôi bằng gỗ chiều dài 35cm (Các vật
chứng trên được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện V tỉnh Lạng Sơn
theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/01/2024).
3. V trách nhim dân s: Công nhn s tho thun gia nguyên đơn n
s b cáo Đường Văn S, b cáo trách nhim bồi thường s tin 8.181.000
đồng (Tám triu một trăm tám ơi mốt ngàn đồng) cho nguyên đơn dân s.
c nhn b cáo Đường Văn S đã tự nguyn np s tin 5.500.000 đồng ti Cc
Thi hành án dân s huyn V, tnh Lạng Sơn theo biên lai thu số 0003153 ngày
11/12/2023 s 0003168 ngày 05/3/2024. B o còn phi nộp 2.680.000đ bi
thưng cho nguyên đơn dân sự.
Kể từ ngày án hiệu lực pháp luật, người được thi hành án đơn yêu
cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không trả tiền thì hàng tháng còn
phải trả lãi tính theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của
Bộ luật Dân sự, tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thi hành án.
11
4. Về án phí: Bcáo Đường Văn S được miễn án phí hình sự thẩm
án phí dân sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bcáo, Nguyên đơn dân sự quyền kháng cáo bản
án, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan quyền kháng cáo bản án liên
quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành
án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- Toà án tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND tỉnh Lạng Sơn;
- Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND H. Văn Quan, Lạng Sơn;
- CA H. Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn;
- CC THADS H. V, Lạng Sơn;
- Bị cáo;
- Người bào chữa;
- Những người TGTT khác;
- Lưu HS + T HCTP.
THẨM PHÁN - CHTỌA PHIÊN A
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nông ThMPhưc
12
Tải về
Bản án số 06/2024/HS-ST Bản án số 06/2024/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất