Bản án số 06/2024/HNGĐ-ST ngày 15/03/2024 của TAND huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 06/2024/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 06/2024/HNGĐ-ST ngày 15/03/2024 của TAND huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Văn Quan (TAND tỉnh Lạng Sơn)
Số hiệu: 06/2024/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/03/2024
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn tranh chấp nuôi con chung
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN QUAN
TỈNH LẠNG SƠN
Bản án số: 06/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 15-3-2024
V/v: Tranh chấp Ly hôn, nuôi con
chung khi ly n.
CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN QUAN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Bá Hiệp
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Ngô Văn Hiền
Ông Hoàng Văn Mừng
- Thư phiên tòa: Thị Bích Liên Thư Tòa án nhân dân
huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn
tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Quan,
tỉnh Lạng Sơn xét xử thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ số:
54/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 m 2023 về Tranh chấp ly hôn, nuôi
con chung khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
03a/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2024; Quyết định hoãn
phiên toà số: 04/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 06/3/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phùng Thị L, sinh năm 1989, nơi cư trú: Thôn N, xã L,
huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Vng mt, có đơn xin x vng mt.
- Bị đơn: Anh Phùng Văn T, sinh năm 1986, nơi trú: Thôn N, L,
huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Hiện nay đang cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện
ma túy tỉnh Lạng Sơn, địa chỉ: Km10, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Hoàng Thị S, sinh năm 1963, nơi trú:
Thôn N,
xã V, huyn C, tỉnh Lng Sơn. Vng mt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn
chị Phùng Thị L trình bày:
- Chị Phùng Thị L anh Phùng Văn T trước khi kết hôn được tìm hiểu
nhau và kết hôn trên sở tự nguyện không bị ép buộc gì, đăng kết n
2
ngày 26/10/2009 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Sau khi kết
hôn, chung sống cùng với gia đình anh Phùng Văn T tại Thôn N, xã L, huyện V,
tỉnh Lạng Sơn. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, nhưng do anh
Phùng Văn T nghiện ma túy từ năm 2000 và không chịu tu dưỡng làm ăn, không
quan tâm chăm sóc gia đình nên vchồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi
nhau, đánh nhau nhiều lần. ChPhùng Thị L đã nhiều lần khuyên ngăn, tha thứ
nhưng anh Phùng Văn T vẫn không thay đổi dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày
càng mâu thuẫn trầm trọng. Đến tháng 9 năm 2022 thì anh Phùng Văn T bđi
cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn. Nay chị
Phùng Thị L xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa, không thể hàn gắn
nhiều năm nay anh Phùng Văn T không sự thay đổi, vậy xin được ly hôn
với anh Phùng Văn T.
- Về con chung: Có 03 con chung cháu Phùng Thị Vân P, sinh ngày
04/3/2009; Phùng Thị Quỳnh T, sinh ngày 28/12/2010 Phùng Mạnh T, sinh
ngày 26/9/2017. Hiện nay các cháu đang ở với ông bà nội và do chị Phùng Thị L
chu cấp hàng tháng để nuôi dưỡng các cháu ăn học. Do anh Phùng Văn T đang
đi cai nghiện không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cấp dưỡng cho các
cháu được, nên khi ly hôn chị Phùng Thị L yêu cầu được trực tiếp chăm sóc,
nuôi dưỡng cả 03 người con cho đến khi các con đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh
Phùng Văn T phải cấp dưỡng nuôi con do hiện nay anh Thượng không có việc
làm, không có thu nhập.
- Tài sản chung của vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung của vợ chồng: Không có.
Do anh Phùng Văn T đang cai nghiện bắt buộc tại sở cai nghiện ma túy
tỉnh Lạng Sơn, vậy không thể đến Tòa án tham gia tố tụng. Thẩm phán được
phân công giải quyết vụ án đã trực tiếp đến Cơ sở cai nghiện để lấy lời khai của
anh Phùng Văn T, tại biên bản lấy lời khai, anh Phùng Văn T trình bày:
- Anh Phùng Văn T và chị Phùng Thị L trước khi tiến tới hôn nhân có được
tìm hiểu nhau khoảng 02 năm kết hôn trên sở tự nguyện, đăng ký kết
hôn theo quy định tại Ủy ban nhân n xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Sau khi
kết hôn cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, đến năm 2021 tanh thỉnh thoảng
sử dụng ma túy đến ngày 31/8/2022 anh đi cai nghiện bắt buộc tại sở cai
nghiện ma túy, tỉnh Lạng n cho đến nay. Từ khi kết hôn vợ chồng chỉ thỉnh
thoảng mâu thuẫn nhỏ nhặt, anh Phùng Văn T chưa bao giờ chửi mắng, chưa
bao giờ đánh chị Phùng Thị L, anh vẫn luôn yêu thương vợ con, vẫn đi làm công
ty cùng chị Phùng Thị L để thu nhập chăm c cho gia đình. Nay xác định
tình cảm vợ chồng vẫn còn nên anh không đồng ý ly hôn với chị Phùng Thị L.
- Về con chung: 03 người con chung gồm Phùng Thị Vân P, sinh ngày
04/3/2009; Phùng Thị Quỳnh T sinh ngày 28/12/2010 Phùng Mạnh T, sinh
ngày 26/9/2017. Nay do anh Phùng n T đang đi cai nghiện bắt buộc nên
không điều kiện nuôi con, vậy nếu trong trường hợp vợ chồng phải ly hôn
thì anh nhất trí đchị Phùng Thị L người trực tiếp chăm nom, nuôi dưỡng,
giáo dục cả 03 người con, sau này cai nghiện vanh sẽ trách nhiệm với các
3
con. Về cấp dưỡng nuôi con do hiện nay anh đang cai nghiện nên không có điều
kiện cấp dưỡng.
- Tài sản chung của vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Nợ chung của vợ chồng: Không có
Tại biên bản lấy lời khai cháu Phùng Thị Vân P Phùng Thị Quỳnh T đều
trình bày: Các cháu là con đẻ của mẹ Phùng Thị L và bố Phùng Văn T. Hiện nay
các cháu đang cùng ông nội tại Thôn N, L, huyện V, tỉnh Lạng Sơn.
Cháu Phùng Thị Vân P hiện nay đang học lớp 9, còn cháu Phùng Thị Quỳnh T
đang học lớp 8 tại Trường THCS L. Các cháu đều không biết bố mẹ mâu
thuẫn về vấn đề gì, nếu bố mẹ ly hôn thì nguyện vọng của các cháu đều muốn
với mẹ Phùng Thị L hiện nay bố Phùng Văn T đang đi cai nghiện không thể
trực tiếp chămc, nuôi dưỡng các cháu.
Tòa án nhân dân huyện Văn Quan đã xác minh tình trạng hôn nhân của
đương sự. Tại công văn số 686/CV-UBND ngày 30/10/2023, Uỷ ban nhân n
L, huyện V cho biết: Hiện nay chị Phùng Thị L đi làm công ty, còn anh
Phùng Văn T đi cai nghiện bắt buộc nên không xác định được mâu thuẫn vợ
chồng, không xác định được thu nhập cụ thể; chị Phùng Thị L anh Phùng
Văn T 03 người con chung Phùng Thị Vân P, sinh ngày 04/3/2009; Phùng
Thị Quỳnh T, sinh ngày 28/12/2010 Phùng Mạnh T, sinh ngày 26/9/2017,
hiện nay các cháu đang với ông nội tại Thôn N, L, huyện V, tỉnh Lạng
Sơn.
Lời khai của người làm chứng Hoàng Thị S (mẹ đẻ của chị Phùng Thị
L) trình bày: Trước khi kết hôn cháu Phùng Thị L và cháu Phùng Văn T có được
tìm hiểu nhau và kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định
của pháp luật. Sau khi kết hôn thì về bên nhà chồng tại Thôn N, L, huyện
V, tỉnh Lạng n. Trong qtrình chung sống mặc không chung sống ng
S, nhưng mọi mâu thuẫn của vợ chồng cháu L đều chia sẻ với S nên
mới được biết. Cháu L cháu Phùng Văn T thường xuyên cãi chửi nhau do
nhiều mâu thuẫn khác nhau trong cuộc sống, bất đồng quan điểm, cháu Phùng
Văn T còn nhiều lần đánh cháu L, nhưng sau mỗi lần đánh cháu L thì cháu
Phùng Văn T lại về xin lỗi nên gia đình đều tha thứ nên các cháu lại về sinh
sống cùng nhau. Sau này cháu Phùng Văn T nghiện ma y nên tình cảm vợ
chồng càng mâu thuẫn nghiêm trọng hơn, gia đình đã nhiều lần khuyên bảo
nhưng cháu T không có sự thay đổi nên đã bị đưa đi cai nghiện ma túy bắt buộc.
Từ đó mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng, theo quan điểm của S
thì không hàn gắn được cháu Phùng Văn T hiện đang đi cai nghiện, còn cháu
L hiện nay đang đi làm công ty, do không còn yêu thương nhau nên cũng không
hỏi thăm, quan tâm đến nhau nữa.
Tòa án đã tiến nh mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công
khai chứng cứ hoà giải tại sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn để chị
Phùng Thị L anh Phùng Văn T thỏa thuận với nhau vviệc giải quyết ván,
nhưng hòa giải không thành, do chị Phùng Thị L giữ nguyên yêu cầu xin được ly
n, còn anh Phùng Văn T không đồng ý ly hôn.
4
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Từ khi thụ lý vụ
án đến trước khi xét xử, Thẩm phán đã tiến hành tố tụng đúng trình tthủ tục,
hướng dẫn đương sự viết tkhai, lấy lời khai đương sự, tiến hành xác minh thu
thập chứng cứ, tiến hành giải thích quyền trợ giúp pháp cho các đương sự tuy
nhiên các đường sự đều không yêu cầu, tiến hành m phiên họp kiểm tra việc
giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra t xử
chuyển hồ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng quy định. Quá trình tiến hành
tố tụng tại phiên tòa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư Tòa án thực hiện
đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn vắng mặt tại phiên toà nhưng đã thực
hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Đối với bị
đơn vắng mặt tại phiên toà nhưng đã được triệu tập và tống đạt văn bản hợp l,
việc vắng mặt do chính đáng do hiện nay đang cai nghiện bắt buộc. Về
quan điểm giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xử cho chị
Phùng Thị L anh Phùng Văn T được ly hôn. Về con chung: Giao các cháu
Phùng Thị Vân P, sinh ngày 04/3/2009; Phùng Thị Quỳnh T, sinh ngày
28/12/2010 Phùng Mạnh T, sinh ngày 26/9/2017 cho chị Phùng Thị L trực
tiếp chăm nom, nuôi dưỡng, giáo dục hiện nay anh Phùng Văn T đang cai
nghiện ma túy không thể trực tiếp nuôi con. Anh Phùng n T không phải cấp
dưỡng nuôi con chị Phùng Thị L không yêu cầu anh Phùng Văn T không
chưa điều kiện để cấp dưỡng do đang cai nghiện bắt buộc. Tài sản chung
không yêu cầu Tòa án giải quyết, nợ chung của vợ chồng không nên không
xem xét giải quyết. Về án phí, chị Phùng Thị L người n tộc thiểu số, sinh
sống tại vùng có điu kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nhưng không xin miễn
án phí, do vậy phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án đã được thẩm tra
tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng
xét xử nhận định:
[2] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, bị đơn nơi đăng hộ khẩu
thường trú tại thôn N, L, huyện V nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa
án nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn theo quy định tại khoản 1 Điều 28,
điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật T tụng dân sự.
Nguyên đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin giải quyết, xét xử
vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt do đang
cai nghiện bắt buộc tại sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn vắng mặt
người làm chứng tại phiên tòa, nhưng những người này đã đầy đủ lời khai
trong hồ sơ, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xvắng mặt theo quy định tại
Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 2 Điều 229 Điều 238 Bộ luật Tố tụng
dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: n nhân giữa chị Phùng Thị L anh Phùng
Văn T hợp pháp kết hôn trên sở tự nguyện và đăng kết hôn ngày
26/10/2009 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
5
[4] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Phùng Thị L thấy rằng cuộc sống vợ
chồng giữa chị Phùng Thị L anh Phùng Văn T nhiều mâu thuẫn, nguyên
nhân chyếu do anh Phùng Văn T không chịu tu dưỡng bản thân, không quan
tâm chăm sóc gia đình dẫn đến nghiện ma túy thực tế hiện nay đang phải cai
nghiện bắt buộc tại sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn. Trước khi cai
nghiện ma túy cuộc sống vợ chồng cũng đã nhiều mâu thuẫn, mặc anh
Phùng Văn T không thừa nhận, nhưng qua lời khai của người làm chứng
Hoàng Thị S cũng đã thể hiện được mâu thuẫn của vợ chồng, Tòa án cũng đã
tiến hành hòa giải, nhưng anh Phùng Văn T cũng không đưa ra được phương án
nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng, không thuyết phục được chị Phùng Thị L về
đoàn tụ. Cho thấy chPhùng Thị L đã không còn yêu thương, không còn tình
cảm với anh Phùng Văn T, nếu cho vợ chồng về đoàn tcũng không đảm bảo
được cuộc sống vợ chồng sẽ hạnh phúc. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin được
ly hôn của chị Phùng Thị L.
[5] Về con chung: Chị Phùng Thị L anh Phùng n T 03 con chung
cháu Phùng Thị Vân P, sinh ngày 04/3/2009; Phùng Thị Quỳnh T, sinh ngày
28/12/2010 Phùng Mạnh T, sinh ngày 26/9/2017. Hiện nay các cháu đang
với ông nội do chị Phùng Thị L chu cấp hàng tháng để nuôi dưỡng các
cháu ăn học. Xét thấy, anh Phùng Văn T đang cai nghiện bắt buộc tại sở cai
nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn không điều kiện để chăm nom, nuôi dưỡng,
giáo dục các con, vậy yêu cầu của chị Phùng Thị L về việc được trực tiếp
chăm nom, nuôi dưỡng, giáo dục cả 03 người con khi vợ chồng ly hôn căn
cứ cũng phù hợp với nguyện vọng của các con, đồng thời đảm bảo quyền lợi
về mọi mặt cho các con chưa thành niên khi bố, mly hôn. Chị Phùng Thị L
không yêu cầu anh Phùng Văn T phải cấp dưỡng nuôi con phù hợp hiện
nay anh Phùng Văn T không khả năng cấp dưỡng do đang cai nghiện ma túy
bắt buộc.
[6] Về i sản chung nợ chung của vợ chồng: Chị Phùng Thị L anh
Phùng Văn T đều không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không
xem xét.
[7] Về án phí: Chị Phùng Thị L người dân tộc thiểu số trú tại
điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc trường hợp được miễn án phí.
Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án đã được giải thích, nhưng không làm
đơn yêu cầu được miễn án phí. Do đó, chị Phùng Thị L phải chịu án phí hôn
nhân gia đình sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự quyền kháng cáo bản án theo
quy định tại Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1
Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 2 Điều 229;
Điều 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
6
Căn cứ khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 57, 81, 82, 83, 84 Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Phùng Thị L, x cho
chị Phùng Thị L được ly hôn anh Phùng Văn T.
2. Về con chung: Giao cho chị Phùng Thị L trực tiếp chăm nom, nuôi
dưỡng, giáo dục các cháu Phùng Thị Vân P, sinh ngày 04/3/2009; Phùng Thị
Quỳnh T, sinh ngày 28/12/2010 và Phùng Mạnh T, sinh ngày 26/9/2017 cho đến
khi các con đủ 18 tuổi. Anh Phùng Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung
không ai được ngăn cản. Khi cần thiết hai bên đương sự quyền yêu cầu thay
đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pp luật.
3. Về án phí: Chị Phùng Thị L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn
nhân gia đình thẩm để nộp ngân sách Nhà nước. Số tiền trên được trừ vào số
tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị Phùng Thị L đã nộp tạm ứng theo biên lai
thu tiền tạm ứng án phí, lệ pTòa án số AA/2021/0006181 ngày 13 tháng 10
năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Chị Phùng Thị
L đã thi hành xong án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn quyền kháng cáo bản án
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết
theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND H. Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn
- CCTHADS H. Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn.
- UBND xã V, huyện C, Lạng Sơn;
- Các đương sự;
- Lưu: HS + Tổ HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nông Bá Hiệp
Tải về
Bản án số 06/2024/HNGĐ-ST Bản án số 06/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất