Bản án số 05/2024/HS-PT ngày 22/02/2024 của TAND tỉnh Phú Thọ
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 05/2024/HS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 05/2024/HS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 05/2024/HS-PT ngày 22/02/2024 của TAND tỉnh Phú Thọ |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Phú Thọ |
| Số hiệu: | 05/2024/HS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 22/02/2024 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Bị cáo Nguyễn Thị C phạm tội Đánh bạc |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số:05/2024/HS-PT
Ngày 22 tháng 02 năm 2024
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - H phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các thẩm phán:
Ông Hoàng Tiến Dũng
Ông NguyễnViết Anh
Ông Nguyễn Hà Giang
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Quân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú
Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà
Trương Thị Kim Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đưa
ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 106/2023/TLPT-HS ngày
02 tháng 10 năm 2023 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị C đối với Bản án
hình sự sơ thẩm số 35/2023/HSST ngày 11 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân
dân huyện P N, tỉnh Phú Thọ đối với:
Bị cáo: Nguyễn Thị C, sinh năm 1979; nơi sinh: Phú Thọ; nơi cư trú: Khu
X, xã P N, huyện P N, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn
hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;
con ông Nguyễn Đức K và con bà Nguyễn Thị C; chồng: Nguyễn Văn H; con:
có 03 con, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2003; tiền án, tiền sự:
Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/3/2023 đến ngày 24/3/2023. Bị áp dụng biện
pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú của
TAND huyện P N. Hiện nay, bị cáo tại ngoại (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 15 phút, ngày 17/03/2023 Phòng cảnh sát hình sự Công an tỉnh
Phú Thọ bắt quả tang Nguyễn Thị C, sinh năm 1979, HKTT: Khu X, xã P N,
huyện P N, tỉnh Phú Thọ đang có hành vi đánh bạc với Nguyễn Văn H, sinh năm
1972, HKTT: Khu Y, xã P N, huyện P N, tỉnh Phú Thọ dưới hình thức sử dụng
điện thoại di động số thuê bao 0325245611 mua bán số lô, số đề thông qua tin
nhắn với số tiền 7.913.000đ (Bảy triệu chín trăm mười ba nghìn đồng). Thu giữ
01 (một) máy tính bảng nhãn hiệu HUAWEI Mediapad T37 màu vàng, số IMEI:
869483036795456. Lắp sim số 0325245611. Máy tính bảng bị vỡ ở góc phải
màn hình.
2
Cùng thời điểm, tại Khu Y, xã P N, huyện P N, tỉnh Phú Thọ. Tổ công tác
của Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Phú Thọ bắt quả tang Nguyễn Văn H,
sinh năm 1972, HKTT: Khu Y, xã P N, huyện P N, tỉnh Phú Thọ, đang có hành
vi đánh bạc bằng hình thức sử dụng điện thoại di động gắn sim số thuê bao
0362018061 mua số lô, số đề của Nguyễn Thị C với số tiền 7.913.000VNĐ. Tổ
công tác đã tiến hành lập biên bản, thu giữ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu
Nokia X1-01 màu xanh, số Seri1: 352842052990485; Seri 2: 352862052990493.
Lắp sim số 0362018062. Điện thoại bị vỡ màn hình.
Quá trình điều tra các đối tượng khai nhận cách thức đánh bạc như sau:
Các đối tượng thỏa thuận với nhau lấy kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết Miền
Bắc mở thưởng trong ngày để làm căn cứ so sánh tính thắng thua. Về số lô là lấy
02 số cuối của tất cả các giải của kết quả xổ số, 1 điểm lô sẽ thu 19.000₫ –
20.000₫, nếu trúng 1 điểm lô được hưởng 70.000đ. Về số đề lấy 02 số cuối của
giải đặc biệt để so sánh tính 72% số tiền đánh, trúng 1.000đ tiền đề được nhận
70.000đ, .... Cách thức để đánh bạc là các đối tượng sẽ soạn các số lô, đề rồi gửi
tin nhắn từ điện thoại của mình đến điện thoại của người đánh bạc cùng, người
nhận tin nhắn nhắn lại thì được xác định là đã đồng ý đánh bạc, các tin nhắn
thường là 01 dãy các ký hiệu chữ và số (ví dụ: bo là bộ, lo là lô, d là điểm, n là
nghìn đồng, nts là nghìn đồng trên số, dts là điểm trên số, ms là mỗi số, ...). Các
bị cáo thỏa thuận sau khi đối chiếu kết quả xổ số việc thanh toán tiền thắng thua
sẽ diễn ra vào ngày hôm sau.
1. Đối với bị cáo Nguyễn Thị C đã tham gia đánh bạc nhiều lần với nhiều
người như sau:
- Ngày 17/03/2023, Nguyễn Thị C sử dụng số thuê bao 0325245611 nhận
tin nhắn qua điện thoại di động để đánh bạc với các đối tượng sau: C nhận 03
(ba) tin nhắn ghi số lô, số đề do Nguyễn Văn H sử dụng số thuê bao 0362018062
chuyển đến để đánh bạc với số tiền tương ứng 7.913.800đ; Nhận 04 tin nhắn ghi
số lô, số đề do Lê Thuỳ T sử dụng số thuê bao 0961535919 chuyển đến để đánh
bạc với số tiền tương ứng 751.600đ; Nhận 11 tin nhắn ghi số lô, số đề do Ngô
Thị H, sinh năm 1990, HKTT ở Khu X, xã K Đ, thành phố V T, tỉnh Phú Thọ sử
dụng số thuê bao 0343836773 chuyển đến, C nhắn tin lại cho H các số từ 1 đến
8 tức là đã đồng ý để đánh bạc với H các số lô, số đề ở 08 tin nhắn, còn 03 tin
nhắn C không nhắn lại tức là không đồng ý đánh bạc với H. Tổng số tiền cam
kết đánh bạc tại 08 tin nhắn là 25.553.000đ. Nhận 01 tin nhắn ghi số lô, số đề do
Lê Văn L, sinh năm 1981, HKTT: Khu Z, xã P N, P N, Phú Thọ sử dụng số thuê
bao 0973082963 chuyển đến với số tiền là 999.000đ. Ngoài ra, C còn khai đã
gửi 18 tin nhắn ghi các số lô, số đề đến số thuê bao 0359636356 của một người
tên là P để đánh bạc với số tiền tương ứng 38.547.000đ. C chỉ biết tên nhưng
không biết địa chỉ cụ thể nên cơ quan điều tra chưa làm rõ được người này nên
chưa có cơ sở để chứng minh. Ngày 17/3/2023, khi chưa có kết quả xổ số thì bị
phát hiện nên C chưa thanh toán tiền mua bán, số lô, số đề với H, T, H, L và
người tên P.
- Ngày 16/3/2023, Nguyễn Thị C cũng bằng cách thức trên sử dụng số
thuê bao 0325245611 đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề với Lê Thuỳ T
3
với số tiền tương ứng 8.838.000đ (tám triệu tám trăm ba mươi tám nghìn đồng).
Sau khi so sánh kết quả xổ số thì T trúng 300 điểm lô tương ứng số tiền
21.000.000₫ (hai mươi mốt triệu đồng). Trừ tiền bảng lô, đề do T đánh thì C phải
thanh toán cho T số tiền 12.162.000đ. Số tiền này C đã thanh toán với T.Như
vậy tổng số tiền đánh bạc ngày 17/3/2023 của C đã đánh bạc với H, T, H, L mà
cơ quan cảnh sát điều tra đã chứng minh được là: 35.217.800đ.Tổng số tiền đánh
bạc ngày 16/3/2023 của C là: 29.838.000đ (hai mươi chín triệu tám trăm ba mươi
tám nghìn đồng).
Cơ quan điều tra đã thu giữ của Nguyễn Thị C 01 (một) máy tính bảng
bảng (bị vỡ ở góc phải màn hình) nhãn hiệu HUAWEI Mediapad T37 màu vàng,
số IMEI: 869483036795456, lắp sim số 0325245611.
2. Đối với bị cáo Ngô Thị H: Do đam mê cờ bạc nên H đã thoả thuận đánh
bạc với nhiều người bằng hình thức đánh số lô, số đề thông qua tin nhắn điện
thoại. Về số lô H thoả thuận với các con bạc là 1 điểm lô tương đương 20.000đ
và thu 19.000đ/20.000đ, nếu trúng 1 điểm được 70.000đ. Về số đề tính 72% hoặc
73% số tiền đánh, trúng 1.000đ tiền đề được nhận 70.000₫ (gấp 70 lần). Việc
thanh toán tiền thắng thua diễn ra vào ngày hôm sau.
Ngày 17/03/2023, Ngô Thị H sử dụng số thuê bao 0343836773 đánh bạc:
Gửi 08 tin nhắn từ số điện thoại 0343836773 của mình đến số điện thoại
0325245611 của Nguyễn Thị C để đánh bạc với số tiền 25.553.000đ. Nhận 01
tin nhắn ghi số lô, số đề từ số điện thoại 0976716442 của Nguyễn Văn C để đánh
bạc với số tiền 1.315.000đ (một triệu ba trăm mười lăm nghìn đồng). Nhận 04
tin nhắn ghi các số lô, đề từ số điện thoại 0978987909 của Nguyễn Thị Thanh H
để đánh bạc với số tiền 15.345.800đ. Tổng số tiền đánh bạc ngày 17/3/2023 của
H với C, C, H là: 42.213.800đ (bốn mươi hai triệu hai trăm mười bốn nghìn
đồng).
Ngày 17/3/2023 là ngày đầu tiên H tham gia đánh bạc, số tiền bảng lô, đề
H và C, C, H chưa thanh toán với nhau.
Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét và thu giữ tại nhà Ngô Thị H gồm:
01 (một) sim điện thoại có chữ 4G-Viettel màu đỏ trên sim có ghi dãy số:
8984048000337150519; 01 (một) chiếc búa chuôi bằng ống sắt rỗng hình tròn
hàn liền với đầu búa bằng sắt kích thước chuỗi dài 30cm, đầu búa dài 11cm;
Nhiều linh kiện và mảnh vỡ của chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung được cho
vào 02 (hai) bì niêm phong và đóng 04 dấu tròn của Công an xã K Đ, thành phố
V T, tỉnh Phú Thọ. Thu giữ của Nguyễn Văn C 01 (một) điện thoại di động nhãn
hiệu Samsung Galaxy A03, lắp sim điện thoại 0976.716.442, có số IMEI1:
350538289870441, số IMEI2: 359923679870444 (điện thoại bị vỡ màn hình).
3. Đối với bị cáo Nguyễn Văn H: Do đam mê cờ bạc nên H đã thoả thuận
đánh bạc với Nguyễn Thị C bằng hình thức đánh số lô, số đề thông qua tin nhắn
điện thoại. Về số lô H và C thoả thuận là 01 điểm lô tương đương 20.000đ và
thu 19.000d/20.000đ, nếu trúng đề 1.000đ được 70.000đ. Về số đề tính 72% số
tiền đánh, trúng 1.000đ tiền đề được nhận 70.000đ (gấp 70 lần). Việc thanh toán
tiền thắng thua diễn ra vào ngày hôm sau.
4
Ngày 17/03/2023 Nguyễn Văn H sử dụng số thuê bao 0362018062 gửi
03 tin nhắn ghi các số lô, số đề để đánh bạc với Nguyễn Thị C với số tiền
7.913.800đ. Ngày 17/3/2023 là ngày đầu tiên H tham gia đánh bạc, số tiền bảng
lô, đề H và C chưa thanh toán với nhau.
Cơ quan điều tra đã thu giữ của Nguyễn Văn H 01 (một) ĐTDĐ nhãn
hiệu Nokia X1-01 màu xanh, số 352842052990485; Seri 2: 352862052990493,
Lắp sim số 0362018062 (điện thoại bị vỡ màn hình).
4. Đối với bị cáo Nguyễn Thị Thanh H: Do đam mê cờ bạc nên H đã thoả
thuận đánh bạc với Ngô Thị H bằng hình thức đánh số lô, số đề thông qua tin
nhắn điện thoại. Về số lô H thoả thuận với H đánh lô 7 tức là 1 điểm tương đương
20.000đ và thu 19.000₫/20.000₫, nếu trúng 1 điểm được 70.000đ. Về số đề tính
72% số tiền đánh, trúng 1.000đ tiền đề được nhận 70.000đ (gấp 70 lần). Việc
thanh toán tiền thắng thua diễn ra vào ngày hôm sau.Ngày 17/03/2023 Nguyễn
Thị Thanh H sử dụng số thuê bao 0978987909 gửi 04 tin nhắn ghi các số lô, số
đề đến số điện thoại 0343836773 của Ngô Thị H để đánh bạc với số tiền
15.345.800đ. Ngày 17/3/2023 là ngày đầu tiên Huyền tham gia đánh bạc, số tiền
lô, đề Huyền và H chưa thanh toán với nhau. Cơ quan điều tra đã thu giữ của H
01 (một) ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 14 pro Max màu tím số IMEI:
358686326306812, lắp sim số 0978987909.
5. Đối với bị cáo Lê Thuỳ T: Bản thân do đam mê cờ bạc nên T đã thoả
thuận tham gia đánh bạc với Nguyễn Thị C bằng hình thức đánh số lô, số đề
thông qua tin nhắn điện thoại. Về số lô T thoả thuận với C đánh lô 7 tức là 1
điểm tương đương 20.000đ và C thu 19.000₫/20.000đ, nếu trúng 1 điểm được
70.000đ. Về số đề C tính 72% số tiền đánh, trúng 1.000đ tiền đề được nhận
70.000₫ (gấp 70 lần).Việc thanh toán tiền thắng thua diễn ra vào ngày hôm sau.
Ngày 17/03/2023, Lê Thuỳ T sử dụng số thuê bao 0961535919 gửi tin
nhắn các số lô, số đề đến số điện thoại 0325245611 của Nguyễn Thị C để đánh
bạc với số tiền 751.600₫. Số tiền này T chưa thanh toán với C.
Ngoài ra ngày 16/3/2023 Lê Thùy T sử dụng số thuê bao 0961535919
đánh bạc với Nguyễn Thị C với số tiền tương ứng tương ứng 8.838.000₫ (tám
triệu tám trăm ba mươi tám nghìn đồng). Sau khi so sánh kết quả xổ số cùng
ngày thì T trúng 300 điểm lô tương ứng số tiền 21.000.000₫ (hai mươi mốt triệu
đồng). Trừ tiền bảng lô, đề mà T đánh thì C phải thanh toán cho T số tiền
12.162.000₫. Số tiền này C đã thanh toán với T.
Tổng số tiền đánh bạc ngày 17/3/2023 của T là: 751.600₫. Tổng số tiền
đánh bạc ngày 16/3/2023 của T là: 29.838.000đ. Cơ quan điều tra đã thu giữ của
Lê Thùy T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đen số IMEI:
356561106182133. Lắp sim số 0961535919.
Về động cơ, mục đích, nguyên nhân, điều kiện dẫn đến việc phạm tội của
bị cáo: Do các bị cáo không có việc làm ổn định, lười lao động và do hám lời,
nên các bị cáo lao vào con đường thực hiện hành vi đánh bạc với hình thức mua
bán số lô, số đề để kiếm lời.
Xác minh tài sản xác định: Bị cáo Ngô Thị H có 01 thửa đất số 555, tờ
bản đồ số 34, diện tích 104,2 m
2
(đất CLN) tại khu 5, xã K Đ, thành phố V T,

5
được UBND thành phố V T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: DE
765671 ngày 28/12/2022. Các bị cáo Nguyễn Thị C, Nguyễn Văn H, Lê Thùy T
và Nguyễn Thị Thanh H không có tài sản riêng gì có giá trị. Tại Cơ quan điều
tra các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 35/2023/HSST ngày 11 tháng 8 năm 2023
của Tòa án nhân dân huyện P N, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị C phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản
1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị C 09 (Chín) tháng tù. Bị cáo được trừ đi 07
(bảy) ngày bị tạm giữ (từ ngày 17/3/2023 đến ngày 24/3/2023). Bị cáo còn phải
chấp hành 08 (tám) tháng 23 (hai mươi ba) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình
phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo C.
Bản án còn quyết định về hình phạt với các bị cáo khác, về xử lý vật chứng,
án phí, quyền kháng cáo và các vấn đề khác đúng quy định của pháp luật.
Ngày 22/8/2023, bị cáo Nguyễn Thị C có đơn kháng cáo xin được hưởng
án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Quá
trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo nộp thêm tài liệu, chứng cứ là Công văn
số 175/CV ngày 12 tháng 12 năm 2023 của Công an xã N S, huyện V C, tỉnh
Yên Bái về việc bị cáo Nguyễn Thị C trong quá trình tại ngoại đã tố giác tội
phạm để giúp cơ quan có thẩm quyền bắt giữ, khởi tố đối với 01 đối tượng có
hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ trình bày quan điểm giải
quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản
1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị C. Sửa Bản án hình sự sơ
thẩm số: 35/2023/HSST ngày 11 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện
P N, tỉnh Phú Thọ.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s,t khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g
khoản 1 Điều 52, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị C phạm tội “Đánh bạc”.
- Xử phạt Bị cáo Nguyễn Thị C 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời
gian thử thách 18 (Mười tám) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án
phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả
tranh luận; trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát
viên, bị cáo. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định, đơn hợp lệ được
xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

6
[2] Về những chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại cơ quan
điều tra, phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm bị cáo đều khai nhận đã có
hành vi phạm tội nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng
cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ xác định:
Ngày 16/3/2023, Nguyễn Thị C có hành vi đánh bạc bằng hình thức nhận
số lô, số đề qua tin nhắn điện thoại với Lê Thùy T với tổng số tiền đánh bạc là
29.838.000đ. Ngày 17/3/2023, Nguyễn Thị C đã có hành vi đánh bạc bằng hình
thức nhận số lô, số đề qua tin nhắn điện thoại với Nguyễn Văn H với số tiền
7.913.800đ, với Lê Thùy T với số tiền 751.600đ, với Ngô Thị H với số tiền
25.553.000đ, với Lê Văn L số tiền 999.000đ. Tổng số tiền đánh bạc ngày
17/3/2023 của Nguyễn Thị C là 35.217.400đ.
Như vậy, hành vi của bị cáo C đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo
quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015.
Điều 321. Tội đánh bạc
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua
bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc
dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này
hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này
hoặc tội quy định tại Điều 322 chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị
phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam
giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
[3] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội thuộc trường hợp ít nghiêm
trọng, bị cáo đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề để nhằm thu lợi bất chính
đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách
nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS là “phạm tội hai lần
trở lên”. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm minh đối với bị cáo trong vụ án để giáo
dục riêng và phòng ngừa chung tội phạm.
Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự, nhân thân của bị cáo để xử phạt bị cáo 09 tháng tù là phù hợp với pháp luật.
Tuy nhiên, trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị C cung
cấp thêm tài liệu chứng cứ mới là: Trong thời gian tại ngoại bị cáo C đã tố giác
đến công an xã N S, huyện V C, tỉnh Yên Bái đối tượng có hành vi trộm cắp tài
sản, công an xã N S đã tiến hành xác minh, bắt giữ, chuyển cơ quan có thẩm
quyền khởi tố vụ án và khởi tố 01 đối tượng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự mới đối với bị cáo quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS
nên cấp phúc thẩm cần áp dụng cho bị cáo.
Do bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo thành khẩn
khai báo, ăn năn hối cải, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy
định tại điểm s,t khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng
nên áp dụng Điều 65 BLHS chuyển từ hình phạt 09 tháng tù chuyển thành 09
tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng và giao cho chính quyền,

7
gia đình giám sát cũng đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công
dân tốt cho gia đình và xã hội.
Vì vậy cần sửa bản án số 35/2023/HSST ngày 11 tháng 8 năm 2023 của
Tòa án nhân dân huyện P N, tỉnh Phú Thọ.
[3] Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị sửa bản án sơ thẩm, xét
thấy đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với pháp luật và nhận định của HĐXX
nên được chấp nhận
[4] Án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo
không phải chịu án phí phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị, Hội đồng xét xử không xem xét, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời
hạn kháng cáo kháng nghị .
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật
tố tụng Hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị C.
Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 35/2023/HSST ngày 11 tháng 8 năm 2023
của Tòa án nhân dân huyện P N, tỉnh Phú Thọ.
[2]. Về tội danh, Điều luật áp dung và hình phạt.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s,t khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g
khoản 1 Điều 52; khoản 1,2,5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị C 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo,
thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên
án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thị C cho UBND xã P N, huyện P N, tỉnh Phú Thọ
để giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Nguyễn
Thị C có trách nhiệm phối hợp với UBND xã P N, huyện P N, tỉnh Phú Thọ
trong việc giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện
theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa
vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có
thể quyết định buộc người được hưởng án treo chấp hành hình phạt tù của bản
án đã cho hưởng án treo.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo C.
[3]. Về án phí: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
Bị cáo Nguyễn Thị C không phải chịu án phí phúc thẩm hình sự.
[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị .
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
8
Nơi nhận
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- TAND huyện P N;
- VKSND huyện P N;
- Công an huyện P N;
- Chi cục THADS huyện P N;
- Bị cáo;
- Lưu HS; Lưu VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hoàng Tiến Dũng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Bản án số 80/2026/KDTM-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 22/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 16/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Bản án số 16/2026/KDTM-PT ngày 14/02/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 14/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm