Bản án số 05/2024/HNGĐ-ST ngày 28/06/2024 của TAND huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 05/2024/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 05/2024/HNGĐ-ST ngày 28/06/2024 của TAND huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Văn Lãng (TAND tỉnh Lạng Sơn)
Số hiệu: 05/2024/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/06/2024
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chị Phùng Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Lý Viết T1
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN LÃNG
TỈNH LẠNG SƠN
Bản án số: 05/2024/HNGĐ-ST
Ngày 28-6-2024
V/v xin ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập –Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hứa Minh Thân;
Bà Nguyễn Thị Lợi.
-Thư ký phiên toà: Bà Lăng Thị Em - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn
Lãng, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tham
gia phiên toà: Bà Chu Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng
Sơn xét xử thẩm ng khai vụ án Hôn nhân gia đình thẩm thụ số:
14/2024/TLST-HNGĐ, ngày 04 tháng 3 năm 2024 về việc "xin ly hôn, tranh chấp
về nuôi con khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2024/QĐXXST-
HNGĐ, ngày 03 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số
02/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 18 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phùng Thị T, sinh năm 2001; địa chỉ: Thôn B, T,
huyện V, tỉnh Lạng Sơn; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Lý Viết T1, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện V,
tỉnh Lạng Sơn; hiện đang chấp hành án tại Đội 08, phân trại 05, trại giam P, Cục
C, Bộ C1; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: Hoàng Thị T2, địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh
Lạng Sơn; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 20-02-2024 và bản tự khai trong quá
trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phùng Thị T trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị anh Lý Viết T1 quen biết yêu nhau, sau đó
kết hôn trên stnguyện, đăng kết hôn với nhau vào ngày 06-9-2019
tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Sau khi sống chung được 02
năm thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, anh Lý Viết T1 hay đánh chị không biết chăm
lo cho vợ con. Năm 2021 anh Viết T1 bị bắt về tội Tổ chức cho người khác
xuất cảnh trái phép. Nay chị xác định tình cảm không còn nên chị yêu cầu Tòa án
giải quyết cho ly hôn với anh Lý Viết T1.
Về con chung: Quá trình chung sống chị anh Viết T1 01 con chung
Thị Đ, sinh ngày 23-8-2017, hiện nay cháu đang cùng với Hoàng Thị
T2 mẹ của anh Viết T1, tuy nhiên hàng tháng chị vẫn thăm lo chi phí
sinh hoạt cho con. Chị yêu cầu khi ly hôn chị người trực tiếp trông nom,
nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Thị Đ cho đến khi đủ 18 tuổi, anh
Viết T1 không phải cấp dưỡng nuôi con hàng tháng.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
- Bị đơn anh Viết T1 trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Phùng Thị T quen biết và tìm hiểu nhau,
chung sống với nhau từ năm 2017, sau đó hai bên đăng ký kết hôn vào năm 2019
tại Ủy ban nhân dân T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Trong quá trình chung sống
vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2019, nay chị Phùng Thị T xin ly hôn
anh cũng nhất trí.
Về con chung: Quá trình chung sống anh chị Phùng Thị T 01 con
chung Thị Đ, sinh ngày 23-8-2017, hiện nay đang với mẹ đẻ của anh
Hoàng Thị T2. Khi ly hôn anh không nhất trí để chị Phùng Thị T người trực
tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Lý Thị Đ hiện nay cháu
Lý Thị Đ vẫn ở cùng mẹ của anh.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
- Người làm chứng Hoàng Thị T2 trình bày: Chị Phùng Thị T và anh
Viết T1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, cuộc sống hôn nhân ban đầu diễn
ra bình thường, sau đó thì phát sinh một số mâu thuẫn nhỏ. Nay chị Phùng Thị T
xin ly hôn với anh Lý Viết T1 bà cũng không có ý kiến gì. Về con chung của chị
Phùng Thị T và anh Lý Viết T1 cháu Thị Đ hiện nay đang sống với bà,
không có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tham gia
phiên tòa phát biểu ý kiến: Vviệc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán,
Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải
quyết vụ án. Từ khi thụ lý vụ án đến khi tranh luận tại phiên tòa Thẩm phán, Thư
ký, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về
trình tự, thủ tục giải quyết vụ án. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định
của pháp luật như viết bản tự khai cung cấp c tài liệu, chứng cứ theo quy
định của pháp luật.
Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều
51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;
khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273; Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng
dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của
chị Phùng Thị T. Chị Phùng Thị T được ly hôn với anh Lý Viết T1.
Về con chung: Giao con chung Thị Đ, sinh ngày 23-8-2017 cho chị
Phùng Thị T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi đ
18 tuổi. Anh Lý Viết T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị Phùng Thị
T không yêu cầu.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Về án phí: Chị Phùng Thị T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp: Chị Phùng Thị Tanh Viết T1 sống chung
với nhau có đăng ký kết hôn, như vậy quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Quá trình chung sống chị Phùng Thị T và anh Viết T1 có 01 con chung chưa
thành niên. Chị Phùng Thị T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị
được ly hôn xác định người trực tiếp nuôi con khi ly hôn nên xác định quan hệ
tranh chấp "Xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" theo quy định tại
khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Phùng Thị T khởi kiện anh
Viết T1 yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, do
anh Viết T1 địa chỉ tại thôn B, T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn nên thẩm
quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn,
theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố
tụng dân sự.
[3] Tại phiên tòa vắng mặt nguyên đơn chị Phùng Thị T, bị đơn anh Lý Viết
T1, người làm chứng bà Hoàng Thị T2. Xét thấy chị Phùng Thị T và anh Lý Viết
T1 đã có lời khai trong hồ sơ vụ án và đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Người làm
chứng Hoàng Thị T2 vắng mặt nhưng đã lời khai trong hồ vụ án, ý
kiến xin xét xử vắng mặt. Do đó Tòa án xét xử vắng mặt chị Phùng Thị T, anh
Viết T1 và bà Hoàng Thị T2 theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 227; khoản
1 Điều 228; Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét
xử vụ án theo quy định.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của chị Phùng Thị T thấy như sau:
[5] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phùng Thị Tanh Lý Viết T1 đăng ký kết
hôn 06-9-2019 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, như vậy quan
hệ hôn nhân giữa chị Phùng Thị T và anh Lý Viết T1 là hợp pháp. Chị Phùng Thị
T anh Viết T1 đều thừa nhận thời gian đầu vợ chồng chung sống cùng nhau
chưa phát sinh mâu thuẫn, nhưng sau đó những mâu thuẫn do bất đồng quan
điểm sống. Nay chị Phùng Thị T và anh Viết T1 đều xác nhận nh cảm vợ
chồng không còn. Như vậy, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống
chung vợ chồng giữa chị Phùng Thị T anh Viết T1 không còn hạnh phúc,
đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Phùng
Thị T xin ly hôn anh Viết T1 cũng đồng ý. Việc thuận tình ly hôn giữa nguyên
đơn và bị đơn hoàn toàn tnguyện, căn cứ phù hợp Điều 55, Điều 56 của
Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về con chung: Chị Phùng Thị T và anh Lý Viết T1 có 01 con chung
cháu Thị Đ, sinh ngày 23-8-2017, hiện nay cháu đang cùng với Hoàng
Thị T2 mẹ của anh Viết T1, tuy nhiên hàng tháng chị vẫn thăm và lo chi phí
sinh hoạt cho con. Chị yêu cầu khi ly hôn chị người trực tiếp trông nom,
nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Thị Đ cho đến khi đủ 18 tuổi, anh
Viết T1 không phải cấp dưỡng nuôi con hàng tháng. Anh Lý Viết T1 không đồng
ý để chị Phùng Thị T người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo
dục cháu Thị Đ hiện nay cháu Thị Đ đang cùng bà Hoàng Thị T2 là
mẹ đẻ của anh Viết T1. Hoàng Thị T2 không ý kiến về việc chị Phùng
Thị T yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Thị Đ. Xét thấy hiện anh Viết T1
đang chấp hành bản án hình sự thẩm số 123/2021/HS-ST ngày 29-12-2021,
Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt anh Lý Viết T1 06 (sáu)
năm 6 (sáu) tháng về tội Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép, do đó để
đảm bảo quyền lợi của con chưa thành niên cần giao cháu Thị Đ cho chị Phùng
Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi
là phù hợp. Anh Lý Viết T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị Phùng
Thị T không yêu cầu. Anh Lý Viết T1 quyền nghĩa vụ thăm nom con chung,
không ai được cản trở.
[7] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phùng Thị T anh Lý Viết T1 trình
bày quá trình chung sống chị anh không tài sản chung, nợ chung. Do đó Hội
đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[8] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm
a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vQuốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Phùng Thị T phải
chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn để nộp Ngân sách Nhà nước.
[9] Ý kiến của Kiểm sát viên về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ
nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10] Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271,
Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82;
Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273; khoản 1, khoản 2 Điều 227; khoản 1
Điều 228; Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ điểm a khoản
1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số
326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1.Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện vviệc xin ly hôn
của chị Phùng Thị T. Chị Phùng Thị T được ly hôn với anh Lý Viết T1.
(Giấy chứng nhận kết hôn số 15, ngày 06-9-2019 của Ủy ban nhân dân xã
T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn).
2. Về con chung: Giao con chung Thị Đ, sinh ngày 23-8-2017 cho chị
Phùng Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ
18 tuổi. Anh Lý Viết T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị Phùng Thị
T không yêu cầu.
Anh Lý Viết T1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được
cản trở.
3. Về án phí: Chị Phùng Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án
ly hôn là 300.000đ (ba trăm nghìn) đồng để nộp ngân sách Nhà nước, được khấu
trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tại biên
lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số BLTU/23/0001302 ngày 04-3-2024 tại Chi
cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn. Xác nhận chị Phùng Thị
T đã nộp đủ tiền án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Phùng Thị T bị đơn anh Viết
T1 vắng mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể
từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a 9 của Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 của Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND huyện Văn Lãng;
- THADS huyện Văn Lãng;
- Các đương sự;
- UBND xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn.
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Thị Thùy Linh
Tải về
Bản án số 05/2024/HNGĐ-ST Bản án số 05/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 05/2024/HNGĐ-ST Bản án số 05/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất