Bản án số 05/2021/KDTM-ST ngày 14/04/2021 của TAND huyện Nhà Bè, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về cung ứng dịch vụ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 05/2021/KDTM-ST

Tên Bản án: Bản án số 05/2021/KDTM-ST ngày 14/04/2021 của TAND huyện Nhà Bè, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về cung ứng dịch vụ
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về cung ứng dịch vụ
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Nhà Bè (TAND TP. Hồ Chí Minh)
Số hiệu: 05/2021/KDTM-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/04/2021
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Công ty I yêu cầu Công ty V trả tiền cọc thuê xe ô tô
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NHÀ BÈ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 05/2021/KDTM-ST
Ngày: 14/4/2021.
V/v tranh chấp hợp đồng thuê i
sản.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Lựu
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Quốc Xuân.
2. Bà Phạm Kim Tuyến.
- Thư phiên tòa: Trần Thị Thiên Kim Thư Tòa án nhân dân
huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà tham gia phiên tòa:
Không tham gia phiên tòa.
Trong ngày 14 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhà
Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử thẩm công khai vụ án dân sự thụ số
05/2021/TLST-KDTM ngày 15/01/2021 về việc: Tranh chấp hợp đồng thuê tài
sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2021/QĐXXST-KDTM ngày 15
tháng 3 năm 2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty I.
Địa chỉ: Số 292 Đường K, Phường 25, quận B, Thành phố H.
Đại diện theo pháp luật: Ông Y – Chức vụ: Giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Ngô Vũ Vân H, sinh năm 1982
Địa chỉ: Số 13C Đường M, Phường 8, Quận N, Thành phố H. (Có mặt).
Bị đơn: Công ty V.
Địa chỉ: DP15 khu Dragon Parc 1 Đường T, xã K huyện B, Thành phố H.
Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị T – Chức vụ: Giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Hảo T, sinh năm 1970
Địa chỉ: Số 140/17/A Đường L, Phường 26, quận B, Thành phố H. (Có
mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Trong Đơn khởi kiện ngày 08 tháng 01 năm 2021, các lời khai trong quá
trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa thẩm, người đại diện theo ủy
quyền của nguyên đơn là bà Ngô Vũ Vân H trình bày:
Ngày 11/6/2019, ng ty I Công ty V hợp đồng cho thuê xe số
11.06/19-HĐCTX-VR. Theo đó, Công ty V cho Công ty I thuê 01 xe ô tô 07 chỗ
(biển số đăng ký: 51G-415.00, loại xe Toyota INNOVA) với giá thuê
7.000.000 đồng/tháng, tiền đặt cọc thuê xe là: 300.000.000 đồng, thời hạn thuê:
từ ngày 11/6/2019 đến ngày 10/6/2020. Theo thỏa thuận của hợp đồng thì toàn
bộ số tiền đặt cọc sẽ được Công ty V hoàn trả cho Công ty I khi kết thúc hợp
đồng.
Ngày 08/6/2020, Công ty I Công ty V đã biên bản thanh hợp
đồng thuê xe ô trên. Tuy nhiên đến hiện nay, Công ty V không thực hiện
nghĩa vụ hoàn trả số tiền đặt cọc 300.000.000 đồng cho Công ty I.
Công ty I khởi kiện yêu cầu Công ty V hoàn trả toàn bộ số tiền đặt cọc
thuê xe 300.000.000 đồng; đồng thời yêu cầu Công ty V phải thanh toán tiền
lãi phát sinh từ ngày 11/12/2020 đến ngày 14/4/2021: 300.000.000 đồng x
9%/365 x 125 ngày = 9.246.575 đồng.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ
nguyên yêu cầu khởi kiện như trên.
Tại bản tường trình ngày 01/02/2021 các lời khai trong quá trình giải
quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị
đơn là ông Trần Hảo T trình bày:
Công ty V xác nhận về việc ký kết hợp đồng cho Công ty I thuê xe ô tô 07
chỗ (biển số đăng ký: 51G-415.00, loại xe Toyota INNOVA) với giá thuê
7.000.000 đồng/tháng và Công ty I đặt cọc số tiền là 300.000.000 đồng. Kết thúc
thời hạn thuê, hai bên biên bản thanh hợp đồng vào ngày 08/6/2020, Công
ty V cam kết trả lại toàn bộ số tiền đặt cọc cho Công ty I. Tuy nhiên, do tình
hình dịch bệnh Covid-19 ngày càng diễn biến phức tạp, Công ty V đang gặp k
khăn nên chưa thực hiện nghĩa vụ hoàn trả tiền đặt cọc cho ng ty I theo đúng
cam kết của biên bản thanh ngày 08/6/2020. Công ty V xác nhận còn nợ
Công ty I số tiền đặt cọc 300.000.000 đồng nhưng do hiện nay Công ty V
ngưng hoạt động nên không khả năng hoàn trả số tiền trên cho Công ty I.
Theo yêu cầu khởi kiện của Công ty I, Công ty V đồng ý trả lại số tiền
300.000.000 đồng cho Công ty I nhưng xin trả dần và đề nghị nguyên đơn không
tính lãi.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ginguyên ý kiến
nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh:
Không tham gia phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
3
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Công ty I khởi kiện yêu cầu Công ty V trả lại số tiền đặt cọc trong hợp
đồng cho thuê xe, các bên đăng kinh doanh đều mục đích lợi nhuận
nên xác định đây là vụ án kinh doanh thương mại về “Tranh chấp hợp đồng thuê
tài sản”. Bị đơn Công ty V đăng trụ sở tại huyện Nhà nên vụ án thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí
Minh theo quy định tại Khoản 1 Điều 30, điểm b Khoản 1 Điều 35 điểm a
Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về yêu cầu của nguyên đơn:
[2.1] Căn cứ Hợp đồng cho thuê xe số 11.06/19-HĐCTX-VR ngày
11/6/2019 biên bản thanh hợp đồng thuê xe ô ngày 08/6/2020. Theo đó
xác định giữa nguyên đơn bị đơn đã giao kết hợp đồng thuê tài sản 01 xe ô
(biển đăng 51G-415.00, loại xe Toyota INNOVA) với giá thuê
7.000.000 đồng/tháng, nguyên đơn đặt cọc thuê xe là: 300.000.000 đồng, thời
hạn thuê: từ ngày 11/6/2019 đến ngày 10/6/2020. Hết thời hạn thuê xe theo hợp
đồng, hai bên đã tiến hành biên bản thanh bị đơn cam kết hoàn trả lại
đầy đủ số tiền đặt cọc 300.000.000 đồng cho nguyên đơn nhưng bị đơn không
thực hiện. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trách nhiệm trả lại số
tiền đặt cọc thuê xe 300.000.000 đồng căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp
nhận.
[2.2] Đối với yêu cầu tính lãi của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét: Tại
biên bản thanh lý hợp đồng thuê xe ô tô ngày 08/6/2020, bị đơn cam kết trả lại s
tiền cọc 300.000.000 đồng cho nguyên đơn, hạn cuối cùng ngày 10/12/2020.
Tuy nhiên, đến hạn bị đơn vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả lại tiền cọc cho
nguyên đơn, gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Do đó,
nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trách nhiệm trả tiền lãi chậm trả từ ngày
11/12/2020 đến ngày xét xử (14/4/2021) theo mức lãi suất 9%/năm.
Do bđơn vi phạm nghĩa vụ trả tiền nên áp dụng quy định tại Điều 306
Luật thương mại năm 2005, bên nguyên đơn có quyền yêu cầu bị đơn trả tiền lãi
trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại
thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.
Hiện nay, mức lãi suất cho vay dài hạn của các Ngân hàng như sau: Ngân
hàng Nông nghiệp Phát triển nông thôn Việt Nam Chi nhánh Nhà
9,35%/năm, ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam Chi nhánh Tân Sài
Gòn 9,5%/năm, ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam 10,0%/năm,
sxác định mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường hiện nay là:
(9,35%+9,5%+10,0%)/3 x 150% = 14,42%/năm.
Tuy nhiên, nguyên đơn yêu cầu tính số tiền lãi chậm trả theo mức lãi suất
9%/năm dưới mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời
điểm xét xử và có lợi cho phía bị đơn, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận theo yêu
cầu của nguyên đơn. Như vậy, bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền lãi do
chậm thanh toán là 300.000.000 đồng x 9%/365 x 125 ngày = 9.246.575 đồng.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được
chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
4
Công ty I không phải chịu án phí nên được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí
đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 1 Điều 30, điểm b Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều
39, Điều 147, Điều 266, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 472, 328 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016;
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc ng ty V phải nghĩa vụ hoàn trả toàn bộ số tiền đặt cọc cho
Công ty I 309.246.575 (Ba trăm lẻ chín triệu hai trăm bốn mươi sáu ngàn năm
trăm bảy mươi lăm) đồng theo biên bản thanh hợp đồng thuê xe ô ngày
08/6/2020, trong đó tiền gốc là 300.000.000 đồng, tiền lãi là 9.246.575 đồng.
Trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật, người được thi hành án đơn
yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng
người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại
Điều 306 của Luật Thương mại năm 2005 tương ứng với số tiền thời gian
chậm thi hành án.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
2/ Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Công ty V phải chịu án phí 15.462.329 (Mười lăm triệu bốn trăm sáu
mươi hai ngàn ba trăm hai mươi chín) đồng.
- Hoàn tiền tạm ứng án phí 7.893.750 (Bảy triệu tám trăm chín mươi ba
ngàn bảy trăm năm mươi) đồng cho Công ty I theo biên lai thu số 0073287 ngày
15/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí
Minh.
3/ Về quyền kháng cáo: Các đương squyền kháng cáo trong thời hạn
15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
4/ Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành
án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
thi hành án dân sự.
5
Nơi nhận:
- TAND Tp.HCM;
- VKSND huyện Nhà Bè;
- Chi cục T.H.A.DS huyện Nhà Bè;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Lựu
Tải về
Bản án số 05/2021/KDTM-ST Bản án số 05/2021/KDTM-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất