Bản án số 05/2020/HSST ngày 13/02/2020 của TAND huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn về tội trộm cắp tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 05/2020/HSST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 05/2020/HSST
| Tên Bản án: | Bản án số 05/2020/HSST ngày 13/02/2020 của TAND huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn về tội trộm cắp tài sản |
|---|---|
| Tội danh: | 138.Tội trộm cắp tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Chợ Đồn (TAND tỉnh Bắc Kạn) |
| Số hiệu: | 05/2020/HSST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 13/02/2020 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ ĐỒN
TỈNH BẮC KẠN
Bản án số: 05/2020/HSST
Ngày 13/02/2020
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
N
N
H
H
Â
Â
N
N
D
D
A
A
N
N
H
H
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Cạn.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đức Nam.
2. Ông Nguyễn Viết Tác.
- Thư ký phiên tòa: Bà Mạc Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ
Đồn, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn tham gia
phiên tòa: Ông Đậu Xuân Hà - Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 02 năm 2020, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân
huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ
lý số: 02/2020/TLST - HS ngày 20 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án
ra xét xử số: 04/2020/QĐXXST - HS ngày 31 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:
HÀ VĂN T (tên gọi khác: Không), sinh ngày12/10/1990 tại huyện C, tỉnh Bắc
Kạn. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn C, xã R, huyện C, tỉnh Bắc Kạn;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 08/12; Dân tộc: Tày; Giới tính:
Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà Văn T1 và bà Đỗ Thị
H; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không (tuy nhiên tại bản án hình sự sơ thẩm số
44/2019/HSST ngày 18/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
tuyên phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản); Tiền sự: 01 tiền sự, ngày
03/12/2018 bị Công an xã Đông Viên, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi
phạm hành chính số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi
trộm cắp tài sản theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02/QĐ-XPVPHV
đến nay vẫn chưa thi hành việc nộp phạt.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/12/2019 và bị cáo đang chấp hành án theo
Quyết định thi hành án phạt tù số 41/2019/QĐ-CA ngày 23/12/2019 của Tòa án
nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn tại. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Hà Văn T: Ông Hà Văn T2 - Trợ giúp viên
pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt tại
phiên tòa. (Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa)
2
- Bị hại: Ông La Văn M, sinh năm 1974.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn.
Vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người làm chứng: Bà La Thị E, sinh năm 1969.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Nà V, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn.
Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tố tụng tại phiên tòa, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 14/11/2019, Hà Văn T khi đang ở nhà thì chuẩn bị 01
con dao bằng kim loại dài 39cm, dao có một lưỡi sắc, mũi dao cong, lưỡi dao chỗ
rộng nhất là 4,7cm; 01 con dao bằng kim loại dài 32cm, lưỡi dao dài 21cm, rộng
05cm, chuôi dao bằng nhựa màu đen dài 11cm; 01 chiếc bao tải dứa màu trắng
xanh, trên thân bao tải có in nhiều dòng chữ; 01 chiếc túi nilon màu trắng đục rồi
cho vào 01 chiếc ba lô được làm từ phần thân chiếc bao tải dứa có hai quai đeo rồi
mang theo đi bộ lên khu vực đồi P thuộc thôn N, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn để
tìm sâm cau. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, khi đang tìm sâm cau thì T phát hiện
khu vực vườn rừng của gia đình ông La Văn M, trú tại thôn N, xã Đ, huyện C, tỉnh
Bắc Kạn có trồng nhiều cây quế và không có ai trông coi nên nảy sinh ý định trộm
cắp tài sản (bóc trộm vỏ cây quế) để mang bán. Sau đó T vứt bỏ số sâm cau tìm
được trước đó rồi sử dụng dao bóc trộm vỏ của 10 cây quế, sau đó bó thành 01 bó
cho vào chiếc ba lô rồi đi bộ về để mang bán số vỏ cây quế bóc trộm được. Khi
đang đi bộ theo đường rừng về thì bị ông La Văn M phát hiện, giữ lại (do trước đó
ông M được bà La Thị E trú cùng thôn gọi điện thông báo về việc bà phát hiện khu
vực vườn rừng của ông bị kẻ gian bóc trộm vỏ cây quế) và sau đó ông M gọi điện
thoại báo cho Công an xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn đến lập biên bản sự việc, thu
giữ toàn bộ số vỏ cây quế và ban giao cho Công an huyện Chợ Đồn điều tra, xử lý.
Tại biên bản cân trọng lượng hồi 15 giờ 10 phút ngày 14/11/2019 xác định:
Tổng trọng lượng bó vỏ cây quế mà Hà Văn T lấy trộm được là 20kg (hai mươi
kilôgam).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 30/HĐ-ĐGTS ngày 27/11/2019 của Hội
đồng định giá tài sản huyện Chợ Đồn kết luận: “Giá trị của 20kg (hai mươi
kilôgam) vỏ cây quế, loại vỏ còn tươi tại thời điểm ngày 14/11/2019 có giá
480.000đ (bốn trăm tám mươi nghìn đồng)”.
Tại bản cáo trạng số: 05/CT-VKSCĐ ngày 20/01/2020 của Viện kiểm sát
nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Hà Văn T về tội: "Trộm
cắp tài sản" theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
3
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn tham gia
phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng
xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ
luật hình sự; Xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp với bản án hình sự sơ thẩm số
44/2019/HSST ngày 18/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
tuyên phạt 12 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản";
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đề nghị
xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố
tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 con dao bằng kim loại dài 39cm, dao có
một lưỡi sắc, mũi dao cong, lưỡi dao chỗ rộng nhất là 4,7cm; 01 con dao bằng kim
loại dài 32cm, lưỡi dao dài 21cm, rộng 05cm, chuôi dao bằng nhựa màu đen dài
11cm, dao có một lưỡi sắc; 01 chiếc bao tải dứa màu trắng xanh, trên thân bao tải
có in nhiều dòng chữ; 01 chiếc túi nilon màu trắng đục; 01 chiếc ba lô được làm từ
phần thân chiếc bao tải dứa có hai quai đeo.
- Về án phí: Bị cáo được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo nhận tội không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau
cùng trước khi nghị án xin được hưởng mức án thấp nhất.
Tại bản luận cứ của người bào chữa cho bị cáo cho rằng việc truy tố, xét xử
đối với bị cáo về tội danh như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng, đề nghị Hội đồng
xét xử căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ của Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét
xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào
kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý
kiến của Kiểm sát viên, bị cáo tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ
Đồn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, Kiểm sát viên trong
quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy
định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị
hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc
khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
4
Tại phiên tòa vắng mặt người bào chữa, bị hại và người làm chứng bị cáo
không đề nghị hoãn phiên tòa, Kiểm sát có ý kiến việc vắng mặt người bào chữa,
bị hại và người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử đề nghị Hội đồng xét
xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Ngày 03/12/2018, Hà Văn T bị Công an xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn xử phạt
vi phạm hành chính số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) về hành
vi trộm cắp tài sản theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02/QĐ-
XPVPHV ngày 03/12/2018 đến nay vẫn chưa thi hành việc nộp phạt.
Khoảng 12 giờ ngày 14/11/2019, Hà Văn T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt
20kg (hai mươi kilôgam) vỏ cây quế tươi có giá trị 480.000đ (bốn trăm tám mươi
nghìn đồng) của gia đình ông La Văn M, ở thôn N, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn
sau đó bị phát hiện, bắt quả tang thu giữ toàn bộ tang vật.
Mặc dù tài sản trộm cắp của Hà Văn T dưới 2.000.000đ (hai triệu đồng). Tuy
nhiên trước đó Hà Văn T đã bị Công an xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi
phạm hành chính số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi
trộm cắp tài sản (chiếm đoạt tài sản). Đến ngày 14/11/2019 vẫn chưa thi hành việc
nộp phạt và chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Do
đó, hành vi trộm cắp tài sản vỏ cây quế của Hà Văn T khoảng 12 giờ ngày
14/11/2019 đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại
điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Điều 173 có nội dung quy định như sau:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến
dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các
trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ
6 tháng đến 3 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 50.000.000đ.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài
sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an địa phương, gây
tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người đủ nhận thức hiểu biết
hành vi chiếm đoạt quyền sở hữu tài sản của người khác là vi phạm pháp
luật,nhưng bị cáo muốn có tiền để tiêu sài cá nhân không phải lao động nên bị cáo
cố ý thực hiện.
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo
để quyết định mức hình phạt phù hợp với bị cáo và đúng quy định của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Mặc dù Hà Văn T đến
thời điểm truy tố, xét xử đang chấp hành bản án hình sự sơ thẩm số 44/2019/HSST
ngày 18/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn tuyên phạt 12
tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", tuy nhiên do hành vi phạm tội lần này của Hà
Văn T được thực hiện trước khi bị xét xử và bản án có hiệu lực pháp luật nên Hà
5
Văn T không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật
hình sự và được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều
51 của Bộ luật hình sự đó là“Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn”, “Người
phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”.
Về hình phạt bổ sung : Căn cứ tài liệu xác minh của Cơ quan Cảnh sát điều tra
và thẩm vấn công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy bị cáo lao động tự do,
không có thu thập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[3] Đánh giá về quan điểm truy tố, đề nghị của Viện kiểm sát: Đại diện Viện
kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố như
nội dung bản cáo trạng, quan điểm của Viện kiểm sát là có căn cứ pháp luật. Hình
phạt của Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù, Hội đồng xét
xử thấy hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo là nằm trong
khung của điều luật bị truy tố là phù hợp.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại là ông La Văn M đã nhận lại số vỏ cây quế và có đơn không yêu cầu bị
cáo bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về vật chứng :
Đối với 20kg (hai mươi kilôgam) vỏ cây quế tươi. Quá trình điều tra Cơ quan
điều tra đã tiến hành trả lại cho chủ sở hữu là ông La Văn M.
Đối với 01 con dao bằng kim loại dài 39cm, dao có một lưỡi sắc, mũi dao
cong, lưỡi dao chỗ rộng nhất là 4,7cm; 01 con dao bằng kim loại dài 32cm, lưỡi
dao dài 21cm, rộng 05cm, chuôi dao bằng nhựa màu đen dài 11cm, dao có một
lưỡi sắc; 01 chiếc bao tải dứa màu trắng xanh, trên thân bao tải có in nhiều dòng
chữ; 01 chiếc túi nilon màu trắng đục; 01 chiếc ba lô được làm từ phần thân chiếc
bao tải dứa có hai quai đeo là công cụ phạm tội tịch thu tiêu hủy.
[6] Về án phí: Bị cáo có đơn xin miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm và căn cứ
vào quy định của pháp luật. Nên Hội đồng xét xử không buộc bị cáo phải chịu án
phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
* Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản".
* Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điểm h, s khoản 1 Điều 51,
Điều 56 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Hà Văn T 15 (mười lăm) tháng tù. Tổng hợp hình phạt của
bản án số 44/2019/HSST ngày 18/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn,
tỉnh Bắc Kạn xử phạt Hà Văn T 12 (mười hai) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản".
Buộc Hà Văn T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 27 (hai mươi
bẩy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt 12/12/2019.
- Trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu không xem xét giải quyết.

6
- Vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng
hình sự tịch thu tiêu 01 con dao bằng kim loại dài 39cm, dao có một lưỡi sắc, mũi
dao cong, lưỡi dao chỗ rộng nhất là 4,7cm; 01 con dao bằng kim loại dài 32cm,
lưỡi dao dài 21cm, rộng 05cm, chuôi dao bằng nhựa màu đen dài 11cm, dao có
một lưỡi sắc; 01 chiếc bao tải dứa màu trắng xanh, trên thân bao tải có in nhiều
dòng chữ; 01 chiếc túi nilon màu trắng đục; 01 chiếc ba lô được làm từ phần thân
chiếc bao tải dứa có hai quai đeo.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh
sát Điều tra Công an huyện Chợ Đồn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện
Chợ Đồn ngày 03 tháng 02 năm 2020)
Án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về án phí, lệ phí Tòa án và đơn xin miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm của bị
cáo. Bị cáo được miễn nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ
thẩm.
Xử án công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15
kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Bắc Kạn;
- VKSND tỉnh Bắc Kạn;
- Sở Tư pháp Bắc Kạn;
- VKSND huyện Chợ Đồn;
- Công an huyện Chợ Đồn;
- THADS huyện Chợ Đồn;
- Người tham gia tt;
- Lưu hồ sơ.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Duy Cạn
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 15/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 14/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 14/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 12/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 06/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 05/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 01/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 27/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 23/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 16/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Bản án số 04/2024/HS-PT ngày 05/02/2024 của TAND TP. Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình về tội trộm cắp tài sản
Ban hành: 05/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 05/02/2024 của TAND huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng về tội trộm cắp tài sản
Ban hành: 05/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 01/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 31/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 31/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 31/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 31/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 30/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 30/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm