Bản án số 04/2024/KDTM-PT ngày 22/02/2024 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 04/2024/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 04/2024/KDTM-PT ngày 22/02/2024 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 04/2024/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/02/2024
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng N1 - Công ty Cổ phần M
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ CẦN THƠ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 04/2024/KDTM - PT
Ngày: 22/02/2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Trí Dũng
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang
Võ Bích Hải
Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Ban Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần
Thơ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Đồng Thị Thanh
Nga - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 22 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cần Thơ
tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ số:
35/2023/TLPT-KDTM ngày 30 tháng 12 năm 2023, về tranh chấp “Hợp đồng tín
dụng”.
Do bản án kinh doanh thương mại thẩm số: 30/2023/KDTM-ST ngày 11
tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 05/2024/QĐPT-KDTM
ngày 05 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng N1.
Địa chỉ: B L, phường T, quận B, TP ..
Đại diện ủy quyền của nguyên đơn: ông Dương Văn N, ông Phan Huy P.
2. Bị đơn: Công ty Cổ phần M
Địa chỉ: 6 N nối dài, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần T.
Đại diện theo pháp luật: Bà Trần Thị Kim H Chủ tịch hội đồng quản trị
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Văn Phòng T.
Địa chỉ: A Q, phường A (nay là phường T), quận N, thành phố Cần Thơ.
Đại diện ủy quyền của Văn phòng T: Bà Dương Thị Thu H1
Địa chỉ: Số G, đường C, KV C, P.H, Q . N, thành phố Cần Thơ.
(Được ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 28/10/2019)
4. Người kháng cáo: Ngân hàng N1.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo án thẩm các tài liệu trong hồ thì nội dung vụ án được thể
hiện như sau:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng N1 (gọi tắt Ngân hàng N1) Công ty Cổ phần M (gọi tắt là
Công ty M) hợp đồng tín dụng số 01/HĐHMTD.2014 vào ngày 31/3/2014.
Hợp đồng đã hiệu lực, quá trình thực hiện hợp đồng do bị đơn Công ty M vi
phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải
thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc còn lại 49.985.000.000 đồng (bốn mươi chín t
chín trăm tám ơi lăm triệu đồng) nợ lãi tạm tính đến ngày 08/11/2019
31.669.584.028 đồng. Trong trường hợp bị đơn không thanh toán được nợ thì đề
nghị Tòa án cho phát mãi các tài sản thế chấp theo các hợp đồng thế chấp số
02/HĐTC.2013 ngày 24/7/2013, số 02/TCTS/MT.2014 ngày 17/01/2014; số
02/HĐTC.2009 ngày 08/10/2009 để thu hồi nợ cho Ngân hàng N1.
Bị đơn Công ty M trình bày:
Công ty M thống nhất một phần với trình bày của đại diện Ngân hàng N1 về
số nợ gốc còn lại 49.985.000.000 đồng (bốn ơi chín tỷ chín trăm tám mươi
lăm triệu đồng) và thống nhất còn nợ lãi nhưng chưa đối chiếu cụ thể lãi bao nhiêu.
Đối với 02 tài sản quyền sdụng đất của Văn phòng thành ủy thành phố T
Ngân hàng đang giữ Giấy chứng nhận QSH nhà quyền sử dụng đất số:
5401080162 do UBND tỉnh C cấp ngày 21/11/1996 GCN QSDĐ số C570228
(số vào sổ cấp GCN số 000054) ngày cấp 08/8/1994 đều đứng tên của Ban T1
nay Văn phòng T, 02 tài sản này bị đơn xác định rằng đây giao dịch tín dụng
giữa Công ty M với Ngân hàng N1 từ thời điểm năm 2009, khi Công ty vay tiền
của Ngân hàng N1 thì Văn phòng Thành ủy bảo lãnh đvay tiền, nhưng
khoản vay này Công ty đã trả nợ xong cho Ngân hàng N1, sau đó Công ty liên
hệ yêu cầu Ngân hàng N1 trả lại tài sản thế chấp cho Văn phòng Thành ủy nhưng
Ngân hàng không trả. Khi lại hợp đồng tín dụng số 01/HĐHMTD.2014 vào
ngày 31/3/2014 phía Ngân hàng N1 đã tự thêm phần thế chấp 02 tài sản trên vào
hợp đồng tín dụng chứ Văn phòng T vào năm 2014 không hxác nhận hay thực
hiện thủ tục ký giao dịch đảm bảo cho Công ty M1 vay tiền. Do vậy Công ty CP M
đề nghị Ngân hàng N1 phải trả lại 02 tài sản đứng tên Văn phòng T.
Đại diện ủy quyền của Văn phòng T trình bày:
Yêu cầu Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều tuyên bố Hợp đồng tín dụng số
01/HĐHMTD.2014 vào ngày 31/3/2014 giữa Ngân hàng N1 và Công ty CP M1 bị
hiệu một phần, phần hiệu liên quan đến 02 tài sản quyền sdụng đất của
Văn phòng T Ngân hàng đang giữ Giấy chứng nhận QSH nhà và quyền sử
dụng đất số 5401080162 do UBND tỉnh C cấp ngày 21/11/1996 GCN QSDĐ
số C570228 (số vào sổ cấp GCN số 000054) ngày cấp 08/8/1994 đều đứng tên của
3
Ban T1 nay là Văn phòng T, căn cứ để Văn phòng T yêu cầu tuyên bố hiệu là
Văn phòng T không ký đảm bảo cho Công ty CP M1 vay vốn theo hợp đồng tín
dụng năm 2014 đã nêu. Đề nghị Tòa án buộc Ngân hàng N1 phải trả lại cho Văn
phòng T 02 quyền sdụng đất của Văn phòng T Ngân hàng đang giữ Giấy
chứng nhận QSH nhà quyền sử dụng đất số 5401080162 do UBND tỉnh C
cấp ngày 21/11/1996 và GCN QSDĐ số C570228 (số vào sổ cấp GCN số 000054)
ngày cấp 08/8/1994 đều đứng tên của Ban T1 nay là Văn phòng T.
Tại bản án kinh doanh thương mại thẩm số: 30/2023/KDTM-ST ngày
11/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều tuyên xử như sau:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N1 đối
với bị đơn Công ty Cổ phần M.
- Buộc Công ty Cổ phần M phải trả cho Ngân hàng N1 số nợ gốc lãi còn
lại của Hợp đồng tín dụng số 01/HĐHMTD.2014 ngày 31/3/2014 tính đến ngày
30/8/2023 108.827.244.445 đồng (gồm: nợ gốc 49.985.000.000 đồng + lãi
58.842.244.445 đồng (lãi trong hạn 41.704.820.834 đồng, lãi quá hạn
17.137.423.611 đồng ). Bị đơn Công ty Cổ phần M vẫn phải tiếp tục chịu lãi phát
sinh theo số nợ gốc còn lại của hợp đồng tín dụng 01/HĐHMTD.2014 ngày
31/3/2014 tính từ ngày tiếp theo ngày 01/9/2023 cho đến khi bị đơn trả xong nợ
cho nguyên đơn, lãi được tính theo mức lãi trong hợp đồng tín dụng đã ký.
- Trường hợp Công ty Cổ phần M không trả được nhoặc trả nợ không đủ
cho Ngân hàng N1 thì Ngân hàng quyền yêu cầu Thi hành án phát mãi các tài
sản thế chấp theo HĐTC số 02/TCTS/MT.2014 ngày 17/01/2014, số công chứng
265, quyển số I/2014/TP/CC-SCC/HĐGD tại V ngày 20/01/2014 đã được đăng
giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại TP Hồ Chí Minh
ngày 07/3/2014 đối với các tài sản thế chấp gồm: Cụm A Nhà máy Đ, Cụm B
Nhà máy T2 (danh mục tài sản kèm theo của nhà máy Đ Danh mục máy móc
thiết b của Nhà máy T2 theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày
22/10/2018 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều) để thu hồi nợ.
- Không chấp nhận yêu cầu phát mãi các tài sản theo Hợp đồng thế chấp số
02/HĐTC.2009 ngày 08/10/2009 và số 02/HĐTC.2013 ngày 24/7/2013 để thu hồi
nợ của Ngân hàng N1.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập của Văn phòng T đối với Ngân hàng
N1.
- Tuyên hiệu một phần Hợp đồng tín dụng số: 01/HĐHMTD.2014 ngày
31/3/2014 phần liên quan đến hợp đồng thế chấp số: 02/HĐTC.2009 ngày
08/10/2009.
- Buộc Ngân hàng N1 phải trả cho Văn phòng T: Giấy chứng nhận QSH nhà
quyền sử dụng đất số: 5401080162 do UBND tỉnh C cấp ngày 21/11/1996
4
GCN QSDĐ số: C570228 (số vào sổ cấp GCN s000054) ngày cấp 08/8/1994
đều đứng tên của Ban T1 nay là Văn phòng T.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên chi phí tố tụng, án phí kinh doanh thương mại
sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 21/9/2023 Ngân hàng kháng cáo được yêu cầu phát mãi các quyền sử
dụng đất được hai bên kết trong hợp đồng thế chấp số: 02/HĐTC.2013 ngày
24/7/2013 và nhà máy, máy móc thiết bị đã thế chấp tài sản số: 02 TCTS/MT.2014.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng
cáo xác định lại chỉ yêu cầu phát mãi tài sản là quyền sử dụng đất theo hợp
đồng thế chấp số: 02/HĐTC.2013 ngày 24/7/2013.
Các đương sự còn lại vẫn giữ nguyên yêu cầu, ý kiến trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phát biểu ý kiến như
sau:
- Về thủ tục tố tụng: Đương sTòa án các cấp thực hiện đúng quy định
của pháp luật về tố tụng dân sự;
Về nội dung giải quyết vụ án: Nội dung án thẩm tuyên đúng quy định
của pháp luật, nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới
nên không có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu
kháng cáo của nguyên đơn và căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh
tụng tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Ngân hàng N1 (gọi tắt Ngân hàng) khởi kiện yêu cầu Công ty cổ phần M
(gọi tắt Công ty M) phải thanh toán nợ gốc lãi 108.827.244.445 đồng theo
hợp đồng tín dụng đã kết và phát mãi tài sản thế chấp nếu không thanh toán nợ.
Cấp thẩm thụ xét xử theo quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng tín dụng
có căn cứ, đúng pháp luật.
[1] Qua xem xét yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng H2 xét xử nhận thấy:
Ngân hàng kết hợp đồng tín dụng số: 01/HĐHMTD.2014 ngày
31/3/2014 cho Công ty M vay số tiền 60.000.000.000 đồng (sáu mươi tỷ đồng),
hợp đồng được kết số nợ gốc lãi bị đơn đều thừa nhận còn thiếu nợ gốc
49.985.000.000 đồng, nợ lãi tính ngày 07/9/2023 58.842.244.445 đồng, sau khi
vay bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc lãi. Do đó cấp thẩm tuyên
buộc bị đơn phải thanh toán số nợ trên căn cứ. Nguyên đơn bị đơn đều
thống nhất không ai có kháng cáo về phần này.
Để bảo đảm cho số nợ vay trên giữa Ngân hàng bị đơn kết các hợp
đồng thế chấp tài sản số: 02/HĐTC.2009 ngày 08/10/2009; hợp đồng số:
5
02/HĐTC.2013 ngày 24/7/2013 hợp đồng số: 02/TCTS/MT.2014 ngày
17/01/2014.
- Theo hợp đồng thế chấp số: 02/HĐTC.2009 ngày 08/10/2009 được V
công chứng xác nhận theo đó, các tài sản thế chấp được nêu trong HĐTC là: Giấy
chứng nhận QSH nhà quyền sử dụng đất số 5401080162 do UBND tỉnh C
cấp ngày 21/11/1996 và GCN QSDĐ số C570228 (số vào sổ cấp GCN số 000054)
ngày cấp 08/8/1994 đều đứng tên của Ban T1 nay Văn phòng T nhưng hợp
đồng thế chấp không được Văn phòng T ký kết lại Công ty CP M (không
phải chủ sở hữu tài sản) kết hợp đồng. Ngoài ra Văn phòng Thành ủy cũng
không Hợp đồng bảo lãnh không đăng giao dịch bảo đảm. Do đó cấp
thẩm không chấp nhận cho phát mãi tài sản thế chấp số: 02/HĐTC.2009 ngày
08/10/2009 căn cứ. Đối với Ngân hàng cũng không kháng cáo đối với
phần này nên cấp phúc thẩm cũng không đặt ra để xem xét.
[2] Theo hợp đồng thế chấp số: 02/HĐTC.2013 ngày 24/7/2013 được V
công chứng xác nhận theo đó, các tài sản thế chấp được nêu trong HĐTC là:
GCNQSDĐ AC 485315 (số vào sổ cấp GCN: T00001) do UBND thành phố C cấp
ngày 28/4/2005 cho Công ty M; GCNQSDĐ 295610 (số vào sổ cấp GCN:
T00005) do UBND thành ph C cấp ngày 04/7/2005 cho Công ty M
GCNQSDĐ số vào sổ cấp GCN: T00002 do UBND thành phố C cấp ngày
28/4/2005 cho Công ty M (nay Công ty Cổ phần M). Hợp đồng thế chấp trên
chưa được giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng đất đai theo đúng quy
định. Đồng thời, căn cứ vào 03 GCNQSnêu trên th hiện tính pháp của
nguồn gốc sử dụng đất Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm
Công ty Cổ phần M chỉ là đơn vị được nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng
năm chứ không phải Chủ sở hữu hợp pháp tài sản 03 GCNQSDĐ này. Trong
hồ vụ án cũng như tại phiên tòa thẩm nguyên đơn bị đơn đều thừa nhận
các tài sản QSDĐ này tài sản của Nhà nước không được Nhà nước cho
phép thế chấp để vay vốn. Do đó nguyên đơn yêu cầu được phát mãi tài sản thế
chấp theo hợp đồng số: 02/HĐTC.2013 ngày 24/7/2013 không căn cứ để
chấp nhận.
[3] Đối với HĐTC số: 02/TCTS/MT.2014 ngày 17/01/2014, số công chứng
265, quyển số I/2014/TP/CC-SCC/HĐGD tại V đã được đăng giao dịch bảo
đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại TP Hồ Chí Minh ký ngày
07/3/2014 đối với các tài sản thế chấp gồm: Cụm A Nhà máy Đ, Cụm B Nhà
máy T2. Hội đồng xét xử thấy rằng, các tài sản thế chấp này là tài sản thuộc sở hữu
của Công ty Cổ phần M đã được thế chấp, giao dịch bảo đảm theo đúng
quy định. Cấp thẩm cho phát mãi tài sản trên của bị đơn theo yêu cầu của
nguyên đơn căn cứ. Nguyên đơn đặt ra trong đơn kháng cáo nhưng đã
được cấp sơ thẩm xem xét chấp nhận nên cấp phúc thẩm không xét lại nữa.
6
[4] Đối với các quyết định khác liên quan đến v án nhưng không ai
kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không
đặt ra xem xét.
Căn cứ đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ sở
chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tuyên xử: Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng N1.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N1 đối
với bị đơn Công ty Cổ phần M.
Buộc Công ty Cổ phần M phải trả cho Ngân hàng N1 số nợ gốc và lãi còn lại
của Hợp đồng tín dụng số 01/HĐHMTD.2014 ngày 31/3/2014 tính đến ngày
30/8/2023 108.827.244.445 đồng (gồm: nợ gốc 49.985.000.000 đồng + lãi
58.842.244.445 đồng (lãi trong hạn 41.704.820.834 đồng, lãi quá hạn
17.137.423.611 đồng ). Bị đơn Công ty Cổ phần M vẫn phải tiếp tục chịu lãi phát
sinh theo số nợ gốc còn lại của hợp đồng tín dụng 01/HĐHMTD.2014 ngày
31/3/2014 tính từ ngày tiếp theo ngày 01/9/2023 cho đến khi bị đơn trả xong nợ
cho nguyên đơn, lãi được tính theo mức lãi trong hợp đồng tín dụng đã ký.
Trường hợp Công ty Cổ phần M không trả được nhoặc trả nợ không đủ
cho Ngân hàng N1 thì Ngân hàng quyền yêu cầu Thi hành án phát mãi các tài
sản thế chấp theo HĐTC số: 02/TCTS/MT.2014 ngày 17/01/2014, số công chứng
265, quyển số I/2014/TP/CC-SCC/HĐGD tại V ngày 20/01/2014 đã được đăng
giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại TP Hồ Chí Minh
ngày 07/3/2014 đối với các tài sản thế chấp gồm: Cụm A Nhà máy Đ, Cụm B
Nhà máy T2 (danh mục tài sản kèo theo của nhà máy Đ Danh mục y móc
thiết b của Nhà máy T2 theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày
22/10/2018 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều) để thu hồi nợ.
Không chấp nhận yêu cầu phát mãi các tài sản theo Hợp đồng thế chấp số:
02/HĐTC.2009 ngày 08/10/2009 và số 02/HĐTC.2013 ngày 24/7/2013 để thu hồi
nợ của Ngân hàng N1.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập của Văn phòng T đối với của Ngân
hàng N1.
- Tuyên hiệu một phần Hợp đồng tín dụng số: 01/HĐHMTD.2014 ngày
31/3/2014 phần liên quan đến hợp đng thế chấp số: 02/HĐTC.2009 ngày
08/10/2009.
7
- Buộc Ngân hàng N1 phải trả cho Văn phòng T: Giấy chứng nhận QSH nhà
ở và quyền sử dụng đất ở số 5401080162 do UBND tỉnh C cấp ngày 21/11/1996 và
GCN QSDĐ số C570228 (số vào sổ cấp GCN số 000054) ngày cấp 08/8/1994 đều
đứng tên của Ban T1 nay là Văn phòng T.
3. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
- Bị đơn Công ty Cổ phần M phải nộp án phí 216.827.244 đồng (hai trăm
mười sáu triệu tám trăm hai mươi bảy nghìn hai trăm bốn mươi bốn đồng).
- Ngân hàng N1 phải chịu án pkhông giá ngạch 3.000.000 đồng (ba
triệu đồng). Nguyên đơn Ngân hàng N1 đã nộp 82.408.000 đồng (tám mươi hai
triệu bốn trăm l tám nghìn đồng) tạm ứng án phí, chuyển 3.000.000 đồng (ba
triệu đồng) thành án phí. Ngân hàng N1 được nhận lại 79.408.000 đồng (bảy mươi
chín triệu bốn trăm lẻ tám nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số:
003407 ngày 15 tháng 02 năm 2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh
Kiều, thành phố Cần Thơ.
Văn phòng T được miễn nộp tạm ứng án phí nên không xét về tạm ứng.
Về chi phí tố tụng (xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc): Bị đơn Công ty Cổ
phần M phải chịu 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng). Nguyên đơn Ngân hàng
N1 đã nộp tạm ứng 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng), bị đơn Công ty Cổ phần
M phải nghĩa vụ trả lại cho nguyên đơn số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu
đồng).
Án phí phúc thẩm: Ngân hàng N1 phải chịu 2.000.000 đồng (hai triệu đồng)
nhưng được trừ tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 2.000.000 đồng (hai triệu
đồng) theo biên lai số: 0000132 ngày 22/9/2023 của Chi cục thi hành án dân sự
quận Ninh Kiều, Ngân hàng đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án
dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành
án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nơi nhận:
- Đương sự;
- VKSND TPCT;
- TAND Q. Ninh Kiều; (Đã ký)
- Chi Cục THADS Q. Ninh Kiều;
- Lưu (2b).
Trần Trí Dũng
Tải về
Bản án số 04/2024/KDTM-PT Bản án số 04/2024/KDTM-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất