Bản án số 04/2024/KDTM-PT ngày 02/04/2024 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng về tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 04/2024/KDTM-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 04/2024/KDTM-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 04/2024/KDTM-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 04/2024/KDTM-PT ngày 02/04/2024 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng về tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND cấp cao tại Đà Nẵng |
| Số hiệu: | 04/2024/KDTM-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 02/04/2024 |
| Lĩnh vực: | Kinh doanh thương mại |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Phạm Ngọc T. Giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 05/2023/KDTM-ST ngày 08 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG
Bản án số: 04/2024/KDTM-PT
Ngày 02/4/2024
V/v “Tranh chấp giữa thành viên
công ty với người chưa phải là
thành viên công ty nhưng có giao
dịch về chuyển nhượng phần vốn
góp; tranh chấp giữa công ty với
người quản lý trong công ty
trách nhiệm hữu hạn”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa:
Các Thẩm phán:
ông Phạm Ngọc Thái
ông Vũ Thanh Liêm
ông Phùng Anh Dũng
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Phương Mai - Thư ký Tòa án của Tòa án
nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên
tòa: ông Lê Văn Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà
Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số
15/TLPT-KDTM ngày 27 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp giữa thành viên
công ty với người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển
nhượng phần vốn góp; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty
trách nhiệm hữu hạn”; do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số
05/2023/KDTM-ST ngày 08 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng
Nam bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 411/2024/QĐ-PT ngày 04 tháng 3
năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: ông Phạm Ngọc T, sinh năm 1954; địa chỉ: thôn P, xã Đ,
huyện Đ, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền: ông Huỳnh Phan Q, Công ty L; địa chỉ liên
hệ: số E T, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

2
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: ông Dư Ngọc
T1, luật sư thuộc Công ty L; địa chỉ liên hệ: số E T, phường A, quận S, thành
phố Đà Nẵng. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: bà Huỳnh Thị Ngọc M, sinh năm 1977; địa chỉ: số F T, khối T,
phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn:
+ Luật sư Đỗ Thành N, Đoàn Luật sư thành phố Đ; địa chỉ: số B T,
phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
+ Luật sư Nguyễn Huy H, Đoàn Luật sư thành phố Đ; địa chỉ: số B T,
phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Trách nhiệm hữu hạn
H2. Địa chỉ trụ sở: số E H, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.
Người đại diện theo pháp luật: ông Đỗ Như C - Giám đốc;
Người đại diện theo ủy quyền: bà Trần Thị Thu P, sinh năm 1995; địa chỉ:
số B T, quận T, thành phố Đà Nẵng (văn bản ủy quyền ngày 27 tháng 7 năm
2023). Có mặt.
4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Công ty
Trách nhiệm hữu hạn Y. Địa chỉ trụ sở: số A H, thị trấn Á, huyện Đ, tỉnh Quảng
Nam.
Người đại diện theo pháp luật: ông Châu Ngạn H1 - Giám đốc;
Người đại diện theo ủy quyền: bà Trần Thị Thu P, sinh năm 1995; địa chỉ:
số B T, quận T, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
5. Người kháng cáo: nguyên đơn ông Phạm Ngọc T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Phía nguyên đơn trình bày: ông T góp vốn vào Công ty Trách nhiệm hữu
hạn Y (Viết tắt là Công ty Y), được cấp Giấy chứng nhận góp vốn ngày 31 tháng
12 năm 2020, tổng vốn góp là 540.000.000 đồng, đã làm thủ tục đăng ký góp
vốn là 360.000.000 đồng, còn lại chưa làm thủ tục là 180.000.000 đồng. Ngày
26 tháng 4 năm 2021, ông T và các thành viên khác của Công ty Y đã thống
nhất chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp của mình tại Công ty Y cho Công ty
Trách nhiệm hữu hạn H2 (Viết tắt là Công ty H2). Ngày 11 tháng 8 năm 2021,
ông T đã ký trước vào Hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp với bà Huỳnh
Thị Ngọc M (tại thời điểm này đang giữ chức vụ Giám đốc và là Người đại diện
theo pháp luật của Công ty Y, người do Công ty H2 cử tham gia ký kết Hợp
đồng chuyển nhượng). Sau đó, Công ty H2 đã hoàn tất thủ tục cập nhật xong
thay đổi thành viên trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho Công ty Y
tại cơ quan có thẩm quyền. Ngày 01 tháng 6 năm 2012, Công ty H2 có Công văn
111/2021/BB/HN, cam kết thanh toán tiền chuyển nhượng cho ông T thành 03
đợt: đợt 1, từ ngày 01/7/2021 – 15/7/2021 thanh toán 177.870.000 đồng; đợt 2,

3
từ ngày 01/10/2021 – 15/10/2021 thanh toán 177.870.000 đồng; đợt 3, từ tháng
03/2022 thanh toán 183.260.000 đồng. Sau nhiều lần ông T yêu cầu thanh toán,
đến ngày 10 tháng 02 năm 2023, bà Huỳnh Thị Ngọc M đã thanh toán cho ông T
số tiền chuyển nhượng phần vốn góp đợt 01 là 177.000.000 đồng. Theo đó,
nguyên đơn yêu cầu bà Huỳnh Thị Ngọc M thanh toán toàn bộ tiền chuyển
nhượng phần vốn góp còn lại tạm tính đến ngày 05 tháng 4 năm 2023 là
433.401.995 đồng. Tại phiên tòa, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về
nội dung yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền đợt 1 và một phần của đợt 2 là
146.782.105 đồng, yêu cầu bị đơn tiếp tục thanh toán số tiền phát sinh từ giao
dịch chuyển nhượng phần vốn góp với số tiền 297.602.198 đồng (tiền gốc còn
lại của đợt 2 và 3 là 215.217.895 đồng và tiền lãi tính đến ngày 25 tháng 7 năm
2023 là 82.384.303 đồng (không yêu cầu tính lãi sau ngày 25 tháng 7 năm
2023). Nguyên đơn không đồng ý việc Công ty H2 chịu trách nhiệm thực hiện
nghĩa vụ thanh toán cho bà M. Nguyên đơn không đồng ý với yêu cầu độc lập
của Công ty Y vì cho rằng khi còn là thành viên của Công ty Y, ông T đã thực
hiện đúng quyền, nghĩa vụ; các khoản tiền Công ty Y yêu cầu bồi thường phát
sinh sau khi ông T chuyển nhượng vốn, là trách nhiệm của Công ty, không phải
trách nhiệm của cá nhân ông T.
Phía bị đơn trình bày: bị đơn thừa nhận có ký hợp đồng nhận phần vốn
góp như nguyên đơn trình bày, thừa nhận số tiền phải thanh toán đợt 1, đợt 2 và
số tiền lãi phát sinh theo các biên bản cuộc họp của Công ty H2, riêng đợt 3 thì
chưa đến thời hạn thanh toán. Bà Huỳnh Thị Ngọc M cho rằng nếu có nghĩa vụ
phát sinh thì trách nhiệm thanh toán thuộc về Công ty H2 vì bà đại diện cho
Công ty H2 ký hợp đồng nhận chuyển nhượng và hợp đồng 360.000.000 đồng
đã thanh toán xong, đồng thời các thỏa thuận về số tiền thanh toán, đợt thanh
toán đều do Công ty H2 thỏa thuận với ông T, bà tham gia với tư cách là đại
diện của Công ty chứ không phải tư cách cá nhân.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có ý kiến như sau:
- Công Ty H2 thừa nhận số tiền phải thanh toán cho ông T theo hợp đồng
chuyển nhượng phần vốn góp 539.000.000 đồng, xác nhận số tiền đã thanh toán,
đồng ý trả gốc còn lại của đợt 2 và tiền lãi đợt 2 cho ông T, tiền gốc và tiền lãi
đợt 3 chưa đến kỳ hạn thanh toán. Công ty H2 cho rằng bà M không có nghĩa vụ
thanh toán cho ông T vì bà M được Công ty H2 cử đứng ra ký hợp đồng nhận
chuyển nhượng vốn từ ông T, còn việc thanh toán hợp đồng là do Công ty H2
chịu trách nhiệm, điều này đã được Công ty tích cực đàm phán với ông T và
thực hiện thanh toán tiền từ khi giao dịch đến nay.
- Công ty Y có yêu cầu độc lập, yêu cầu ông T bồi thường thiệt hại phát
sinh khi ông T làm đại diện theo pháp luật của Công ty gây ra, tổng số tiền
190.388.440 đồng, gồm: tiền phạt theo Quyết định số 1460/QĐ - XPVPHC của
Chi cục thuế huyện Đ 28.542.835 đồng và tiền cơ quan bảo hiểm xã hội từ chối
thanh toán là 161.845.605 đồng. Tại phiên tòa, Công ty Y rút lại phần yêu cầu
bồi thường số tiền 105.006.171 đồng, tiếp tục yêu cầu bồi thường số tiền cơ

4
quan thuế phạt 28.542.835 đồng và tiền cơ quan bảo hiểm từ chối thanh toán là
56.877.331 đồng, tổng số tiền là 85.420.166 đồng.
- Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: bản photo các hợp đồng
chuyển nhượng phần vốn góp; các văn bản họp, thỏa thuận việc thanh toán tiền
chuyển nhượng; quyết định xử phạt của cơ quan thuế, tài liệu về xuất toán tiền
bảo hiểm; điều lệ Công ty Y; giấy ủy quyền; quan điểm trình bày của các đương
sự; thủ tục tố tụng tại Tòa án; đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản
tố và các tài liệu liên quan khác.
Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 05/2023/KDTM-ST ngày
08/8/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam đã quyết định:
Căn cứ các điều 30, 39, 217, 244 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; các điều
13, 14 Luật Doanh nghiệp năm 2014; các điều 12, 13, 49, 51, 52 Luật Doanh
nghiệp 2020; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Đình chỉ xét xử phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc
bà Huỳnh Thị Ngọc M phải trả tiền thanh toán hợp đồng chuyển nhượng vốn
góp cho ông Phạm Ngọc T với số tiền 146.782.105 (một trăm bốn mươi sáu
triệu, bảy trăm tám mươi hai nghìn, một trăm lẻ năm) đồng.
Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu độc lập của Công ty Trách nhiệm
hữu hạn Y về việc buộc ông Phạm Ngọc T phải bồi thường cho Công ty Trách
nhiệm hữu hạn Y số tiền 105.006.171 (một trăm lẻ năm triệu, không trăm lẻ sáu
nghìn, một trăm bảy mươi mốt) đồng.
Quyền khởi kiện lại của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan có yêu cầu độc lập đối với các yêu cầu bị đình chỉ được thực hiện theo quy
định của pháp luật tố tụng dân sự.
2. Không chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc
bà Huỳnh Thị Ngọc M trả cho ông Phạm Ngọc T số tiền 297.602.198 (hai trăm
chín mươi bảy triệu, sáu trăm lẻ hai nghìn, một trăm chín mươi tám) đồng, gồm
tiền gốc là 215.217.895 đồng và tiền lãi là 82.384.303 đồng.
3. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của Công ty Trách nhiệm hữu hạn
Y về việc buộc ông Phạm Ngọc T phải bồi thường cho Công ty Trách nhiệm
hữu hạn Y số tiền 32.397.264 (ba mươi hai triệu, ba trăm chín mươi bảy nghìn,
hai trăm sáu mươi tư) đồng, gồm: tiền phạt thuế là 28.542.835 đồng và tiền cơ
quan bảo hiểm từ chối thanh toán là 3.854.429 đồng.
Không chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của Công ty Trách nhiệm hữu
hạn Y về việc buộc ông Phạm Ngọc T phải bồi thường cho Công ty Trách nhiệm
hữu hạn Y số tiền 53.022.902 (năm mươi ba triệu, không trăm hai mươi hai
nghìn chín trăm lẻ hai) đồng.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí kinh doanh thương
mại sơ thẩm, về quy định thi hành án và thông báo về quyền kháng cáo.

5
Trong thời hạn luật định, ngày 19/8/2023 nguyên đơn ông Phạm Ngọc T
có đơn kháng cáo, với nội dung: kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm đề nghị Tòa
phúc thẩm, sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn; không chấp nhận yêu cầu độc lập của Công ty TNHH Y.
Tại phiên tòa phúc thẩm: nguyên đơn ông Phạm Ngọc T, không rút đơn
khởi kiện, vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận
được với nhau về việc giải quyết vụ án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp
cao tại Đà Nẵng nêu quan điểm giải quyết vụ án; đề nghị Hội đồng xét xử không
chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra
các chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến
của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận
định như sau:
[1] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Phạm Ngọc T thì thấy:
[1.1]. Ông Phạm Ngọc T là thành viên Công ty Y khởi kiện, yêu cầu bà
Huỳnh Thị Ngọc M (người chưa phải là thành viên công ty) thực hiện nghĩa vụ
thanh toán phát sinh từ giao dịch chuyển nhượng phần vốn góp. Công ty Y yêu
cầu ông Phạm Ngọc T thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người
quản lý công ty. Căn cứ các quy định tại các khoản 3, 4 Điều 30; Điều 37; khoản
1, 3 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành thụ
lý giải quyết vụ án kinh doanh thương mại và xác định quan hệ pháp luật tranh
chấp: “Tranh chấp giữa thành viên công ty với người chưa phải là thành viên
công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp; tranh chấp giữa
công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn” là đúng pháp
luật.
[1.2]. Nguyên đơn có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về nội dung
yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền đợt 1 và một phần của đợt 2 là 146.782.105
đồng; người đại diện hợp pháp của Công ty Y có đơn xin rút một phần yêu cầu
độc lập đối với số tiền yêu cầu bồi thường thiệt hại 105.006.171 đồng. Việc rút
lại một phần yêu cầu khởi kiện, yêu cầu độc lập của đương sự là tự nguyện, nên
Bản án sơ thẩm đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện, yêu cầu độc lập của
đương sự đã rút theo quy định tại các điều 217, 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015 là có căn cứ.
[2] Về nội dung:
[2.1] Đối với việc nguyên đơn ông Phạm Ngọc T khởi kiện, yêu cầu bị
đơn thanh toán nghĩa vụ trả tiền phát sinh từ giao dịch chuyển nhượng phần vốn
góp với số tiền 297.602.198 đồng. Bị đơn cho rằng nghĩa vụ thanh toán thuộc
Công ty H2.
Hội đồng xét xử thấy: nguyên đơn ông Phạm Ngọc T xuất trình hợp đồng
chuyển nhượng phần vốn góp lập ngày 11 tháng 8 năm 2021 (BL 06) để chứng

6
minh cho yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ thanh toán, nhưng nội dung hợp
đồng này thể hiện giá trị hợp đồng là 360.000.000 đồng và bên nhận chuyển
nhượng (bà M) đã thanh toán xong số tiền 360.000.000 đồng. Các tài liệu,
chứng cứ khác mà nguyên đơn xuất trình chứng minh thỏa thuận nhận nợ, trả nợ
làm 03 đợt đều thể hiện nội dung Công ty H2 cam kết trả, bà M có tham gia thỏa
thuận nhưng với tư cách là đại diện cho công ty (BL 09 – 26).
Bà M và Công ty H2 đều cho rằng việc bà M đứng ra ký hợp đồng chuyển
nhượng phần vốn góp của ông T là dựa trên sự thỏa thuận và phân công của
Công ty H2. Quan điểm này phù hợp với nội dung khởi kiện của ông T tại đơn
khởi kiện là: “ngày 26 tháng 4 năm 2021, tôi và các thành viên khác của Công
ty Y đã thống nhất chuyển nhượng phần vốn góp của mình tại Công ty Y cho
Công ty H2” và “tôi đã ký vào hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp với bà
Huỳnh Thị Ngọc M (…người do Công ty H2 cử/tham gia ký kết hợp đồng)”.
Nội dung thể hiện trong Biên bản họp Hội đồng thành viên nội bộ ngày 26 tháng
4 năm 2021 (BL 07 - 08), Văn bản ủy quyền lập ngày 20 tháng 11 năm 2022
giữa ông T với Công ty L (BL 48), Biên bản làm việc ngày 10 tháng 12 năm
2022 giữa đại diện cho Công ty L với Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc,
Giám đốc tài chính của Công ty Y (BL 51, 52), đơn đề nghị của ông Phạm Ngọc
T lập ngày 26 tháng 11 năm 2022 (gửi Công ty H2, Công ty Y, ông Đỗ Như C,
bà Huỳnh Thị Ngọc M), các phiếu chi tiền mặt của Công ty H2 ngày 10 tháng
02 năm 2023 và ngày 26 tháng 7 năm 2023. Phía nguyên đơn khẳng định không
đồng ý và không yêu cầu Công ty H2 thanh toán nghĩa vụ chuyển nhượng phần
vốn góp mà nguyên đơn khởi kiện bị đơn.
Do đó, không có căn cứ pháp luật và cơ sở thực tiễn để xác định cá nhân
bà Huỳnh Thị Ngọc M đã ký kết giao dịch nhận chuyển nhượng phần vốn góp
539.000.000 đồng và chưa thanh toán cho người chuyển nhượng là ông Phạm
Ngọc T số tiền nợ phát sinh từ giao dịch chuyển nhượng phần vốn góp của ông
T trong Công ty Y là 297.602.198 đồng (cả nợ gốc và lãi) nên không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bà M phải thực hiện nghĩa vụ
thanh toán số tiền này. Bản án sơ thẩm nhận định bà M không có nghĩa vụ thanh
toán toàn bộ số tiền 297.602.198 đồng nên không xem xét về điều kiện khởi kiện
của nguyên đơn đối với số tiền chưa thanh toán đợt 3 thuộc yêu cầu khởi kiện là
có căn cứ.
[2.2.] Đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Công ty Y yêu cầu ông T bồi thường số tiền 85.420.166 đồng thì thấy:
- Về số tiền phạt liên quan đến thuế: Quyết định số 1460/QĐ - XPVPHC
ngày 31 tháng 5 năm 2021 xác định Công ty Y đã có hành vi vi phạm hành
chính về thuế trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2020, tổng số tiền phạt và
khắc phục hậu quả là 28.542.835 đồng. Như vậy, đây là các nghĩa vụ của Công
ty Y phải thực hiện với cơ quan có thẩm quyền do sai sót phát sinh trong thời
điểm ông Phạm Ngọc T là người đại diện theo pháp luật của Công ty Y. Tại
Điều 16 của Điều lệ Công ty Y xác định: ông Phạm Ngọc T là người đại diện
theo pháp luật của Công ty và “Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

7
chịu trách nhiệm cá nhân đối với những thiệt hại cho doanh nghiệp do vi phạm
nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều này”. Mặt khác, tại văn bản thỏa thuận lập
ngày 05 tháng 5 năm 2021, ông Phạm Ngọc T (là đại diện theo pháp luật của
Công ty Y) thỏa thuận với bà Huỳnh Thị Ngọc M khi tiến hành thủ tục chuyển
nhượng toàn bộ phần vốn góp của ông T là “bên A (Công ty Y) có trách nhiệm
thanh toán các khoản nợ phải thu…khoản nợ phải trả như (…thuế, bảo hiểm..)”
và “nếu sau ngày hoàn tất việc chuyển nhượng vốn mà phát hiện những nghĩa
vụ của bên A chưa thực hiện thì bên A phải chịu trách nhiệm thực hiện các
nghĩa vụ này, bên B không có trách nhiệm phải thực hiện”. Theo đó, bản án sơ
thẩm đã chấp nhận yêu cầu độc lập của Công ty Y về nội dung này là có căn cứ.
- Về số tiền cơ quan bảo hiểm xã hội từ chối thanh toán: Công ty Y yêu
cầu bồi thường 56.877.331 đồng do sai sót của ông T phát sinh trong quá trình
quản lý công ty V năm 2021. Tại Công văn số 14/PKĐK - HCNS ngày 25 tháng
7 năm 2023, Phòng Khám Đ xác nhận: “ông Phạm Ngọc T chỉ chịu trách nhiệm
đối với số tiền xuất toán từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 đến ngày 15 tháng 3
năm 2021 là 3.854.429 đồng với trách nhiệm người đứng đầu chuyên môn và là
người đại diện theo pháp luật của Phòng khám; các khoản tiền còn lại
157.991.176 đồng sau ngày 16 tháng 3 năm 2021 không liên quan đến ông T”.
Bản án sơ thẩm đã chấp nhận một phần yêu cầu của Công ty Y liên quan đến số
tiền 3.854.429 đồng và không chấp nhận số tiền yêu cầu bồi thường còn lại là
53.022.902 đồng.
Căn cứ Điều 14 Luật Doanh nghiệp năm 2014 (và Điều 13 Luật Doanh
nghiệp năm 2020) quy định: “1. Người đại diện theo pháp luật của doanh
nghiệp có trách nhiệm sau đây: a) Thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao
một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp của
doanh nghiệp; b) Trung thành với lợi ích của doanh nghiệp; không sử dụng
thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp, không lạm dụng địa vị,
chức vụ và sử dụng tài sản của doanh nghiệp để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của
tổ chức, cá nhân khác; c) Thông báo kịp thời, đầy đủ, chính xác cho doanh
nghiệp về việc người đại diện đó và người có liên quan của họ làm chủ hoặc có
cổ phần, phần vốn góp chi phối tại các doanh nghiệp khác. 2. Người đại diện
theo pháp luật của doanh nghiệp chịu trách nhiệm cá nhân đối với những thiệt
hại cho doanh nghiệp do vi phạm nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều này”.
Đối chiếu các nhận định trên với các điều luật viện dẫn, Bản án sơ thẩm
chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của Công ty Y về việc buộc ông Phạm
Ngọc T phải bồi thường cho Công ty Y số tiền 32.397.264 (ba mươi hai triệu,
ba trăm chín mươi bảy nghìn, hai trăm sáu mươi tư) đồng, gồm: tiền phạt thuế
28.542.835 đồng và tiền cơ quan bảo hiểm từ chối thanh toán 3.854.429 đồng là
đúng pháp luật.
[3] Từ những nhận định trên, xét thấy, Bản án sơ thẩm đã giải quyết vụ án
là đúng pháp luật. Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn kháng cáo nhưng không
cung cấp được thêm tài liệu, chứng cứ mới nào khác để chứng minh cho yêu cầu
kháng cáo của mình nên không có căn cứ chấp nhận; do đó Hội đồng xét xử

8
chấp nhận quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại
Đà Nẵng không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Do người kháng cáo bị bác kháng cáo nên nguyên đơn ông Phạm
Ngọc T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Hội đồng xét
xử xét thấy ông Phạm Ngọc T là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên
được miễn án phí.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Phạm Ngọc T. Giữ
nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 05/2023/KDTM-ST ngày 08
tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
- Căn cứ các điều 30, 39, 217, 244 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; các điều
13, 14 Luật Doanh nghiệp năm 2014; các điều 12, 13, 49, 51, 52 Luật Doanh
nghiệp 2020; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Đình chỉ xét xử phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc
bà Huỳnh Thị Ngọc M phải trả tiền thanh toán hợp đồng chuyển nhượng vốn
góp cho ông Phạm Ngọc T với số tiền 146.782.105 (một trăm bốn mươi sáu
triệu, bảy trăm tám mươi hai nghìn, một trăm lẻ năm) đồng.
Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu độc lập của Công ty Trách nhiệm
hữu hạn Y về việc buộc ông Phạm Ngọc T phải bồi thường cho Công ty Trách
nhiệm hữu hạn Y số tiền 105.006.171 (một trăm lẻ năm triệu, không trăm lẻ sáu
nghìn, một trăm bảy mươi mốt) đồng.
Quyền khởi kiện lại của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan có yêu cầu độc lập đối với các yêu cầu bị đình chỉ được thực hiện theo quy
định của pháp luật tố tụng dân sự.
2. Không chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc
bà Huỳnh Thị Ngọc M trả cho ông Phạm Ngọc T số tiền 297.602.198 (hai trăm
chín mươi bảy triệu, sáu trăm lẻ hai nghìn, một trăm chín mươi tám) đồng, gồm
tiền gốc là 215.217.895 đồng và tiền lãi là 82.384.303 đồng.
3. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của Công ty Trách nhiệm hữu hạn
Y về việc buộc ông Phạm Ngọc T phải bồi thường cho Công ty Trách nhiệm
hữu hạn Y số tiền 32.397.264 (ba mươi hai triệu, ba trăm chín mươi bảy nghìn,
hai trăm sáu mươi tư) đồng, gồm: tiền phạt thuế là 28.542.835 đồng và tiền cơ
quan bảo hiểm từ chối thanh toán là 3.854.429 đồng.

9
Không Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của Công ty Trách nhiệm
hữu hạn Y về việc buộc ông Phạm Ngọc T phải bồi thường cho Công ty Trách
nhiệm hữu hạn Y số tiền 53.022.902 (năm mươi ba triệu, không trăm hai mươi
hai nghìn chín trăm lẻ hai) đồng.
4. Về án phí phúc thẩm: áp dụng Điều 2 Luật người cao tuổi năm 2009;
điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí
Tòa án.
Miễn nộp tiền án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm cho ông T.
5. Các quyết định về: án phí sơ thẩm, chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng
cáo và thi hành án được thực hiện theo quyết định tại Bản án kinh doanh thương
mại sơ thẩm số 05/2023/KDTM-ST ngày 08 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân
dân tỉnh Quảng Nam.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
- TAND tỉnh Quảng Nam;
- VKSND tỉnh Quảng Nam;
- Cục THADS tỉnh Quảng Nam;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu HSVA, P.HCTP, LT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Phạm Ngọc Thái
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng