Bản án số 04/2022/HS-ST ngày 17/01/2022 của TAND TP. Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 04/2022/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 04/2022/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 04/2022/HS-ST ngày 17/01/2022 của TAND TP. Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về tội tàng trữ trái phép chất ma túy |
|---|---|
| Tội danh: | 249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Phúc Yên (TAND tỉnh Vĩnh Phúc) |
| Số hiệu: | 04/2022/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 17/01/2022 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHÚC YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC
Bản án số: 04/2022/HS-ST
Ngày 17 - 01 - 2022
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Thúy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thịnh và bà Doãn Thị Vệ;
-Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Bình Phương - Thư ký Toà án nhân dân thành
phố Phúc Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên tham gia phiên
toà: Ông Lưu Hoàng Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phúc
Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:
135/2021/TLST-HS ngày 21 tháng 12 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số: 03/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:
Đặng Văn T, sinh ngày 02/08/1993; tại Vĩnh Phúc; giới tính: Nam; địa chỉ:
Tổ dân phố T, phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; quốc tịch: Việt Nam; dân
tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự
do; con ông Đặng Ngọc T và con bà Nguyễn Thị S; có vợ và 01 con; tiền án,
tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/11/2021 đến nay, có mặt;
* Người chứng kiến:
-Anh Nguyễn Tiến C, sinh năm 1976, vắng mặt;
-Anh Nguyễn Tiến T, sinh năm 1978, vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 10 phút ngày 12 tháng 11 năm 2021, Đặng Văn T đang ngồi
uống nước ở khu vực dốc T thuộc tổ 6, phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc
thì có người bạn nghiện mới quen tên là T đi xe mô tô đến rủ T đi mua ma túy
để cùng sử dụng. Đặng Văn T đồng ý, nên T điều khiển xe môtô chở T đến khu
vực gần cổng trường mầm non T thuộc tổ dân phố số 3 Đ, phường T, thành phố
2
P, tỉnh Vĩnh Phúc thì dừng xe. Lúc này T gọi điện thoại cho ai đó để hỏi mua ma
túy, sau đó T chỉ tay về hướng cột điện rồi bảo T đến lấy ma túy bên trong vỏ
bao thuốc lá Thăng Long màu vàng để ở gần cột điện. Đặng Văn T đi bộ đến vị
trí cột điện ở gần đó cầm bao thuốc lá Thăng Long, mở ra xem thì thấy bên
trong có 01 túi ma túy tổng hợp dạng đá. T cầm bao thuốc lá Thăng Long bên
trong có túi ma túy đá, để quay lại vị trí T đang đứng đợi để tìm nơi sử dụng, thì
bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang cùng T bộ tang vật, còn T
phóng xe mô tô bỏ chạy thoát.
*Cơ quan điều tra thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:
01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có 01 túi nilon màu trắng
viền đỏ, bên trong túi nilon này có chứa các tinh thể dạng đá màu trắng. Đặng
Văn T khai nhận đó là túi ma túy đá, được niêm phong trong phong bì kí hiệu
A1 theo quy định của pháp luật; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO
A53 màu xanh, màn hình cảm ứng bị nứt vỡ;
Cơ quan Công an cũng đã thu và niêm phong mẫu nước tiểu của T vào một
chai nhựa để phục vụ công tác giám định chất ma túy theo quy định.
Tại Bản kết luận giám định số: 2892/KLGĐ ngày 16/11/2021 của Phòng
Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc, kết luận: “Tinh thể dạng đá màu
trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,3921gam
(Không phảy ba chín hai một gam, không kể bao bì) loại Methamphetamine.”
Tại Bản kết luận giám định số: 3010/KLGĐ ngày 17/11/2021 của Phòng
Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc; kết luận: “Tìm thấy chất ma túy
Methamphetaminetrong mẫu chất lỏng màu vàng ghi là mẫu nước tiểu thu của
Đặng Văn T -SN: 1993, HKTT: TDP T, phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc
gửi đến giám định”
Cơ quan giám đinh đã hoàn lại mẫu trả A1= 0,3378g cùng T bộ bao gói và
01 vỏ chai nhựa;
Đối với đối tượng tên T mà T khai rủ và chở T đi mua ma túy, Cơ quan
điều tra đã xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân lai lịch, nên Cơ quan
điều tra tiếp tục làm rõ xử lý sau;
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Đặng Văn T đã thành khẩn khai nhận hành vi
vi phạm của bản thân như đã nêu trên, lời khai của T phù hợp với các tài liệu,
chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số: 04/CT - VKSPY ngày 20 tháng 12 năm 2021, Viện
kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên truy tố bị cáo Đặng Văn T về tội: “Tàng
trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ
luật hình sự.
Tại phiên toà Kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét
xử tuyên bố bị cáo Đặng Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1,
Điều 51 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo từ 01 năm 08 tháng đến 01 năm 09
3
tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam
ngày 12 tháng 11 năm 2021. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và
đề nghị xử lý vật chứng như Cáo trạng đã đề cập; bị cáo phải nộp án phí theo
quy định;.
Sau khi thẩm tra các chứng cứ có trong hồ sơ, nghe lời khai của bị cáo, ý
kiến của Kiểm sát viên;
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành
phố Phúc Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên,
Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền,
trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại
phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành
vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó,
các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Đặng Văn T đã khai
nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng mà Viện kiểm sát
nhân dân thành phố Phúc Yên đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo là phù hợp
với các tài liệu có trong hồ sơ như: Lời khai của người chứng kiến; Biên bản bắt
người phạm tội quả tang; Bản kết luận giám định; phù hợp với vật chứng đã thu
giữ hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 14 giờ 30
phút ngày 12 tháng 11 năm 2021, tại khu vực tổ dân phố số 3 Đ, phường T, thành
phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; với mục đích để sử dụng Đặng Văn T đã có hành vi tàng
trữ trái phép 0,3921 gam ma túy Methamphetamine; thì bị Công an phát hiện, bắt
quả tang.
Hành vi nêu trên của bị cáo Đặng Văn T đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái
phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình
sự như sau: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy…thuộc một trong các
trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…….
c) ……………..Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới
05 gam”.
Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
truy tố bị cáo theo Cáo trạng số: 04/CT – VKSPY ngày 20 tháng 12 năm 2021 là
hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
4
[3] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo Đặng
Văn T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý
của nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng tình hình trị an địa phương. Do vậy
cần xử lý nghiêm minh trước pháp luật nhằm giáo dục riêng đối với bị cáo và
phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
[4] Xét nhân thân, tính chất vụ án và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo học hết lớp 9 thì nghỉ học,
nghiện ma túy từ năm 2020. Trong quá trình điều tra truy tố xét xử bị cáo luôn
thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm của mình; nên được hưởng
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ
luật hình sự. Tuy nhiên, cần phải áp dụng hình phạt tù giam mới có tác dụng răn
đe, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và làm rõ tại phiên tòa bị cáo
tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích để sử dụng, hiện bị cáo không có tài
sản, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Vì vậy không cần thiết phải áp
dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo là phù hợp.
[6] Đối với đối tượng tên T mà T khai rủ và chở T đi mua ma túy, Cơ
quan điều tra xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân lai lịch, địa chỉ nên
tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ xử lý sau là phù hợp;
[7] Về vật chứng vụ án:
Cần tịch thu, tiêu hủy mẫu A1= 0,3378g cùng T bộ bao gói, 01 chai nhựa,
01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long;
Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động OPPO A53, vì không có
liên quan đến hành vi phạm tội; nhưng tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án;
[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đặng Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật
hình sự;
Xử phạt bị cáo Đặng Văn T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù;
thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 12
tháng 11 năm 2021.
*Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật
tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy mẫu A1= 0,3378gam cùng toàn bộ bao gói và 01 vỏ
chai nhựa chứa 0,0ml đã niêm phong và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu
vàng.
5
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A53, màu xanh,
màn hình cảm ứng bị nứt vỡ; nhưng tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án;
(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 22
tháng 12 năm 2021, tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên).
Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội; buộc bị cáo Đặng Văn T phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn
đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên;
- Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Phúc Yên;
- Thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên;
- Cơ quan THA hình sự có thẩm quyền;
- Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc
- Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
- Người tham gia tố tụng;
LƯU THỊ THÚY
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng