Bản án số 04/2021/DS-PT ngày 19/01/2021 của TAND tỉnh Quảng Bình về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 04/2021/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 04/2021/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 04/2021/DS-PT ngày 19/01/2021 của TAND tỉnh Quảng Bình về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Quảng Bình |
| Số hiệu: | 04/2021/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 19/01/2021 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Công ty Th khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại về danh dự nhân phẩm, uy tín |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH QUẢNG BÌNH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 04/2021/DS-PT
Ngày: 19 - 01 - 2021
V/v tranh chấp bồi thường thiệt
trong lĩnh vực đấu thầu
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Sơn
Các Thẩm phán: Ông Trần Đức Long và bà Từ Thị Hải Dương
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Như Ngọc – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh
Quảng Bình.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thị Hường - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng
Bình mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số
31/2020/TLPT-DS ngày 10 tháng 11 năm 2020 về việc "Tranh chấp về bồi thường
thiệt hại trong lĩnh vực đấu thầu”
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 19/2020/DS-ST ngày 02/10/2020 của Tòa án
nhân dân thành phố Đồng Hới bị kháng cáo
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:2039/2020/QĐXXPT-DS ngày
29/12/2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Tổng Công ty Th - Công ty cổ phần; Địa chỉ: đường B,
phường H, thành phố Th, tỉnh Thanh Hóa; Người đại diện theo pháp luật ông Tạ
Đức H, Chủ tịch Hội đồng quản trị; Người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Viết
T, Quyền Tổng giám đốc (Theo văn bản ủy quyền số 72/VBUQ-TCT ngày
10/02/2020), ông T có mặt tại phiên tòa.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Đỗ Hùng Đ,
Trưởng Ban kiểm soát, Tổng Công ty Th - Công ty cổ phần, ông Đ có mặt tại phiên
tòa.
- Bị đơn: Sở T Quảng Bình; Địa chỉ: đường H, thành phố Đ, tỉnh Quảng
Bình; Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Q - Giám đốc đã ủy quyền cho ông
Phạm Văn L, Phó Giám đốc tham gia tố tụng, ông L có mặt tại phiên tòa.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn:
+ Bà Trần Thị H – Phó Giám đốc Ban quản lý Dự án N tỉnh Quảng Bình; Địa
chỉ: đường H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, bà H có mặt tại phiên tòa;
2
+ Ông Ngô Đức Th, Luật sư Văn phòng Luật sư Th, thuộc Đoàn luật sư tỉnh
Quảng Bình; Địa chỉ: đường L, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, ông Th có mặt tại
phiên tòa.
Người kháng cáo: Tổng Công ty Th - Công ty cổ phần - Là nguyên đơn trong
vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện đề ngày 14 tháng 02 năm 2020 và quá trình giải quyết
vụ án, người đại diện theo ủy quyền của đại diện nguyên đơn, ông Nguyễn Viết Tùy
trình bày: Tổng Công ty Th, Công ty cổ phần (gọi tắt là nhà thầu) tham gia dự thầu
gói thầu số 05: Xây dựng hạng mục chung (GDD1) thuộc dự án xây dựng củng cố
đê, kè chống sạt lở cửa sông Nh, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, theo hồ sơ mời
thầu của Sở T tỉnh Quảng Bình (Gọi tắt là bên mời thầu) phát hành ngày
15/10/2019, mở thầu ngày 04/11/2019.
Ngày 18/11/2019, nhà thầu nhận được thông báo số 02/TB-BMT thông báo
“Về danh sách nhà thầu đáp ứng yêu cầu kỹ thuật”, ngày 05/12/2019 nhà thầu nhận
được thông báo số 03/TB-BMT thông báo về “Kết quả chọn nhà thầu” của bên mời
thầu gói thầu số 05, theo đó hồ sơ dự thầu (HSDT) của nhà thầu bị loại là do Nhà
thầu không kê khai việc nhà thầu đang bị khiếu kiện theo mẫu số 08 trang 71
HSMT;
Ngày 19/11/2019 nhà thầu có đơn kiến nghị số 419KN/TCT gửi bên mời thầu
về việc: Không công nhận kết quả đánh giá HSDT của bên mời thầu, đề nghị bên
mời thầu: Phúc khảo đánh giá HSDT theo đúng luật đấu thầu. Nhà thầu khẳng định
kể từ ngày 01/01/2016 đến nay, nhà thầu không có bất cứ vụ kiện nào đang giải
quyết. Mẫu số 08 trang 71 HSMT được nhà thầu kê khai “Không có vụ kiện nào
đang giải quyết” là hoàn toàn trung thực;
Ngày 20/11/2019 Nhà thầu nhận được văn bản số 09/CV-BMT của bên mời
thầu: Bảo lưu kết quả đánh giá HSDT và yêu cầu nhà thầu có mặt tại Sở T tỉnh
Quảng Bình để làm việc trực tiếp với bên mời thầu. Trong buổi làm việc ngày
25/11/2019, nhà thầu đã yêu cầu bên mời thầu cung cấp bằng chứng cụ thể về việc
nhà thầu đang bị khiếu kiện vụ kiện nào? Toà án nào xử? kết quả phán quyết của
Toà án. Bên mời thầu đã không cung cấp được các chứng cứ pháp lý, mà chỉ viện
dẫn một cách phiến diện kết luận thanh tra số: 8070/BNN-KL-TTr ngày 28/10/2019
của Thanh tra Bộ N nhằm ngụy biện bảo lưu quan điểm của bên mời thầu trong quá
trình đánh giá HSDT. Nếu hồ sơ dự thầu của Tổng Công ty không bị loại vì lý do
không rõ ràng nêu trên thì Tổng Công ty đã có cơ hội trúng thầu với giá dự thầu là
48.554.233.840 đồng so với giá trúng thầu của nhà thầu trúng thầu là
53.984.796.000 đồng làm thất thoát ngân sách Nhà nước 5.400.000.000 đồng.
Như vậy, Sở T Quảng Bình đã vi phạm các quy định của pháp luật. Do đó đề
nghị Tòa án xét xử buộc Sở T tỉnh Quảng Bình phải bồi thường thiệt hại do vi phạm
uy tín, thương hiệu, danh dự cho Tổng Công ty Th - Công ty cổ phần với tổng số
tiền 94.090.000 đồng, gồm các khoản sau:
1. Mua hồ sơ mời thầu 2.000.000đ;
2. Chi phí bảo lãnh dự thầu 4.520.000đ
3. Chi phí cung cấp tín dụng 2.970.000đ
3
4. Trả lương cho cán bộ làm hồ sơ dự thầu là 41.000.000đ gồm những khoản
sau: Làm hồ sơ pháp lý 8.000.000đ; Làm hồ sơ ĐXKT 20.000.000đ; Làm hồ sơ
ĐXTC 10.000.000đ; Chi phí in ấn HSDT, vật tư, thùng hộp 3.000.000đ
5. Chi phí đi lại từ tỉnh Thanh Hóa vào tỉnh Quảng Bình.
5.1. Mua hồ sơ dự thầu tại Quảng Bình, 01 lái xe và 01 cán bộ thời gian 02
ngày là 7.900.000đ gồm những khoản sau:
- Lương cán bộ và lái xe 02 ngày x 02 người x 450.000đ = 1.800.000đ
- Tiền ăn bữa chính 02 người x 02 ngày x 02 bữa x 150.000đ = 1.200.000đ
- Ăn sáng và sinh hoạt phí 02 người x 02 ngày x 100.000đ = 400.000đ
- Xe và phương tiện 02 ngày x 2.000.000đ = 4.000.000đ
- Ngủ tại Quảng Bình 01 phòng x 500.000đ = 500.000đ
5.2. Khảo sát công trình và HĐ cung cứng vật tư, 01 lái xe và 03 cán bộ thời
gian 03 ngày là 18.200.000 đồng gồm những khoản sau:
- Lương cán bộ và lái xe 04 người x 03 ngày x 450.000đ = 5.400.000đ
- Tiền ăn bữa chính 04 người x 03 ngày x 02 bữa x 150.000đ = 3.600.000đ
- Ăn sáng và sinh hoạt phí 04 người x 03 ngày x 100.000đ = 1.200.000đ
- Xe và phương tiện 03 ngày x 2.000.000đ = 6.000.000đ
- Ngủ tại Quảng Bình 02 phòng x 02 x 500.000đ = 2.000.000đ
5.3. Nộp và dự hội nghị mở thầu 01 lái xe và 01 cán bộ, thời gian 02 ngày là
7.900.000 đồng gồm những khoản sau:
- Lương cán bộ và lái xe 02 người x 02 ngày x 450.000đ = 1.800.000đ
- Tiền ăn bữa chính 02 người x 02 ngày x 02 bữa x 150.000đ = 1.200.000đ
- Ăn sáng và sinh hoạt phí 02 người x 02 ngày x 100.000đ = 400.000đ
- Xe và phương tiện 02 ngày x 2.000.000đ = 4.000.000đ
- Ngủ tại Quảng Bình 01 phòng x 500.000đ = 500.000đ
5.4. Chi phí làm việc trực tiếp với bên mời thầu ngày 25/11/2019, 01 lái xe và
02 cán bộ thời gian 02 ngày là 9.600.000 đồng gồm những khoản sau:
- Lương cán bộ và lái xe 03 người x 02 ngày x 450.000đ = 2.700.000đ
- Tiền ăn bữa chính 03 người x 02 ngày x 02 bữa x 150.000đ = 1.800.000đ
- Ăn sáng và sinh hoạt phí 03 người x 02 ngày x 100.000đ = 600.000đ
- Xe và phương tiện 02 ngày x 2.000.000đ = 4.000.000đ
- Ngủ tại Quảng Bình 01 phòng x 500.000đ = 500.000đ
Và buộc Sở T Quảng Bình phải xin lỗi Tổng Công ty Th - Công ty cổ phần
bằng văn bản.
* Bị đơn Sở T Quảng Bình do ông Phạm Văn L - Phó Giám đốc đại diện và
người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị đơn bà Trần Thị H, ông Ngô Đức Th
trình bày: Sở T Quảng Bình (Bên mời thầu) tổ chức mời thầu gói thầu số 05, Xây
lắp + Hạng mục chung (GĐ1) thuộc dự án xây dựng củng cố đê, kè chống sạt lở cửa
sông Nh, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Thông báo mời thầu được đăng tải hệ
thống mạng đấu thầu quốc gia ngày 09/10/2019, số TBMT 20191020210-03 và
đăng tải trên trên Báo đấu thầu tại số báo 191, ngày 09/10/2019. Thời điểm phát
hành hồ sơ mời thầu (HSMT) từ 08 giờ 30 phút, ngày 15/10/2019 đến trước 08 giờ
30 phút, ngày 04/11/2019 (trong giờ hành chính). Trong quá trình phát hành, có 16
nhà thầu mua HSMT. Thời gian đóng thầu vào lúc 08 giờ 30 phút, ngày 04/11/2019.

4
Đến thời điểm đóng thầu có 04 nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu (HSDT). Thời gian mở
hồ sơ đề xuất kỹ thuật (HSĐXKT) vào lúc 09 giờ, ngày 04/11/2019.
Quá trình đánh giá HSDT được tiến hành từ ngày 04/11/2019 đến ngày
03/12/2019. Kết quả lựa chọn nhà thầu gói thầu số 05, xây lắp + Hạng mục chung
(GĐ1) được phê duyệt tại Quyết định số 836/QĐ- STNMT ngày 03/12/2019 của Sở
Tài nguyên và môi trường. Thông báo kết quả lựa chọn nhà thầu gói thầu số 05, xây
lắp + Hạng mục chung (GĐ1). Số 03/TB-BMT ngày 05/12/2019 của bên mời thầu
kết quả cụ thể như sau:
- Nhà thầu trúng thầu: Công ty TNHH xây dựng tổng hợp Th.
- Nhà thầu không trúng thầu:
+ Công ty TNHH tư vấn xây dựng X. Lý do bị loại: HSĐXKT của nhà thầu
không hợp lệ.
+ Công ty CP xây dựng H. Lý do bị loại: Nhà thầu không đạt về năng lực và
kinh nghiệm.
+ Tổng Công ty Th – Công ty cổ phần. Lý do bị loại: Không kê khai việc đang
bị khiếu kiện theo mẫu số 08, trang 71 của HSMT. Theo Thông tư số 03 năm 2015,
quy định phải kê khai 03 năm kể từ ngày nộp hồ sơ dự thầu từ ngày 04/11/2019 trở
về trước, nhưng Tổng Công ty Th - Công ty cổ phần không kê khai, đang dính vụ
kiện tụng đang giải quyết tại công trình sửa chữa, nâng cấp hệ thống thuỷ lợi giao
thông tại các xã Đ, Đức L, Đức Th, Yên H, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh, cụ thể:
Ngày 16/11/2016 Tổng Công ty Th - Công ty cổ phần đã trúng gói thầu theo
Quyết định 1162/QĐ-SNN của Sở N tỉnh Hà Tĩnh đã ký kết hợp đồng thi công,
trong quá trình thực hiện thi công gói thầu trên thì có 28 cá nhân và Doanh nghiệp
đã làm đơn kêu cứu gửi đến các cơ quan ở huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh về việc ông Võ
Đức T là Đội trưởng của Tổng Công ty đang nợ tiền của các cá nhân và doanh
nghiệp với số tiền 3,4 tỷ đồng.
Sau khi có đơn kêu cứu của 28 cá nhân và Doanh nghiệp. Ban quản lý Dự án
N, Sở N tỉnh Hà Tĩnh. Bộ N đã đứng ra giải quyết. Công an huyện Đ, Công an tỉnh
Hà Tĩnh tham gia điều tra vụ việc trên.
Trong quá trình các cơ quan đang giải quyết đến ngày 15/10/2018 Tổng Công
ty Th - Công ty cổ phần vẫn chưa trả hết công nợ, nên tháng 6/2019 người dân trên
địa bàn tỉnh Hà Tĩnh căng băng rôn đòi nợ gây mất trật tự trên địa bàn đang xây
dựng.
Tại thời điểm xét thầu ngày 04/11/2019, Thanh tra Bộ N đã Thanh tra và có
kết luận Tổng Công ty Th - Công ty cổ phần về việc thi công gói thầu tại tỉnh Hà
Tĩnh bị kiện tụng. Căn cứ những lý do trên Tổ chuyên gia xét thầu đánh giá việc
nhà thầu không kê khai chính xác, trung thực các vụ kiện tụng đang giải quyết thì
được coi là hành vi “Gian lận”, theo mẫu hồ sơ dự thầu đã phát hành, hồ sơ dự thầu
bị loại. Cũng theo quy định của khoản 1 Điều 2, Điều 7, Điều 8 Luật khiếu nại, Tố
cáo quy định được xem nhà thầu đang có khiếu kiện khi đang thi công gói thầu tại
dự án tỉnh Hà Tĩnh mà nhà thầu không kê khai. Nên yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn không có căn cứ.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 19/2020/DS-ST ngày 02/10/2020, Tòa án nhân
dân thành phố Đồng Hới đã quyết định:
5
Áp dụng Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, của Bộ luật Tố tụng dân
sự; Các Điều 13, 89, 91 Luật Đấu thầu; Các khoản 3,5 Điều 34, 584, 585, 592 của
Bộ luật Dân sự, xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Tổng Công ty Th –
Công ty cổ phần yêu cầu Sở T Quảng Bình bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực đấu
thầu với tổng số tiền là 94.090.000 đồng. Trong đó:
- Tiền mua hồ sơ mời thầu 2.000.000đ;
- Tiền chi phí bảo lãnh dự thầu 4.520.000đ;
- Tiền chi phí cung cấp tín dụng 2.970.000đ;
- Tiền trả lương cho cán bộ cán bộ làm hồ sơ dự thầu 41.000.000đ;
- Tiền mua hồ sơ dự thầu tại Quảng Bình, 01 lái xe và 01 cán bộ thời gian 02
ngày là 7.900.000 đồng;
- Tiền khảo sát công trình và hợp đồng cung ứng vật tư: 01 lái xe và 03 cán
bộ thời gian 03 ngày là 18.200.000 đồng;
- Tiền nộp và dự hội nghị mở thầu, 01 lái xe và 01 cán bộ, thời gian 02 ngày
là 7.900.000 đồng;
- Tiền chi phí làm việc trực tiếp với bên mời thầu ngày 25/11/2019: 01 lái xe
và 02 cán bộ thời gian 02 ngày là 9.600.000 đồng.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Tổng Công ty Th –
Công ty cổ phần yêu cầu Sở T Quảng Bình phải xin lỗi Tổng Công ty Th - Công ty
cổ phần bằng văn bản.
Ngoài ra Bản án còn tuyên về phần án phí và quyền kháng cáo cho các bên
đương sự.
Trong hạn luật định, ngày 07/10/2020 Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới
nhận được đơn kháng cáo của Tổng Công ty Th - Công ty cổ phần về việc kháng
cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết buộc Sở T
Quảng Bình bồi thường số tiền tổng cộng là 94.090.000 đồng và công khai xin lỗi
bằng văn bản.
Tại phiên toà, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và kháng cáo, các bên
đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cho đến trước thời điểm Hội
đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, các đương
sự và những người tham gia tố tụng khác đã thực hiện đúng các quy định của pháp
luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 308 Bộ luật Tố tụng
dân sự: không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên toàn bộ quyết định
Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa
và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực đấu thầu

6
và bị đơn có nơi cư trú tại thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, căn cứ vào quy
định tại khoản 6 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, của Bộ luật Tố tụng
dân sự nên Toà án nhân dân thành phố Đồng Hới thụ lý giải quyết sơ thẩm là đúng
thẩm quyền.
[1.2] Đơn kháng cáo của nguyên đơn làm trong hạn luật định và nguyên đơn
đã nộp tiền tạm ứng án phí kháng cáo nên chấp nhận để xét xử phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1] Sở T tỉnh Quảng Bình là Bên mời thầu tổ chức mời thầu gói thầu số 05,
xây lắp: Hạng mục chung, thuộc dự án xây dựng cũng cố đê, kè chống sạt lở cửa
Sông Nh, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Thông báo mời thầu được đăng tải hệ
thống mạng đấu thầu quốc gia ngày 09/10/2019 và đăng tải trên trên Báo Đấu thầu
ngày 09/10/2019. Thời điểm phát hành hồ sơ mời thầu (HSMT) từ 08 giờ 30 phút,
ngày 15/10/2019 đến trước 08 giờ 30 phút, ngày 04/11/2019 (trong giờ hành chính).
Trong quá trình phát hành, có 16 nhà thầu mua HSMT. Thời gian đóng thầu vào lúc
08 giờ 30 phút, ngày 04/11/2019. Đến thời điểm đóng thầu có 04 nhà thầu nộp hồ
sơ dự thầu (HSDT). Thời gian mở hồ sơ đề xuất kỹ thuật (HSĐXKT) vào lúc 09
giờ, ngày 04/11/2019.
[2.2] Quá trình đánh giá HSDT được tiến hành từ ngày 04/11/2019 đến ngày
03/12/2019, Hội đồng tư vấn đã đánh giá hồ sơ dự thầu của các nhà thầu, kết quả
nhà thầu trúng thầu là Công ty TNHH xây dựng tổng hợp Th;
Nhà thầu không trúng thầu là: Công ty TNHH Tư vấn xây dựng X, lý do bị
loại HSĐXKT của nhà thầu không hợp lệ; Công ty CP xây dựng H, lý do bị loại nhà
thầu không đạt về năng lực và kinh nghiệm; Tổng Công ty Th - Công ty cổ phần, lý
do bị loại không kê khai trung thực việc nhà thầu đang bị khiếu kiện theo Mẫu số
08, trang 71 của HSMT.
[2.3]. Sau khi bị loại hồ sơ mời thầu, Tổng Công ty Th – Công ty cổ phần (Nhà
thầu) có đơn khiếu nại đến Sở T Quảng Bình (Bên mời thầu) với nội dung: "Nhà
thầu không công nhận kết quả đánh giá hồ sơ dự thầu của bên mời thầu khẳng định,
từ năm 2016 đến nay nhà thầu không có bất cứ vụ kiện tụng nào đang giải quyết;
Việc bên mời thầu kết luận nhà thầu kê khai không trung thực theo yêu cầu tại mẫu
số 08, trang 71 của hồ sơ mời thầu, được coi là hành vi gian lận và hồ sơ dự thầu
của nhà thầu bị loại là không có cơ sở, thiếu khách quan, minh bạch có dấu hiệu
làm sai lệch kết quả đánh giá hồ sơ dự thầu; Đề nghị phúc khảo, đánh giá hồ sơ dự
thầu khách quan minh bạch".
Ngày 20/11/2019 Bên mời thầu có Công văn số 09/CV-BMT trả lời đơn kiến
nghị số: 419 KN/TCT ngày 19/11/2019 của Nhà thầu, khẳng định từ năm 2018 đến
nay nhà thầu đang bị kiện tụng tại gói thầu sửa chữa nâng cấp hệ thống thủy lợi,
giao thông tại các xã Đ, Đức L, Đức Th, Yên H, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh và yêu cầu
nhà thầu vào làm việc trực tiếp với bên mời thầu.
Ngày 22/11/2019, Nhà thầu có Công văn số: 432 KN/TCT gửi Bên mời thầu
với nội dung Bên mời thầu cho rằng nhà thầu bị kiện tụng thì bên mời thầu cung cấp
vụ kiện tụng nào, Tòa án nào giải quyết, kết quả phán quyết của Tòa án.
Ngày 25/11/2019, Bên mời thầu và nhà thầu đã có buổi làm việc hai bên trao
đổi và Bên mời thầu khẳng định Nhà thầu đang bị kiện tụng tại tỉnh Hà Tĩnh.

7
Ngày 29/11/2019, Bên mời thầu có Văn bản số 10/CV-BMT trả lời cho nhà
thầu hiện nhà thầu đang bị kiện tụng tại gói thầu DATP2-XL1/TL;GT/2016 - Sửa
chữa, nâng cấp hệ thống thủy lợi, giao thông tại các xã Đ, Đức L, Đức Th, Yên H,
huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh nên không chấp nhận yêu cầu của nhà thầu.
[2.4] Về nội dung kê khai theo mẫu số 08, trang 71 của hồ sơ mời thầu quy
định “Mô tả các vụ kiện đang giải quyết mà nhà thầu là một bên đương sự..”.
Khi xét hồ sơ dự thầu Bên mời thầu đã phát hiện ông Võ Đức T, là Đội Trưởng
đội công trình số 7 thuộc Tổng Công ty Th - Công ty cổ phần đang bị 28 cá nhân và
doanh nghiệp cung cấp vật tư, vật liệu, nhân công xây dựng công trình thuộc gói thầu
gói thầu DATP2-XL1/TL;GT/2016 - Sửa chữa, nâng cấp hệ thống thủy lợi, giao
thông tại các xã Đ, Đức L, Đức Th, Yên H huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh đã gửi Đơn kêu
cứu tới các cơ quan chức năng có thẩm quyền của tỉnh Hà Tĩnh về việc nợ các cá
nhân và doanh nghiệp với số tiền 3,4 tỷ đồng. Trên cơ sở đơn kêu cứu của các cá
nhân, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, Ban quản lý các Dự án Nông nghiệp -
Bộ NN&PTNT đã có ý kiến đối với Ban quản lý dự án Phát triển nông thôn tổng hợp
các tỉnh Miền Trung - Khoản vay bổ sung tỉnh Hà Tĩnh tại Văn bản số 1913/DANN-
THMT-KVBS ngày 04/10/2018: Theo kế hoạch từ ngày 25-30/9/2018 Ban quản lý
dự án (PPMU) Hà Tĩnh phối hợp với Tổng công ty Th tổ chức rà soát giấy tờ của các
chủ nợ và tổ chức xem xét đối chiếu công nợ tại hiện trường công trình; Từ ngày 1-
15/10/2018, PPMU Hà Tĩnh giám sát việc tổng công ty xây dựng Th trả tiền cho các
chủ nợ có đầy đủ hợp đồng, hóa đơn mua hàng hoặc các giấy tờ khác được pháp luật
chấp nhận đủ căn cứ; PPMU Hà Tĩnh phải có trách nhiệm đôn đốc nhà thầu giải
quyết dứt điểm vấn đề nợ động chưa thanh toán trong tháng 10/2018 để đảm bảo ổn
định chính trị địa phương và tạm dừng thanh toán cho Tổng công ty Th đến khi nhà
thầu xử lý xong vấn đề khiếu kiện của người dân và có văn bản báo cáo về CPMU
trước ngày 20/10/2018; Tại Văn bản số 2609/UBND-NL ngày 02/5/2019, UBND
tỉnh Hà Tĩnh đã giao Sở N Hà Tĩnh (chủ đầu tư) và Ban QLDA đầu tư xây dựng Hà
Tĩnh (đơn vị quản lý dự án): Đôn đốc, yêu cầu nhà thầu thi công gói thầu DATP2-
XL1/TL;GT/2016 tập trung nhân lực, phương tiện, vật tư và các điều kiện khác để thi
công hoàn thành các hạng mục còn lại của gói thầu đảm bảo chất lượng, tiến độ,
đồng thời thực hiện nghiêm túc việc thanh toán các khoản nợ nhân công, nguyên vật
liệu cho các tổ chức ca snhaan trên địa bàn theo đúng quy định, báo cáo việc thanh
toán nợ về UBND tỉnh trước ngày 15/5/2019; Tại văn bản số 3154/UBND-NL ngày
205/2019, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã yêu cầu Sở N Hà Tĩnh (chủ đầu tư) và Ban QLDA
đầu tư xây dựng tỉnh (đơn vị quản lý dự án): khẩn trương thực hiện hoàn thành dự án
trước ngày 10/6/2019, đồng thời đôn đốc đơn vị thi công xử lý dứt điểm vấn đề nợ
nhân công, vật liệu với các tổ chức, cá nhân trên địa bàn theo quy định". Như vậy
thực tế tại thời điểm năm 2018 đến năm 2019 Tổng công ty Th - Công ty cổ phần
đang bị các cá nhân, Doanh nghiệp khiếu kiện về việc đang nợ tiền nhân công, vật
liệu và đã được đơn vị quản lý dự án cũng như UBND tỉnh Hà Tĩnh yêu cầu Tổng
công ty Th - Công ty cổ phần phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
[2.5] Bộ Nông nghiệp và PTNT cũng đã tổ chức thanh tra việc thực hiện gói
thầu DATP2-XL1,GT/2016 đối với Tổng công ty Th - Công ty cổ phần và đã có Kết

8
luận số 8070/BNN-KL-TTr ngày 28/10/2019 chỉ ra nhiều vấn đề sai sót, trong đó có
việc ông T là Đội Trưởng của Tổng công ty Th nợ tiền của nhiều tổ chức và cá nhân.
Ông T là Đội trưởng của nhà thầu đang thi công dự án tại tỉnh Hà Tĩnh đã để xảy ra
tình trạng nợ tiền dẫn đến khiếu nại nhiều cấp ở địa phương đến Trung ương làm cho
dự án chậm tiến độ gây dư luận xấu. Tại phiên tòa phúc thẩm phía nguyên đơn cung
cấp các tài liệu liên quan đến công nợ giữa ông T với các cá nhân nhưng đều là bản
photocopy không có chứng thực của cơ quan có thẩm quyền nên không có cơ sở để
xem xét. Việc ông T đội trưởng đội công trình số 7 là người được Tổng công ty Th -
Công ty cổ phần ký hợp đồng không xác định thời hạn và giao chịu trách nhiệm quản
lý, thi công gói thầu trên nhưng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho các cá nhân,
doanh nghiệp, nên đã xảy ra khiếu kiện đông người, bên nhà thầu đã thừa nhận là có
các cuộc làm việc liên quan đến vấn đề nợ tiền của ông T với Ban QLDA và UBND
tỉnh Hà Tĩnh và bên nhà thầu cho rằng đó là trách nhiệm cá nhân của ông T không
liên quan đến nhà thầu là không đúng. Bởi nhà thầu phải chịu trách nhiệm chính về
hành vi của mình trong việc bổ nhiệm cán bộ mà cụ thể ông T đã để xảy ra sai sót dẫn
đến khiếu nại, kiện tụng làm chậm tiến độ thi công công trình, ảnh hưởng đến tình
hình hoạt động của địa phương đang thi công gói thầu thì nhà thầu đó phải chịu trách
nhiệm chính; Thanh tra Bộ N thực hiện thanh tra tại Gói thầu số DATP2-
XL1/TL;GT/2016 thuộc tiểu dự án sửa chữa, nâng cấp hệ thống thủy lợi, giao thông,
chợ nông thôn tại 05 xã ngập úng huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh, Dự án Phát triển nông thôn
tổng hợp các tỉnh Miền Trung - KVBS là trên cơ sở có khiếu nại của các tổ chức, cá
nhân.
Việc kê khai theo mẫu số 08 trang 71 hồ sơ mời thầu do Bộ kế hoạch đầu tư ban
hành không phải là căn cứ duy nhất để loại hồ sơ mời thầu, mà kê khai để xem xét
đến các hoạt động tổng thể của một nhà thầu khi tham gia đấu thầu có những điểm
nào được những điểm nào chưa được, từ đó giúp cho bên mời thầu đánh giá năng lực
của một nhà thầu có năng lực thực sự nhằm loại bỏ các nhà thầu yếu kém về năng
lực, quản lý, công tác thi công các công trình dự án, từ đó lựa chọn những nhà thầu
thực sự có năng lực, có kinh nghiệm trong công tác thi công, công trình. Tại mẫu số
08 trang 71 của hồ sơ mời thầu đã quy định rõ “Nhà thầu phải kê khai chính xác,
trung thực các vụ kiện tụng đang giải quyết; nếu bên mời thầu phát hiện bất cứ nhà
thầu nào đang có các vụ kiện tụng không kê khai thì được coi là hành vi gian lận và
hồ sơ dự thầu sẽ bị loại”. Với cụm từ “Các vụ kiện tụng” được hiểu theo nghĩa rộng
hơn là kể cả việc khiếu kiện đến các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết, chứ
không phải chỉ riêng có khởi kiện đến Tòa án mới được coi là kiện tụng, khi đã khởi
kiện đến Tòa án và đang hoặc đã được Tòa án giải quyết thì được coi là vụ án. Ở đây
có 28 cá nhân và doanh nghiệp đã khiếu kiện đến cơ quan có thẩm quyền với tổng số
tiền 3,4 tỷ đồng nên đó được coi là các vụ kiện tụng. Hơn nữa trong khoảng thời gian
từ năm 2018 đến năm 2019 có rất nhiều bài báo đưa tin về những sai phạm tại gói
thầu DATP2-XL1/TL; GT/2016- sửa chữa nâng cấp hệ thống thủy lợi, giao thông tại
các xã Đ, Đức L, Đức Th, Yên H, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh mà Tổng công ty Th - Công
ty cổ phần là nhà thầu thi công nhưng Tổng công ty Th không kê khai và giải trình là
thuộc trường hợp nhà thầu không kê khai trung thực theo mẫu số 08 trang 71 của hồ

9
sơ mời thầu, theo quy định tại khoản 4 Điều 89 Luật đấu thầu là cố ý vi phạm cung
cấp thông tin không trung thực.
Kết luận của bên mời thầu đánh giá nhà thầu liên quan đến việc kiện tụng đã
được Sở K tỉnh Quảng Bình trả lời kiến nghị của Tổng công ty Th - CTCP tại Văn
bản số 174/KHĐT-TĐ ngày 21/01/2020 về việc trả lời kiến nghị kết quả lựa chọn nhà
thầu gói thầu số 05, xây dựng + hạng mục chung (giai đoạn 1) thuộc Dự án Xây dựng
củng cố đê, kè chống sạt lở cửa sông Nh, thành phố Đ với nội dung: "Tổng công ty
Th - CTCP có liên quan trực tiếp đến việc 28 cá nhân và doanh nghiệp cung cấp vật
tư, vật liệu, nhân công có Đơn kêu cứu tại gói thầu DATP2-XL1/TL;GT/2016 - Sửa
chữa, nâng cấp hệ thống thủy lợi, giao thông tại các xã Đ, Đức L, Đức Th, Yên H
huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Việc Bên mời thầu cho rằng Tổng công ty Th -CTCP có liên
quan đến vụ việc tại gói thầu DATP2-XL1/TL;GT/2016 - Sửa chữa, nâng cấp hệ
thống thủy lợi, giao thông tại các xã Đ, Đức L, Đức Th, Yên H, huyện Đ, tỉnh Hà
Tĩnh và loại HSDT của Tổng công ty là có cơ sở".
[2.6] Về yêu cầu của nguyên đơn Tổng Công ty Th - Công ty cổ phần (Nhà
thầu) yêu cầu bị đơn Sở T tỉnh Quảng Bình (Bên mời thầu) phải bồi thường thiệt hại
do vi phạm uy tín, thương hiệu, danh dự cho Tổng Công ty Th - Công ty cổ phần
với số tiền 94.090.000 đồng. Trong đó: Tiền mua hồ sơ mời thầu 2.000.000đ; Tiền
chi phí bảo lãnh dự thầu 4.520.000đ; Tiền chi phí cung cấp tín dụng 2.970.000đ;
Tiền trả lương cho cán bộ cán bộ làm hồ sơ dự thầu 41.000.000đ; Tiền mua hồ sơ
dự thầu tại Quảng Bình, 01 lái xe và 01 cán bộ thời gian 02 ngày là 7.900.000 đồng;
Tiền khảo sát công trình và HĐ cung ứng vật tư, 01 lái xe và 03 cán bộ thời gian 03
ngày là 18.200.000 đồng; Tiền nộp và dự hội nghị mở thầu, 01 lái xe và 01 cán bộ,
thời gian 02 ngày là 7.900.000 đồng.
Xét các chi phí trên nhà thầu cho rằng đó là chi phí bồi thường thiệt hại do vi
phạm uy tín, thương hiệu, danh dự, do bên mời thầu loại hồ sơ mời thầu nên phải có
nghĩa vụ bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, những chi phí mà bên nhà thầu kê khai là
những chi phí bắt buộc đối với nhà thầu khi muốn tham gia đấu thầu, nếu không
trúng thầu thì phải tự chịu chi phí này theo quy định của Điều 13 Luật Đấu thầu, cụ
thể; chi phí liên quan đến việc chuẩn bị hồ sơ quan tâm, hồ sơ dự sơ tuyển, hồ sơ dự
thầu, hồ sơ đề xuất và tham gia dự thầu thuộc trách nhiệm của nhà thầu". Theo quy
định tại Điều 584, 585 Bộ luật Dân sự, "Nguyên tắc bồi thường thiệt hại chỉ khi nào
có thiệt hại thực tế xảy ra". Trường hợp này nhà thầu yêu cầu bên mời thầu bồi
thường chỉ là chi phí đi lại, chi phí phục vụ việc đấu thầu của nhà thầu khi không
trúng thầu gói thầu này, không phải thiệt hại thực tế mà nhà thầu phải chịu. Do đó,
Bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ
pháp luật.
[2.7] Về yêu cầu Sở T Quảng Bình phải xin lỗi Tổng Công ty Th - Công ty cổ
phần bằng văn bản. Theo quy định tại khoản 3, 5 Điều 34 Bộ luật Dân sự thì không
có căn cứ để xác định bên mời thầu làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của nhà thầu
nên Bản án sơ thẩm không chấp nhận là có căn cứ pháp luật.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng
cáo của nguyên đơn về việc buộc bị đơn là Sở T Quảng Bình bồi thường các chi phí
thiệt hại số tiền 94.900.000 đồng và công khai xin lỗi bằng văn bản; Giữ nguyên
10
toàn bộ quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 19/2020/DS-ST ngày 02/10/2020
của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới.
[2.8] Về án phí: Tổng Công ty Th – Công ty cổ phần khởi kiện không được
Toà án chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền không được Tòa
án chấp nhận 94.090.000 đồng x 5% = 4.704.500đ để sung quỹ Nhà nước và
300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 13, 89, 91 Luật đấu thầu; Các khoản 3,5 Điều 34, 584, 585,
592 của Bộ luật Dân sự, tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Tổng Công ty Th - Công ty
cổ phần. Giữ nguyên toàn bộ quyết định Bản án dân sự sơ thẩm số 19/2020/DS-ST
ngày 02/10/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới,
2. Về án phí: Căn cứ Điều 144, 147, 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26,
Điều 29 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí, lệ phí Tòa án,
- Nguyên đơn Tổng Công ty Th – Công ty cổ phần phải chịu 4.704.500đ án
phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ
2.352.300 đồng số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí
Toà án số: 0006376 ngày 09/3/2020 và 300.000 đồng tại biên lai thu tiền tạm ứng
án phí số: 0006638, ngày 07/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố
Đồng Hới. Số tiền án phí còn thiếu buộc Tổng Công ty Th – Công ty cổ phần phải
nộp tiếp 2.352.200 đồng để sung quỹ Nhà nước.
- Bị đơn Sở T tỉnh Quảng Bình không phải chịu án phí theo quy định của
pháp luật.
- Các quyết định khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực
pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh; THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- TAND thành phố Đồng Hới;
- Chi cục THADS TP.Đồng Hới;
- Các đương sự; (đã ký)
- Lưu án văn, Tòa DS;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Thái Sơn
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng