Bản án số 04/2020/LĐ-PT ngày 22/06/2020 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 04/2020/LĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 04/2020/LĐ-PT ngày 22/06/2020 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 04/2020/LĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/06/2020
Lĩnh vực: Lao động
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Kiện quyết định kỷ luật sa thải,bồi thường thiệt hại giữa Lê Cao Tánh và Trường Nguyễn Du
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 04/2020/LĐ-PT
Ngày: 22-6-2020
V/v: Kin quyết đnh x lý
k lut theo hình thc sa thi.
CỘNG A XÃ HỘI CHỦ NGA VIỆT NAM
Độc lập Tự do Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN N TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh
Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Châu Thạch
Bà Lê Thị Vân
- Thư phiên tòa: Trần Thị Nghị Thư Tòa án, Toà án nhân n
tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:
Ông Đỗ Văn Phương – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; Xét
xử phúc thẩm công khai ván Lao động thụ số: 02/2020/TLPT-LĐ ngày 19
tháng 02 năm 2020 vviệc “Kiện Quyết định xử kỷ luật theo hình thức sa
thải”.
Do Bản án lao động thẩm số: 01/2020/LĐ-ST ngày 14/01/2020 của Tòa
án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng có kháng cáo kháng nghị.
Theo Quyết định đưa ván ra xét xử phúc thẩm số: 113/2020/QĐ-PT ngày
04/5/2020; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 37/2020/-PT ngày
19/5/2020; Thông báo số: 409/TB-PT ngày 02/6/2020 về việc hoãn phiên tòa
dời thời gian mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án lao động, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Lê Cao T, sinh năm: 1972. trú tại: S 135 đưng
Nguyn Công Trứ, Png X, tnh ph Đà Lt, tỉnh m Đng.
2. B đơn: Tng trung hc ph tng n ng Nguyễn Du (nay là Tng
Trung học cơ s Nguyễn Du Đà Lt).
Đa ch: S 7 đường i Th Xn, Png X, Tp. Đà Lt, tỉnh Lâm Đồng.
Đi din theo pp lut: Ông Nguyễn Văn A, sinh m 1976 - Chc v: Hiu
trưng Trường Trung học cơ s Nguyn Du Đà Lt.
3. Người quyn li, nga v liên quan:
2
3.1. Ủy ban nn dân thành phố Đà Lt
Tr s: S 02 đưng Trn Nhân Tông, phưng 8, thành ph Đà Lt, tnh Lâm
Đng.
Đi din theo pháp lut: Ông Tôn Thin S - Chc v: Ch tch y ban nhân dân
thành ph Đà Lt.
Ngưi đi din theo y quyn: Ông Trn Đc M - Chc v: Trưng phòng Giáo
dc và Đào to thành ph Đà Lt. Theo văn bn y quyn lp ngày 04/12/2017.
3.2. S Go dc Đào to tnh Lâm Đng.
Tr s: Khu trung tâm hành cnh, s 36 đưng Trần P, pờng 4, tnh ph
Đà Lạt, tỉnh m Đng.
Đi din theo pháp lut: Phạm Th Hng H - Chc vụ: Gm đốc S Go
dc Đào to tnh Lâm Đồng.
Ngưi đi din theo y quyn: Ông Hà Đ T, sinh năm 1972 - Chc v: Phó trưng
Phòng t chc cán b S Giáo dc và Đào to tnh Lâm Đng. Theo văn bn y quyn
lp ngày 15/5/2020.
3.3. Trường trung hc ph thông Bùi Thị Xn.
Tr s: S 242 đưng i Thị Xn, phưng 8, thành ph Đà Lạt, tỉnh Lâm
Đng.
Đi din theo pháp luật: Ông Nguyn Hu H - Chc v: Hiu trưởng.
Người kháng cáo, kháng nghị:
- Tng THCS Nguyn Du, Đà Lt Bị đơn;
- Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt - Kháng nghị.
(Ông Cao T, ông Nguyn Văn A và ông Hà Đ T có mt ti phiên tòa; Các
đương s còn li có đơn xin xét x vng mt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm,
Nguyên đơn ông Lê Cao T trình bày:
Ông giáo viên dạy môn Giáo dục công dân môn Văn tại Trường
THPT bán công Nguyễn Du, Đà Lạt. Ngày 12/12/2006 ông bị hc sinh Nguyn
Hoàng Minh Trí chửi cớ, trong lúc nóng giận không kìm chế đưc bản thân
ông đã tát học sinh này chảy máu cam. Hiệu trưởng Trường THPT bán công
Nguyn Du, Đà Lạt đã họp Hội đồng k luật và ra quyết định s 03/QĐ-KL
ngày 06/02/2007 kỷ lut sa thải đối với ông. Không đồng ý vi quyết định nêu
trên nên ông khi kiện yêu cầu Tòa án tuyên hy quyết đnh s 03/QĐKL ngày
06/02/2007 ca Hiệu trưởng Trường THPT bán công Nguyễn Du, Đà Lạt v
vic k lut sa thi đối với ông; S Giáo dục Đào tạo tỉnh Lâm Đồng nhn
ông tr li trường và dy học (môn Giáo dục công dân và môn Văn - Tiếng Vit)
3
tại trường THPT Bùi Th Xuân, Đà Lạt; S Giáo dục và Đào to tỉnh Lâm Đồng
c cơ quan, tổ chức, nhân liên quan công khai xin li ông theo quy định;
Yêu cu bồi thường tiền lương, tin tr cp mt việc làm, trợ cấp thôi vic,
đúng, đủ, kp thời đối vi mi thit hi (v vt cht, tinh thần) và đng thời khôi
phc tin bo him cho ông theo quy định của pháp luật vi mức ước tính 10
t đồng Vit Nam c th:
Tiền lương, phụ cấp (bằng 35% đứng lớp), trcấp, thưởng… kể từ ngày bị
sa thải đến ngày bản án (mới) hiệu lực pháp luật (tạm tính): 6.000.000đ x 12
tháng x 12 năm = 864.000.000 đồng;
Tiền bị giảm sút so với thu nhập thực tế tại thời điểm bsa thải đến đến
ngày Tòa xét xử vụ án là 6.000.000đ x 144 tháng = 864.000.000 đồng;
Tiền bảo hiểm hội, bảo hiểm y tế từ ngày bsa thải đến ngày bản án
(mi) có hiệu lực pháp luật.
Tiền tổn thất tinh thần (do việc sa thải trái pháp luật trên đã kéo theo việc bị
danh dự, nhân phẩm bị xúc phạm): 1.300.000đồng/tháng x 60 tháng lương =
78.000.000 đồng;
Toàn bộ các khoản chi phí cho việc khởi kiện: Tin thuê luật sư, tiền tàu xe,
tiền giấy mực khiếu nại khởi kiện, tiền ăn đi lại trong suốt thời gian thực hiện
việc đòi giải quyết quyền lợi: 1.000.000.001 đồng;
Tiền thuê nhà để trong suốt thời gian bị sa thải, mất chỗ ở: 2.000.000
đồng/tháng x 12 tháng 12 năm = 288.000.000 đồng;
Tiền bồi thường do nhân phẩm bị xúc phạm, xâm hại do việc sa thải gây ra:
1.300.000 đồng/tháng x 10 tháng lương = 13.000.000 đồng;
Tiền tổn thất tinh thần: 1.000.000.001 đồng.
Trong quá trình Tòa án giải quyết v án thì ngày 06/08/2010 Ủy ban nhân
dân tỉnh Lâm Đồng ban hành quyết định s: 1760/QĐ-UB v việc tách khối hc
sinh THCS ra khỏi Trường Bùi Thị Xuân, Đà Lạt tách khối THPT ra khi
Trường THPT bán công Nguyễn Du, Đà Lạt. Ngày 10/08/2010 Ủy ban nhân dân
thành phố Đà Lt ban hành Quyết định s: 2766/QĐ-UBND thành lập Trường
THCS Nguyễn Du, Đà Lạt trên cơ sở tiếp nhận toàn bộ cơ sở vt chất và đội ngũ
giáo viên, hc sinh khi THCS của Trường THPT bán công Nguyễn Du. Nên
ông yêu cầu Trường THCS Nguyễn Du, Đà Lạt phi bồi thường cho ông số tin
trên và nhận ông trở lại làm việc.
Ý kiến của đại din Trường THCS Nguyn Du, Đà Lạt:
Thc hin Quyết đnh s: 1760/QĐ-UB ngày 06/08/2010 của Ủy ban nhân
dân tỉnh Lâm Đồng v việc tách khối hc sinh THCS ra khỏi Trường Bùi Thị
Xuân tách khối THPT ra khỏi Trường THPT bán công Nguyễn Du Quyết
định s: 2766/QĐ-UBND ngày 10/08/2010 của Ủy ban nhân dân thành phố Đà
Lt v việc thành lập Trường THCS Nguyễn Du, Đà Lạt thì trường đã bàn giao
tiếp nhận đội ngũ giáo viên, nhân viên, học sinh, nhưng trong việc bàn giao tiếp
4
nhận không giáo viên Cao Tánh. Theo cp học thì ông Cao T giáo
viên giảng dy b môn Giáo dục công dân, Văn, hồ vụ kin sa thải cũng
không được bàn giao. Như vậy, trên thực tế không còn Trường THPT bán ng
Nguyễn Du. Hơn nữa, theo công văn s: 4949/UBND-VX ngày 12/09/2012 của
Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã ý kiến ch đạo S Giáo dục Đào tạo
tỉnh Lâm Đồng c đơn vị trách nhiệm nhn gii quyết tham gia t tng ti
phiên tòa trong v kin ca ông Lê Cao T. Trường THCS Nguyễn Du, Đà Lạt
mới thành lập, không thể là đơn vị kế tha quyền và nghĩa vụ của Trường THPT
bán công Nguyễn Du, nên Trường THCS Nguyễn Du, Đà Lạt không đồng ý
tham gia t tng. Tuy nhiên, theo Trường THCS Nguyn Du thì theo hợp đồng
s 56 ngày 30/12/2004 giữa ông Cao T Trường THPT bán Công N Đà
Lt, ông Lê Cao T là giáo viên THPT. Trong trường hp ông Lê Cao T không bị
k luật mà vẫn còn tiếp tc ging dy tại Trường THCS & THPT Nguyễn Du Đà
Lạt, đến thời điểm tách trường năm 2010 thì ông Cao T s đưc tiếp nhn
vào Trường THPT Bùi Thị Xuân.
Ý kiến của người đại diện Trường THPT Bùi Thị Xuân, Đà Lạt:
Trường THPT Bùi Thị Xuân, Đà Lạt không quyền li nghĩa vụ liên
quan đến Quyết định sa thi s: 03/QĐ-KL, ngày 06/02/2007 ca Hiệu trưởng
Trường THPT bán công Nguyễn Du. Thời điểm này hai trường hai đơn vị
hành chính sự nghiệp khác nhau, không trách nhiệm liên quan đối vi nhau,
trc thuc s quản của S giáo dục Đào tạo tnh Lâm Đồng. Thc hin
Quyết định s: 1760/QĐ-UB ngày 06/08/2010 ca Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm
Đồng v việc chia ch trường, Trường Bùi Thị Xuân, Đà Lạt tiếp nhận giáo
viên khối THPT của Trường THPT bán công Nguyễn Du, trong đó không có tên
ông Cao T. vậy, Trường THPT Bùi Thị Xuân không thể quyền li,
nghĩa v liên quan đối vi một nhân chưa bao giờ cán bộ, giáo viên, công
nhân viên của Trường Bùi Thị Xuân, Đà Lạt.
Việc ký hợp đồng làm việc đối ông Lê Cao T do Trường THCS & THPT
bán công Nguyễn Du thực hiện. Việc sa thải ông Cao T xảy ra tại Trường
THCS & THPT bán công Nguyễn Du vào năm 2007, thời điểm này trường
THPT Bùi Thị Xuân là đơn vị độc lập trong hệ thống giáo dục.
Ngày 06/8/2010 thực hiện quyết định: 1760/QĐ–UBND của Uỷ ban nhân
dân tỉnh Lâm Đồng về việc tách khối học sinh THCS ra khỏi Trường THPT Bùi
Thị Xuân và tách khối học sinh THPT ra khỏi Trường THCS & THPT bán công
Nguyễn Du. Như vậy, từ ngày này Trường THPT Bùi Thị Xuân chỉ một cấp
học THPT. Trong danh ch giáo viên THPT từ Trường THCS & THPT bán
công Nguyễn Du chuyển sang không có tên ông Lê Cao T.
Ý kiến của người đại din S Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lâm Đồng:
Ông Cao T tham gia giảng dy tại Trường THPT bán công Nguyễn
Du theo hợp đồng s 56 ngày 30/12/2004, loại hợp đồng không thời hn theo
Luật lao động, ng việc là: Giáo viên. Khi Luật giáo dục được sửa đổi thì
không còn tồn ti loại hình trường bán công, chỉ có loại hình trường công lập
5
trường thục. Như vậy, Trường THPT bán công Nguyễn Du trên thực tế đã
gii th. Theo quyết định s: 1760/QĐ-UB ngày 06/08/2010 ca Ủy ban nhân
dân tỉnh Lâm Đồng v việc tách khối hc sinh THCS ra khỏi Trường Bùi Thị
Xuân tách khối THPT ra khỏi Trường THPT bán công Nguyễn Du thì đây là
phương án đ gii quyết s học sinh giáo viên của Trường THPT bán ng
Nguyn Du trong thời điểm đó. Số giáo viên hợp đồng của Trường THPT bán
công Nguyễn Du được xem xét hợp đồng ngn hn tại hai trường (Trường
THPT Bùi Thị Xuân, Trường THCS Nguyn Du) trong thời gian trước khi tuyn
dụng vào viên chức theo kế hoch chung của ngành giáo dục. Do Trường THPT
bán công Nguyễn Du không còn tn ti, Hiệu trưởng Trường THPT bán công
Nguyễn Du đã chết nên đề ngh Tòa án xem xét theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của người đại din Ủy ban nhân dân thành ph Đà Lạt thì:
Ông Cao T trước đây giáo viên ging dạy môn Giáo dục công dân
môn Văn tại Trường THPT bán công Nguyễn Du, Đà Lạt trc thuc S Giáo
dục và Đào tạo tỉnh Lâm Đồng quản lý. Đối vi vic khi kin ca ông Cao
T thì y ban nhân dân thành phố Đà Lạt không liên quan vì: Ông Lê Cao T công
tác chấm dt hợp đồng ti thời điểm tháng 02/2007, thời điểm này Trường
THPT bán công Nguyễn Du, Đà Lạt vn trc thuc thm quyn quản của S
Giáo dục Đào tạo tỉnh Lâm Đồng. Trường THCS Nguyễn Du được thành lập
tháng 8/2010 như vậy v kiện trên không liên quan đến Phòng Giáo dục Đào
to thành phố Đà Lạt. Mặt khác, trong thời gian công tác tại Trường THPT bán
công Nguyễn Du, ông Cao T giáo viên cấp 3 hưởng ngạch lương
15113 (mã ngch của giáo viên THPT). Trường hp nếu ông T không bị sa thi
thì tại thời điểm chia tách theo Quyết định s: 1760/QĐ-UBND ngày
06/08/2010 ca Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng thì ông T s đưc S Giáo dục
Đào tạo Ủy ban nhân dân thành phố Đà Lạt thc hin việc bàn giao giáo
viên Cao Tánh sang Trường THPT Bùi Thị Xuân. Trường Bùi Thị Xuân
trách nhiệm tiếp nhn ông Lê Cao T.
Ti bản án Lao động sơ thẩm s: 03/2008/LĐ-ST ngày 28/04/2008 Tòa án
nhân dân thành phố Đà Lạt đã xử: Không chấp nhn yêu cầu Kin quyết định
sa thải trái pháp luậtcủa ông Cao T đối vi b đơn Trưng THPT n
công Nguyễn Du, Đà Lạt. Không chấp nhn ni dung bản án thẩm ông T đã
kháng cáo. Tại Bn án Lao động phúc thm s: 01/2008/LĐ-PT ngày
16/09/2008 ca Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã xử: Không chấp nhận yêu
cầu kháng cáo của ông Cao T, gi nguyên Bn án Lao động sơ thm s:
03/2008/LĐ-ST ngày 28/04/2008 của Tòa án nhân dân thành ph Đà Lạt. Không
đồng ý vi quyết định của Tòa án sơ thẩm và phúc thẩm ông Lê Cao T đã khiếu
nại theo trình tự giám đốc thm.
Ti Quyết định giám đốc thm s: 05/2011/LĐ-GĐT ngày 27/09/2011 Tòa
Lao động Tòa án nhân dân Tối cao đã tuyên hy c 02 bản án nói trên giao
h sơ cho Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt xét xử sơ thẩm li.
6
Ti Bn án Lao động thẩm s: 09/2013/LĐ-ST ngày 17/9/2013 Tòa án
nhân dân thành phố Đà Lạt đã xử: Chp nhận yêu cầu Kin quyết định x kỷ
luật lao động theo hình thức sa thi” của ông Lê Cao T đối vi b đơn là Trường
THPT bán công Nguyễn Du, Đà Lạt.
Hy Quyết định k lut s: 03/QĐ-KL, ngày 06/02/2007 của hiu trưởng
Trường THPT bán công Nguyễn Du, Đà Lạt.
Buộc Trường THPT bán công Nguyễn Du, Đà Lạt (nay Trường THCS
Nguyễn Du, Đà Lạt) nhận ông Lê Cao T trở lại làm việc.
Buc Trường THPT bán công Nguyễn Du, Đà Lạt (nay Trường THCS
Nguyễn Du, Đà Lạt) phải thanh toán cho ông Cao T số tiền 232.847.000
đồng phải tiếp tục trả lương cho ông Cao T theo mức lương 4.600.000
đồng/tháng tính từ ngày 18/7/2013 cho đến khi nhận ông T trở lại làm việc (mức
lương này thi đổi khi mức lương tối thiểu thay đổi) khôi phục lại mọi chế độ
về bảo hiểm cho ông T theo quy định của pháp luật.
Không chấp nhn ni dung bản án thẩm Trường THCS Nguyễn Du, Đà
Lạt và ông T đã kháng cáo. Tại Bn án Lao động phúc thm s: 01/2014/LĐ-PT
ngày 10/01/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã xử: Không chấp nhn
yêu cầu kháng cáo ca ông Cao T, chp nhận yêu cầu kháng cáo của Trường
THCS Nguyễn Du, Đà Lạt, sửa án thẩm: Không chấp nhận yêu cầu Kin
quyết định x kỷ luật lao động theo hình thức sa thicủa ông Lê Cao T đi
vi b đơn là Trưng THPT bán công Nguyễn Du, Đà Lạt.
Không đồng ý với quyết đnh của Tòa án phúc thẩm ông Lê Cao T đã khiếu
nại theo trình tự giám đốc thẩm Viện kiểm sát nhân dân Cp cao ti TP. H
Chí Minh có Quyết định kháng nghị giám đc thm.
Ti Quyết định giám đc thm s: 04/2017/LĐ- GĐT ngày 07/7/2017 của
Tòa án nhân dân Cp cao ti Thành Phố H Chí Minh đã hủy bản án Lao động
thẩm s: 09/2013 ngày 17/9/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt
bản án Lao động phúc thm s: 01/2014/LĐ-PT ngày 10/01/2014 của Tòa án
nhân dân tỉnh Lâm Đồng giao hồ cho Tòa án nhân dân thành ph Đà Lạt
xét xử sơ thẩm li.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiu lần, nhưng các đương s không mt
đầy đủ nên không tiến hành hòa giải được.
Ti Bn án Lao động sơ thẩm s: 01/2020/LĐ-ST ngày 14/01/2020 của Tòa
án nhân dân thành phố Đà Lạt đã xử:
1. Chp nhận yêu cầu khi kin ca ông Cao T vi Trường THPT bán
công Nguyễn Du, Đà Lạt (nay Trường THCS Nguyễn Du, Đà Lạt) v vic
Kin quyết định x lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải”.
1.1. Hy Quyết định k lut s: 03/QĐ-KL, ngày 06/02/2007 của Hiu
trưởng Trường THPT bán công Nguyễn Du, Đà Lạt.
Buộc Trường THPT bán công Nguyễn Du, Đà Lạt (nay Trường THCS
Nguyễn Du, Đà Lạt) nhận ông Lê Cao T trở lại làm việc.
7
1.2. Buộc Trường THPT bán công Nguyễn Du, Đà Lạt (nay Trường
THCS Nguyễn Du, Đà Lạt) đăng tin xin lỗi công khai trên báo địa phương
báo Trung ương, Đài phát thanh và truyền hình Lâm Đồng trong 3 s liên tiếp.
1.3. Buộc Trường THPT bán công Nguyễn Du, Đà Lạt (nay Trường
THCS Nguyễn Du, Đà Lạt) phải thanh toán cho ông Cao T số tiền
614.680.000 đồng (Sáu trăm mười bốn triệu sáu trăm tám mươi ngàn đồng).
1.4. Buộc Trường THPT bán công Nguyễn Du, Đà Lạt (nay Trường
THCS Nguyễn Du, Đà Lạt) khôi phục mọi chế độ bảo hiểm cho ông Cao T
theo quy định, phải tiếp tục trả lương cho ông Cao T theo mức lương
5.960.000 đồng/tháng, tính từ tháng 01/2020 cho đến khi nhận ông T trở lại làm
việc (mức lương này thay đổi khi mức lương tối thiểu thay đổi).
2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Cao T đối với các yêu
cầu: Bồi thường tiền tổn thất tinh thần, tiền bgiảm sút so với thu nhập thực tế
tại thời điểm bị sa thải đến đến ngày Tòa xét xử vụ án; Toàn bcác khoản chi
phí cho việc khởi kiện: Tiền thuê luật sư, tiền tàu xe, tiền giấy mực khiếu nại
khởi kiện, tiền ăn đi lại trong suốt thời gian thực hiện việc đòi giải quyết
quyền lợi; Tiền thuê nhà để trong suốt thời gian bị sa thải, mất ch tiền
bồi thường do nhân phẩm bị xúc phạm, xâm hại do việc sa thải gây ra.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo trách
nhiệm thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 05/02/2020, bị đơn Trường THCS Nguyễn Du, Đà Lạt đại diện
ông Nguyễn Văn A kháng cáo toàn bộ bản án lao động sơ thẩm của Tòa án nhân
dân thành phố Đà Lạt.
Ngày 21/02/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt ban hành
Quyết định kháng nghị số: 04/QĐKNPT-VKS-, kháng nghị một phần Bản án
Lao động thẩm số: 01/2020/LĐ-ST ngày 14/01/2020 của Tòa án nhân dân
thành phố Đà Lạt. Đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm v phần hủy
Quyết định số: 03/QĐ-KL, ngày 06/02/2007 của Hiệu trưởng Trường THPT bán
công Nguyễn Du; Nhn ông Lê Cao T tr lại làm việc; Bồi thường tiền lương và
công khai xin lỗi ông T trên báo, đài Trung ương và địa phương trong ba s liên
tiếp mà bản án sơ thẩm đã tuyên.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Bị đơn Trường THCS Nguyễn Du, Đà Lạt giữ nguyên kháng cáo.
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng t toàn bộ nội dung Quyết định
kháng nghị số: 04/QĐKNPT-VKS- của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
thành phố Đà Lạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân
theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử;
việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thvụ
8
án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng quy định của pháp
luật.
Về nội dung giải quyết ván: Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của trường
THCS Nguyễn Du, Đà Lạt; Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguey6n
đơn ông Lê Cao T vviệc yêu cầu tuyên hủy Quyết định số: 03/QĐ-KL, ngày
06/02/2007 ca Hiệu trưởng Trường THPT bán công Nguyễn Du, Đà Lạt; Bác
các yêu cầu khi kin còn lại ca nguyên đơn ông Lê Cao T Trường THCS
Nguyễn Du, Đà Lạt không phải đơn vị kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của
Trường THPT n công Nguyễn Du, Đà Lạt.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối vi Quyết định kháng nghị số:
04/QĐKNPT-VKS- ca Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà
Lạt.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015 sửa Bản án lao động thẩm số: 01/2020/LĐ-ST ngày 14/01/2020
của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án cấp
thẩm xác định quan h tranh chấp Kin quyết định x kỷ lut theo hình
thc sa thi” thuộc thm quyn gii quyết của Tòa án căn cứ đúng
quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm ông Cao T rút yêu cầu khởi kiện đối với yêu
cầu bồi thường tiền tổn thất tinh thần, tiền bị giảm sút so với thu nhập thực tế tại
thời điểm bị sa thải đến đến ngày Tòa xét xử vụ án; Toàn bộ các khoản chi phí
cho việc khởi kiện: Tin thuê luật sư, tiền tàu xe, tiền giấy mực khiếu nại khởi
kiện, tiền ăn đi lại trong suốt thời gian thực hiện việc đòi giải quyết quyền lợi;
Tiền thuê nhà để trong suốt thời gian bị sa thải, mất chtiền bồi thường
do nhân phẩm bị c phạm, m hại do việc sa thải gây ra. Tòa án cấp thẩm
căn cứ Điu 244 B lut T tụng dân sự đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này. Ni
dung này các đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị
nên đã có hiệu lực pháp luật.
[3] Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà
Lạt:
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng rút toàn bộ
nội dung Quyết định kháng nghị số: 04/QĐKNPT-VKS- của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt. Nên cần đình chỉ xét xử phúc thẩm
đối với Quyết định kháng nghcủa Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành
phố Đà Lạt.
[4] Xét kháng cáo của bị đơn Trường THCS Nguyễn Du, Đà Lạt:
9
[4.1] Xác định cách tham gia t tng: Ông Cao T khi kin yêu cầu
Tòa án tuyên hủy Quyết định s: 03/QĐ-KL, ngày 06/02/2007 ca Hiệu trưởng
Trường THPT bán công Nguyễn Du, Đà Lạt yêu cầu được nhn lại làm việc;
Yêu cầu thanh toán tiền lương, khắc phc bo hiểm và yêu cầu công khai xin lỗi.
Ngày 25/10/2007 a án nhân dân thành phố Đà Lạt đã thụ gii quyết v án
theo trình tự thẩm. Trong quá trình Tòa án th lý giải quyết v án đã thu thập
các tài liệu, chng c thì thấy rng ti thời điểm ông T khi kin Trường THPT
Bán công Nguyễn Du chưa quyết định tách, sáp nhập theo Quyết định s:
1760/QĐ-UB v việc tách khối hc sinh THCS ra khỏi Trường Bùi Thị Xuân,
Đà Lạt tách khi THPT ra khỏi Trường THPT bán công Nguyễn Du, Đà Lạt.
Xét đây s chuyển đổi hình thức t chức loại hình đào tạo theo quy định
ca Lut Giáo dc sửa đổi năm 2010, không thuộc trường hp b gii th theo
như trình bày của S Giáo dc và Đào tạo.
[4.2] Tòa án cấp thẩm căn cứ quy định ti Điu 95, 96 B luật dân sự,
đim c khoản 2 Điều 74 B lut t tụng dân s Điu 2 ca Quyết định s:
1760/QĐ-UB ngày 06/08/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng xác định
Trường THCS Nguyễn Du, Đà Lạt người kế tha quyền nghĩa vụ ca
Trường THPT bán công Nguyễn Du, Đà Lạt và xác định Ủy ban nhân dân thành
ph Đà Lạt, S Giáo dục Đào to tỉnh Lâm Đồng, Trường THPT Bùi Thị
Xuân là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án là có căn cứ.
[5] V thi hiệu, trình t, th tc x kỷ luật lao động đối vi ông Lê Cao
T: Ngày 12/12/2006 ông Cao T hành vi tát học sinh Phạm Hoàng Minh
Trí chảy máu cam vi phm k lut lao động theo quy định tại điểm a Điều 33
Quyết định s: 23/2000/QĐ-BGDĐT, ngày 11/07/2000 của B Giáo dục và Đào
to v việc ban nh Điều l Trường trung học, nên Hiệu trưởng Trưng THPT
bán công Nguyễn Du, Đà Lạt đã thành lập Hội Đồng k lut x lý l luật và họp
xét kỷ luật đối vi ông Cao T. Ngày 23/12/2006 trường Nguyễn Du tờ
trình đ ngh S Giáo dục Đào tạo xem xét, quyết định hình thức k luật đối
vi ông Cao T. Ngày 27/12/2006 ngày 05/01/2007 S Giáo dục Đào
tạo yêu cầu Trường THPT bán công Nguyn Du, Đà Lạt kiện toàn hồ sơ xem xét
k luật đối vi ông Cao T theo quy định ca B luật lao động. Ngày
11/01/2007 Hiệu trưởng Trường THPT bán công Nguyễn Du ban hành Quyết
định s: 03/QĐ-KL v việc thành lập Hội đồng k luật ngày 12/01/2007 Hội
đồng k lut họp xét k luật đối vi ông Cao T. Ngày 06/02/2007 Hiu
trưởng Trưng THPT bán công Nguyễn Du, Đà Lạt đã có Quyết định s:
03/QĐ-KL k lut sa thải đi vi ông Cao T k t ngày 01/02/2007 đúng
quy định v thi hiu x vi phm k luật đã thực hiện đúng trình tự, th
tc v xét kỷ luật lao động đối vi ông T theo quy định tại Điều 86, Điều 87 B
luật lao động sửa đổi năm 2002, 2006.
[6] V ni dung quyết định k lut sa thải đối vi ông Lê Cao T: Tại Điều 1
ca Quyết định k lut sa thi s: 03/QĐ-KL, ngày 06/02/2007 thể hiện: Thi
hành kỷ lut sa thải giáo viên Cao Tánh mc sa thải, do vi phạm v
phm chất phạm của người thầy giáo: Trong quá trình xử học sinh lễ
10
với giáo viên đã không kìm hãm được nóng nẩy đánh học sinh gây chấn thương
mũi; Vic làm phản tác dụng giáo dục này đã ảnh hưởng xấu đến uy tín nhà
trường và ngành giáo dục, tạo dư luận không tốt trong xã hội”.
[6] Đối chiếu với quy định tại Điều 85 ca B Luật Lao động sửa đổi năm
2002, 2006 v áp dụng hình thức x lý k luật “Sa thải” thì các hành vi vi phm
ca ông Cao T không thuộc trường hợp được x k lut sa thải, cũng
không thuộc trường hợp quy định khác ti ni quy, quy chế của nhà trường hoc
của ngành Giáo dục nên Quyết định s: 03/-KL, ngày 06/02/2007 của Hiu
trưởng Trường THPT bán công Nguyễn Du, Đà Lạt trái với quy định tại Điều
85 B Luật Lao đng. Do vậy, yêu cầu khi kin ca ông Lê Cao T có căn cứ
chp nhn.
[7] Căn cứ quy định tại Điều 94 B Luật Lao động hy Quyết định k lut
s: 03/-KL, ngày 06/02/2007 của Hiệu trưởng Trường THPT bán công
Nguyễn Du, Đà Lạt. Buộc Trường THPT bán công Nguyễn Du, Đà Lạt (nay
Trường THCS Nguyễn Du, Đà Lạt), nhn ông T tr li làm việc khôi phục
mi chế đ v bo him theo quy đnh và phải thanh toán cho ông Lê Cao T tin
lương theo hệ s lương 3,00, mã ngch 15113 h s khu vực 0,1 hệ s ưu đãi
0,9 k t tháng 01/2007 đến 12/2013, tng cộng là: 614.680.000 đng. Do ông T
không kháng cáo nên cấp phúc thẩm ch xem xét đến thời điểm xét xử thẩm
(tháng 12/2019), c th tính như sau:
Tiền lương từ tháng 01/2007 đến tháng 12/2007: (3,00 + 0,1 + 0,9) x
450.000đ x 12 = 21.600.000 đồng;
Tiền lương từ tháng 01/2008 đến tháng 04/2009: (3,00 + 0,1 + 0,9) x
540.000đ x 16 tháng = 34.560.000 đồng;
Tiền lương từ tháng 05/2009 đến tháng 04/2010: (3,00 + 0,1 + 0,9) x
650.000đ x 12 tháng = 31.200.000 đồng;
Tiền lương từ tháng 05/2010 đến tháng 04/2011: (3,00 + 0,1 + 0,9) x
730.000đ x 12 tháng = 35.040.000 đồng;
Tiền lương từ tháng 05/2011 đến tháng 04/2012: (3,00 + 0,1 + 0,9) x
830.000đ x 12 tháng = 39.840.000 đồng;
Tiền lương từ tháng 05/2012 đến tháng 06/2013: (3,00 + 0,1 + 0,9) x
1.050.000đ x 14 tháng = 58.800.000đồng;
Tiền lương từ tháng 07/2013 đến 30/6/2016: (3,00 + 0,1 + 0,9) x
1.150.000đ x 35 tháng = 161.000.000 đồng;
Tiền lương t tháng 5/2016 đến 30/6/2017: (3,00 + 0,1 + 0,9) x 1.210.000đ
x 14 tháng = 67.760.000 đồng;
Tiền lương t tháng 07/2017 đến tháng 6/2018: (3,00 + 0,1 + 0,9) x
1.300.000đ x 12 tháng = 62.400.000 đồng;
11
Tiền lương t tháng 7/2018 đến tháng 6/2019: (3,00 + 0,1 + 0,9) x
1.390.000đ x 12 tháng = 66.720.000 đồng;
Tiền lương từ tháng 07/2019 đến tháng 12/2019: (3,00 + 0,1 + 0,9) x
1.490.000đ x 06 tháng = 35.760.000 đồng phải tiếp tc tr lương cho ông T
theo mức lương 5.960.000 đồng/tháng, tính từ tháng 01/2020 cho đến khi
trường THCS Nguyễn Du, Đà Lạt nhn ông T tr lại làm việc (mc lương này
thay đổi khi mức lương tối thiểu thay đổi).
[8] Tại phiên tòa phúc thẩm ông T t nguyện xin rút một phn yêu cầu khi
kin đối vi yêu cầu đăng tin xin lỗi công khai trên báo địa phương báo
Trung ương, Đài phát thanh và truyền hình Lâm Đồng trong 3 s liên tiếp. Việc
rút một phần yêu cầu khởi kiện của ông T là hoàn toàn tự nguyện và được b đơn
đồng ý. Áp dụng khoản 3 Điều 298, Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự đình
chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu này là phù hợp.
[9] T những phân tích nêu trên xét thấy Tòa án cp sơ thẩm đã xem t,
đánh gđúng nh cht, ni dung ca v án. Vin kiểm sát nhân n tỉnh Lâm
Đồng rút toàn bộ ni dung Quyết định kháng nghị số: 04/QĐKNPT-VKS- của
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt. Do đó, không có sở
chp nhận kháng cáo của b đơn, chp nhn vic t Quyết định kháng ngh ca
Vin kim t nhân n tỉnh m Đồng; Chp nhn vic t một phần yêu cu
khi kin ca nguyên đơn ông Cao T cn sa Bn án Lao đng thm s:
01/2020/LĐ-ST ngày 14/01/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt như đã
phân tích ở trên.
[10] Về án phí: Tranh chấp giữa ông T với Trường THCS Nguyễn Du, Đà
Lạt là vụ án tranh chấp về lao động có giá ngạch. Trường THCS Nguyễn Du, Đà
Lạt phải chịu án phí lao động thẩm tương ng với yêu cầu khởi kiện của ông
T được Tòa án chấp nhận 614.680.000 đồng. Do vụ án thụ thẩm lần đầu
vào ngày 25/10/2007 nên căn cứ Nghị Định số 70/CP ngày 12/6/1997 của Chính
phủ quy định về án phí, lệ phí tòa án, thì cthể: (Từ trên 100.000.000 đồng đến
1.000.000.000 đồng = 3.000.000 đồng + 2% của phần giá trị có tranh chấp vượt
quá 100.000.000 đồng) = 3.000.000 đồng + 514.680.000 đng x 2% =
10.293.000 đồng. Tòa án cấp thẩm đã buộc Trường THCS Nguyễn Du, Đà
Lạt phải chịu 13.293.600 đồng là chưa phù hợp nên cần sửa lại.
Do kháng cáo không được chấp nhận nên buộc Trường THCS Nguyễn Du,
Đà Lạt phải chịu án phí lao động phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị Định số 70/CP ngày 12/6/1997 của Chính phủ quy định về
án phí, lệ phí tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Trường THCS Nguyễn Du, Đà Lạt.
12
Chấp nhận việc rút Quyết định kháng nghị số: 04/QĐKNPT-VKS- của
Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt.
Sửa Bản án lao động sơ thẩm số: 01/2020/LĐ-ST ngày 14/01/2020 của Tòa
án nhân dân thành phố Đà Lạt. Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Cao T đối với Trường THPT
bán công Nguyễn Du, Đà Lạt (nay Trường THCS Nguyễn Du, Đà Lạt) v
việc “Kiện quyết định xử lý lỷ luật lao động theo hình thức Sa thải”.
1.1. Hủy quyết định kỷ luật số: 03/QĐ-KL, ngày 06/02/2007 của Hiệu
trưởng Trường THPT bán công Nguyễn Du, Đà Lạt.
1.2. Buộc Trường THPT bán công Nguyễn Du, Đà Lạt (nay Trường
THCS Nguyễn Du, Đà Lạt) nhận ông Lê Cao T trở lại làm việc.
1.3. Buộc Trường THPT bán công Nguyễn Du, Đà Lạt (nay Trường
THCS Nguyễn Du, Đà Lạt) phải thanh toán cho ông Cao T số tiền
614.680.000 đồng (Sáu trăm mười bn triệu sáu trăm tám mươi ngàn đồng).
1.4. Buộc Trường THPT bán công Nguyễn Du, Đà Lạt (nay Trường
THCS Nguyễn Du, Đà Lạt) khôi phục mọi chế độ bảo hiểm cho ông Cao T
theo quy định, phải tiếp tục trả lương cho ông Cao T theo mức lương
5.960.000 đồng/tháng, tính từ tháng 01/2020 cho đến khi nhn ông T tr lại làm
vic (mức lương này thay đổi khi mức lương tối thiểu thay đổi).
K t ngày bản án hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp quan
thi hành án có quyền ch động ra quyết định thi hành án) hoặc k t ngày
đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối vi các khoản tin
phi tr cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tt c các
khon tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chu khon tiền lãi ca s
tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định ti khoản 2 Điu 468 B lut
dân sự năm 2015.
2. Đình chỉ xét x đối vi yêu cầu khi kin ca ông Cao T v vic yêu
cu: Buộc Trường THPT bán công Nguyễn Du, Đà Lạt (nay Trường THCS
Nguyễn Du, Đà Lạt) đăng tin xin lỗi công khai trên báo địa phương báo
Trung ương, Đài phát thanh và truyền hình Lâm Đồng trong 3 s liên tiếp và bồi
thường tiền tổn thất tinh thần, tiền bị giảm sút so với thu nhập thực tế tại thời
điểm bị sa thải đến đến ngày Tòa xét xử vụ án; Toàn bộ các khoản chi phí cho
việc khởi kiện: Tin thuê luật sư, tiền tàu xe, tiền giấy mực khiếu nại khởi kiện,
tiền ăn đi lại trong suốt thời gian thực hiện việc đòi giải quyết quyền lợi; Tin
thuê nhà để trong suốt thời gian bị sa thải, mất chỗ tiền bồi thường do
nhân phẩm bị xúc phạm, xâm hại do việc sa thải gây ra.
3. Đình chỉ xét xử đối với Quyết định kháng nghị số: 04/QĐKNPT-VKS-
của Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt.
4. V án phí:
13
B đơn Trường THCS Nguyễn Du, Đà Lạt phải chịu 300.000 đồng án phí
lao động phúc thẩm 10.293.000 đồng án phí lao động thẩm nhưng được
khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số
0017186 ngày 14/02/2020 số tiền 200.000 đng theo biên lai thu số 0002930
ngày 07/10/2013 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm
Đồng. Trường THCS Nguyễn Du, Đà Lạt còn phải nộp số tiền 10.093.000 đồng
(mười triệu không trăm chín mươi ba nghìn đồng).
Hoàn trả cho ông Lê Cao T s tin 50.000 đồng theo biên lai thu s 001195
ngày 14/5/2008 Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân s
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật
Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- Phòng KTNV&THA;
- TAND thành phố Đà Lạt;
- Chi cục THADS thành phố Đà Lạt;
- Các đương sự (05);
- Lưu hồ sơ vụ án; lưu án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Thanh
14
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 22, Điều 38, Điều 41, Điều 42, Điều 44 và Điều 48 của
Bộ luật Lao động năm 2012;
- Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án n sự năm 2008 sửa đổi bổ sung
năm 2014;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26, Khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa
án;
Không chấp nhận kháng cáo của Trường.
Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, sửa bản án sơ thẩm.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Cao T về việc
“Tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động” đối
với Trường
1.1. Tuyên bố Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động số 07/QĐ-HTX
ngày 18/5/2019 của Hợp tác xã Taxi Đà Lạt là trái pháp luật.
1.2. Buộc Hợp tác Taxi Đà Lạt trách nhiệm thanh toán cho
Nguyễn Thị Mai Trang tổng số tiền 176.603.356đ (một trăm bảy mươi sáu triệu
sáu trăm lẻ ba nghìn ba trăm năm mươi sáu đồng).
15
1.3. Hợp đồng lao động không thời hạn số 02/2015/HĐ-HĐLĐ ngày
01/10/2015 có hiệu lực kể từ ngày 01/10/2015 Hợp đồng lao động số
07/2019/HĐLĐ có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2019, được ký kết giữa Hợp tác
Taxi Đà Lạt và bà Nguyễn Thị Mai Trang chấm dứt kể từ ngày 28/02/2020.
2. Về án phí: Hợp tác Taxi Đà Lạt phải chịu 5.298.101đ án phí Lao
động sơ thẩm và 300.000đ án phí lao động phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào
số tiền tạm ứng án p300.000đ đã nộp theo biên lai thu số AA/2016/0016881
ngày 14/11/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm
Đồng. Hợp tác Taxi Đà Lạt n phải nộp số tiền 5.298.101đ (năm triệu hai
trăm chín mươi tám nghìn một trăm lẻ mt đồng).
3. Về nghĩa vụ thi hành án:
Kể từ ngày Bản án hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp quan
thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi nh án (đối với các khoản tiền phải trả
cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất
quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi nh án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9
Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- Phòng KTNV&THA;
- TAND thành phố Đà Lạt;
- Chi cục THADS thành phố Đà Lạt;
- Các đương sự (02);
- Lưu hồ sơ vụ án; lưu án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Thanh
16
17
Bà Nguyễn Thị Mai Trang xác định nhân viên hợp đồng của HTX
Taxi, việc HTX Taxi Đà Lạt ban hành Quyết định số 07/QĐ-HTX ngày
18/5/2019, về việc chấm dứt hợp đồng lao động đối với Trang PGiám
đốc điều hành vận tải HTX Taxi Đà Lạt trái với quy định của pháp luật.
Trang yêu cầu tuyên bố Quyết định đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động
nêu trên trái pháp luật yêu cầu bồi thường thiệt hại. Còn bđơn HTX Taxi
không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trang nên giữa c
bên phát sinh tranh chấp. Tòa án cấp thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh
chấp “Tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động” phù hợp với quy định của pháp luật tại điểm a, khoản 1, Điều 32 Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015, thẩm quyền giải quyết thuộc vụ án lao động theo
quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Xét kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Thị Mai Trang, bị đơn HTX
Taxi Đà Lạt kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố
Đà Lạt:
[2] Trang nhân viên của HTX Taxi từ ngày 02/9/1999 đến ngày
01/10/2015, HTX Taxi Hợp đồng lao động không xác định thời hạn số
02/2015/HĐ-HĐLĐ ngày 01/10/2015 với Trang (bút lục 64) ngày
01/01/2019 tiếp tục ký hợp Hợp đồng lao động số 07/2019/HĐLĐ, xác định thời
hạn 01 năm tính từ ngày 01/01/2019 (bút lục 103). Theo đó, Trang được
tuyển dụng vào vị trí Phó Giám đốc điều hành vận tải; mức lương bản
3.969.000đ; tiền thưởng, chế độ nâng lương, chế độ đào tạo sẽ tùy theo tình hình
tài chính, tính chất công việc của HTX Taxi và hiệu quả làm việc của người lao
động thì HTX Taxi sẽ quyết định cụ thể (bút lục 66).
[3] Đến ngày 18/5/2019, HTX Taxi ban hành Quyết định số 07/QĐ-HTX
về việc chấm dứt hợp đồng lao động với bà trang HTX Taxi cho rằng do thay
đổi cấu tổ chức hoạt động của Văn phòng HTX Taxi nên đã ra Quyết định
chấm dứt Hợp đồng lao động số 07/QĐ-HTX đối với bà Trang.
18
Theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Lao động năm 2012 thì:
“1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động trong những trường hợp sau đây:
a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp
đồng lao động;
b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với
người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng
liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động c định thời hạn
quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao
động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định thời hạn ới 12 tháng
mà khả năng lao động chưa hồi phục.
Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem
xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;
c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những do bất khkháng khác theo quy
định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục
nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;
d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại
Điều 33 của Bộ luật này.
2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động
phải báo cho người lao động biết trước:
a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;
c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản
1 Điều này đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc
nhất định có thời hạn dưới 12 tháng”.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 44 Bộ luật Lao động năm 2012 thì:
“Trường hợp thay đổi cấu, công nghệ mà ảnh hưởng đến việc m của
nhiều người lao động, thì người sử dụng lao động trách nhiệm xây dựng và
thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật
này; trường hợp chỗ làm việc mới thì ưu tiên đào tạo lại người lao động để
tiếp tục sử dụng.
Trong trường hợp người sử dụng lao động không thể giải quyết được việc
làm mới phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm
cho người lao động theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật này”.
Đối chiếu với quy định của pháp luật nêu trên thì việc HTX Taxi ban hành
quyết định chấm dứt hợp đồng lao động đối với Trang không đúng theo
quy định tại Điều 38; Điều 44 của Bộ luật Lao động; Điều 13 Nghị định số
05/2015 ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
một số điều của Bộ luật Lao động Điều 7 Thông s 47/2015/TT-
BLĐTPXH ngày 16/11/2015 của Bộ Lao động - Thương binh Xã hội. Do đó,
19
Tòa án thẩm đã tuyên HTX Taxi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
với bà Trang trái pháp luật là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
[4] Theo quy định tại Khoản 1 Điều 42 Bộ luật Lao động năm 2012 thì:
Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động trái pháp luật Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng
lao động đã giao kết phải trả tiền lương, bảo hiểm hội, bảo hiểm y tế
trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02
tháng tiền lương theo hợp đồng lao động”. Việc HTX Taxi đơn phương chấm
dứt hợp đồng lao động trái pháp luật nên phải có trách nhiệm nhận Trang trở
lại làm việc nhưng do bà Trang không có nhu cầu trở lại làm việc nên HTX Taxi
không phải nhận Trang trở lại làm việc nhưng vẫn phải trách nhiệm thanh
toán tiền lương, tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế các khoản tiền bồi
thường khác cho Trang theo quy định tại Khoản 1 Điều 42 của Bộ luật Lao
động. Tòa án cấp sơ thẩm đã buộc HTX Taxi phải có trách nhiệm thanh toán cho
bà Trang các khoản tiền này là có căn cứ.
[5] Trong qtrình m việc tại HTX Taxi bà Trang thừa nhận có rất
nhiều hợp đồng lao động với HTX Taxi bà Trang khởi kiện căn cứ vào Hợp
đồng lao động không xác định thời hạn số 02/2015/HĐ-HĐLĐ ngày
01/10/2015, Trang Phó giám đốc điều hành vận tải của HTX Taxi hưởng
lương phụ cấp là 11.000.000đ/tháng (bút lục 30). Còn bị đơn HTX Taxi xuất
trình Hợp đồng lao động số 07/2019/HĐLĐ ngày 01/01/2019 xác định thời hạn
12 tháng, hiệu lực từ ngày 01/01/2019 đến ngày 31/12/2019 Trang
Phó giám đốc điều hành vận tải của HTX Taxi hưởng lương là
3.969.000đ/tháng.
Do bản hợp đồng lao động ký ngày 01/01/2019 mà bị đơn HTX Taxi cung
cấp thì bản hợp đồng này đã thay thế hợp đồng số 02/2015/HĐ-HĐLĐ ngày
01/10/2015 Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động số 07 ngày 18/5/2019
cũng n cứ theo Hợp đồng số 07/2019/HĐLĐ ngày 01/01/2019. Tòa án cấp
thẩm căn cứ Hợp đồng s 07/2019/HĐLĐ ngày 01/01/2019 để làm căn cứ tính
bồi thường cho bà Trang là phù hợp. Tuy nhiên, mức tiền phải thanh toán cho bà
Trang đối với từng khoản thì Tòa án cấp thẩm đã tính toán chưa chính c
nên cần phải điều chỉnh lại cho phù hợp với quy định của pháp luật, cụ thể:
Theo trình bày của Trang đại diện của HTX Taxi cũng thừa nhận:
Mức lương bảo ghi trong Hợp đồng lao động số 07/2019/HĐLĐ
3.969.000đ/tháng nhưng thực tế bà Trang nhận 15.000.000đ/tháng.
Theo Điều 3 của Hợp đồng lao động số 07/2019/HĐLĐ ngày 01/01/2019
được ký kết giữa HTX Taxi với bà Trang (bút lục 101-103) quy định:
+ Mức lương cơ bản: 3.969.000đ/tháng;
+ Tiền thưởng, chế độ nâng lương, chế độ đào tạo: Tùy theo tình hình tài
chính, tính chất công việc của HTX Taxi hiệu quả làm việc của người lao
động, HTX Taxi quyết định cụ thể;
20
+ Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp được hưởng theo
quy định của pháp luật.
Đối chiếu với bản thanh toán tiền lương tháng 5/2019 do HTX Taxi cung
cấp thì các khoản tiền mà bà Trang được hưởng hàng tháng, bao gồm: Lương
bản 3.969.000đ + trách nhiệm 3.500.000đ + thâm niên 2.40000đ + htrợ tiền ăn
730.000đ + htrợ tiền xăng 2.400.000đ + phụ cấp điện thoại 2.000.000đ các
khoản giảm trừ BHXH 1.270.304đ. Số tiền thực lãnh hàng tháng của bà Trang là
15.000.000đ (bút lục 184).
Đối chiếu với các văn bản pháp luật quy định về chế độ tiền lương đối với
người lao động được cụ thể như sau:
Theo Điều 4 của Thông số 47/2015/TT-BLĐTBXH ngày 16 tháng 11
năm 2015 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định:
Mức lương, phụ cấp lương các khoản bổ sung khác thỏa thuận ghi
trong hợp đồng lao động quy định tại Điểm a Khoản 5 Điều 4 Nghị định số
05/2015/NĐ-CP bao gồm:
1. Mức lương, ghi mức lương tính theo thời gian của công việc hoặc chức
danh theo thang lương, bảng lương do người sử dụng lao động xây dựng theo
quy định của pháp luật lao động hai bên đã thỏa thuận. Đối với người lao
động hưởng lương theo sản phẩm hoặc lương khoán thì ghi mức lương tính theo
thời gian để xác định đơn giá sản phẩm hoặc lương khoán.
2. Phụ cấp lương, ghi các khoản phụ cấp lương mà hai bên đã thỏa thuận,
cụ thể:
a) c khoản phụ cấp lương để đắp yếu tố về điều kiện lao động, tính
chất phức tạp công việc, điều kiện sinh hoạt, mức độ thu hút lao động mức
lương thỏa thuận trong hợp đồng lao động chưa được tính đến hoặc tính chưa
đầy đủ.
b) Các khoản phụ cấp lương gắn với quá trình làm việc và kết quả thực
hiện công việc của người lao động.
3. Các khoản bổ sung khác, ghi các khoản bổ sung hai bên đã thỏa
thuận, cụ thể:
a) Các khoản bổ sung c định được mức tiền cụ thể cùng với mức lương
thỏa thuận trong hợp đồng lao động trả thường xuyên trong mỗi kỳ trả
lương.
b) Các khoản bổ sung không xác định được mức tiền cụ thể cùng với mức
lương thỏa thuận trong hợp đồng lao động, trả thường xuyên hoặc không
thường xuyên trong mỗi kỳ trả lương gắn với quá trình làm việc, kết quả thực
hiện công việc của người lao động.
Đối với các chế đ phúc lợi khác, như tiền thưởng theo quy định
tại Điều 103 của Bộ luật lao động, tiền thưởng sáng kiến; tiền ăn giữa ca; các
khoản hỗ trợ xăng xe, điện thoại, đi lại, tiền nhà ở, tiền giữ trẻ, nuôi con nhỏ; h
21
trợ khi người lao động thân nhân bị chết, người lao động người thân kết
hôn, sinh nhật của người lao động, trợ cấp cho người lao động gặp hoàn cảnh
khó khăn khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và các khoản hỗ trợ, trợ cấp
khác thì ghi thành mục riêng trong hợp đồng lao động theo Khoản 11 Điều 4
Nghị định số 05/2015/NĐ-CP”.
Theo quy định tại mục thứ 10 của Điều 1 Nghị định số 148/2018/NĐ-
CP ngày 24 tháng 10 năm 2018 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số
điều của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy
định chi tiết hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động thì:
Tiền lương làm căn cứ bồi thường khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động trái pháp luật theo quy định tại Khoản 5 Điều 42 hoặc Khoản 2 Điều 43
của Bộ luật Lao động tiền lương theo hợp đồng lao động tại thời điểm người
sử dụng lao động hoặc người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động trái pháp luật.”
Đối chiếu với quy định của pháp luật nêu trên thì trong Hợp đồng lao
động số 07/2019/HĐLĐ giữa HTX Taxi Trang không quy định “Các
khoản hỗ trợ xăng xe, điện thoại, đi lại...” Điều lệ HTX Taxi cũng không quy
định về người lao động được hưởng các khoản tiền này. Mặc dù, hàng tháng
Trang nhận nhưng đó khoản thu nhập ngoài lương ghi trong hợp đồng lao
động HTX Taxi trả theo thực tế hiệu quả hoạt động kinh doanh của HTX
Taxi.
Do đó, số tiền hàng tháng của Trang về các khoản: Hỗ trợ tiền ăn
730.000đ + hỗ trợ tiền xăng 2.400.000đ + phụ cấp điện thoại 2.000.00do
tình hình thực tế hoạt động của HTX Taxi chi trả cho người lao động khi
Trang đang làm việc tại HTX Taxi. Mặt khác, HTX Taxi không đồng ý bồi
thường toàn bộ cho Trang. Tuy nhiên, do HTX Taxi đơn phương chấm dứt
hợp đồng lao động là trái pháp luật nên HTX Taxi phải bồi thường cho bà Trang
các khoản tiền lương các khoản phụ cấp theo lương, quy định cụ thể trong
hợp đồng quy định tại mục thứ 10 của Điều 1 Nghị định số 148/2018/NĐ-
CP ngày 24 tháng 10 năm 2018 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số
điều của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy
định chi tiết hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động là
căn cứ. Do vậy, Tòa án cấp thẩm đã buộc HTX Taxi bồi thường tiền lương
của 05 tháng Trang không được làm việc : 15.000.000đ x 05 tháng =
75.000.000đ và trợ cấp thôi việc là 15 năm 06 tháng 26 ngày (làm tròn 16 năm),
với mức lương 06 tháng liền kề của Trang trước khi thôi việc
15.000.000đ/tháng x 16 năm : 2 = 120.000.000đ và 02 tháng tiền lương theo hợp
đồng do HTX Taxi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
3.969.000đ x 02 tháng = 7.930.000đ là chưa chính xác, cần phải điều chỉnh lại
cho phù hợp.
Cụ thể: Trang được hưởng lương bản phụ cấp theo lương quy
định trong hợp đồng lao động gồm: Lương bản 3.969.000đ + trách nhiệm
3.500.000đ + thâm niên 2.40000đ = 9.870.000đ/tháng.
22
Theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 22 Bộ luật Lao động thì:
“1. Hợp đồng lao động phải được giao kết theo một trong các loại sau
đây:
a) Hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
Hợp đồng lao động không xác định thời hạn hợp đồng mà trong đó hai
bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng.
b) Hợp đồng lao động xác định thời hạn;
Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng trong đó hai bên
xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời
gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng.
c) Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định
thời hạn dưới 12 tháng.
2. Khi hợp đồng lao động quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này
hết hạn người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể
từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới;
nếu không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng đã giao kết theo quy định
tại điểm b khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động không xác định thời
hạn hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều này trở
thành hợp đồng lao động xác định thời hạn với thời hạn là 24 tháng.
Trường hợp hai bên kết hợp đồng lao động mới hợp đồng xác định
thời hạn thì cũng chỉ được thêm 01 lần, sau đó nếu người lao động vẫn tiếp
tục làm việc thì phải ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn”.
Đối chiếu với Hợp đồng lao động không xác định thời hạn số
02/2015/HĐ-HĐLĐ ngày 01/10/2015 Hợp đồng lao động số 07/2019/HĐLĐ
ngày 01/01/2019 xác định thời hạn 12 tháng, hiệu lực từ ngày 01/01/2019
đến ngày 31/12/2019 thì căn cứ xác định hợp đồng lao động giữa HTX Taxi
và bà Trang là loại hợp đồng không xác định thời hạn.
Do HTX Taxi đã trả lương cho Trang đến hết tháng 5/2019 nên tiền
lương cho những ngày Trang không làm việc được tính từ ngày 01/6/2019
đến ngày xét xử phúc thẩm ngày 28/02/2020 là 08 tháng 28 ngày (làm tròn 09
tháng), chưa trừ khoản tiền bảo hiểm do người lao động phải đóng phải trả
tiền bảo hiểm hội, bảo hiểm y tế theo mức lương bình quân 06 tháng trước
khi thôi việc cho bà Trang phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 42 của Bộ
luật Lao động, cụ thể:
- Tiền lương của 09 tháng không được làm việc: 9.870.000đ/tháng x 09
tháng = 88.830.000đ.
- Tiền bồi thường ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng do HTX Taxi
đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là 3.969.000đ x 02 tháng
= 7.938.000đ. Số tiền này HTX Taxi đã thanh toán cho bà Trang theo phiếu chi
23
ngày 20/5/2019 (bút lục 96) được làm tròn số tiền thành 7.940.000đ và bà Trang
cũng thừa nhận đã nhận đủ 7.940.000đ và không thắc mắc khiếu nại gì.
- Tiền bảo hiểm hội, bảo hiểm y tế mà HTX Taxi phải trích nộp theo
quy định của Luật bảo hiểm hội theo quy định tại Nghị định số
44/2017/NĐ-CP ngày 14/4/2017 của Chính phủ quy định mức đóng bảo hiểm xã
hội bắt buộc quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hiệu lực từ
ngày 01/6/2017 được tính từ tháng 6/2019 đến hết tháng 02/2019 (09 tháng)
theo mức tiền lương tham gia chế độ bảo hiểm của Trang 3.777.100đ (bút
lục 36), cụ thể: 3.777.100đ x 21,5% x 09 tháng = 7.308.689đ.
Do hợp đồng lao động đã chấm dứt nên HTX Taxi trách nhiệm chi trả
trợ cấp thôi việc cho Trang theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật Lao động
nên được tính như sau:
Thời gian công tác thường xuyên của Trang từ ngày 02/9/1999 đến
ngày xét xử phúc thẩm ngày 28/02/2020 20 năm 05 tháng 26 ngày, trừ đi thời
gian Trang tham gia đóng bảo hiểm thất nghiệp là 04 năm 05 tháng (bút lục
66; 151). Như vậy, theo quy định tại Khoản 2 Khoản 3 Điều 48 của Bộ luật
Lao động, thì thời gian làm việc thực tế của Trang tại HTX Taxi để tính trợ
cấp thôi việc làm tròn 16 năm, với mức lương 06 tháng liền kề của Trang
trước khi thôi việc là: Tháng 12/2018 hưởng lương 11.000.000đ từ tháng
01 đến tháng 05/2019 tính lương là 9.870.000đ/tháng. Như vậy, lương bình quân
của Trang là 10.058.333đ. Cụ thể: 10.058.333đ/tháng x 16 năm : 2 =
80.466.667đ.
Như vậy, tổng số tiền HTX Taxi phải trách nhiệm thanh toán cho
Trang do hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật tính
đến ngày xét xử phúc thẩm 28/02/2020 184.543.356đ (88.830.000đ +
7.938.000đ + 7.308.689đ + 80.466.667đ).
Do Trang đã nhận số tiền 7.940.000đ trợ cấp (bút lục 96), nên HTX
Taxi còn phải bồi thường cho bà Trang số tiền 184.543.356đ - 7.940.000đ =
176.603.356đ.
Với những nhận định trên cần chấp nhận một phần kháng cáo của
Trang, không chấp nhận kháng cáo của HTX Taxi Đà Lạt.
[6] Về án phí: Tranh chấp giữa Trang với HTX Taxi vụ án tranh
chấp về lao động có giá ngạch, án phí 3%/số tiền tranh chấp. Theo đó HTX Taxi
bồi thường cho Trang 176.603.356đ nên HTX Taxi phải chịu mức án phí lao
động sơ thẩm(176.603.356đ x 3%) = 5.298.101đ. Tòa án cấp sơ thẩm đã buộc
HTX Taxi phải chịu 9.990.000đ chưa phù hợp nên cần sửa lại. Do đó, căn
cứ chấp nhận mt phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân n thành phố Đà
Lạt về phần án phí. Bà Trang không phải chịu án phí theo quy định của pháp
luật.
Do kháng cáo không được chấp nhận nên buộc Hợp tác Taxi Đà Lạt
phải chịu án phí lao động phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
24
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 22, Điều 38, Điều 41, Điều 42, Điều 44 Điều 48 của
Bộ luật Lao động năm 2012;
- Căn cứ Điều 9 của Luật Hợp tác xã năm 2012;
- Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi bsung
năm 2014;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26, Khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa
án;
Chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Mai Trang.
Không chấp nhận kháng cáo của Hợp tác xã Taxi Đà Lạt.
Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, sửa bản án sơ thẩm.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị Mai Trang
về việc “Tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động” đối với Hợp Tác xã Taxi Đà Lạt.
1.1. Tuyên bố Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động số 07/QĐ-HTX
ngày 18/5/2019 của Hợp tác xã Taxi Đà Lạt là trái pháp luật.
1.2. Buộc Hợp tác Taxi Đà Lạt trách nhiệm thanh toán cho
Nguyễn Thị Mai Trang tổng số tiền 176.603.356đ (một trăm bảy mươi sáu triệu
sáu trăm lẻ ba nghìn ba trăm năm mươi sáu đồng).
1.3. Hợp đồng lao động không thời hạn số 02/2015/HĐ-HĐLĐ ngày
01/10/2015 có hiệu lực kể từ ngày 01/10/2015 và Hợp đồng lao động số
07/2019/HĐLĐ có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2019, được ký kết giữa Hợp tác
Taxi Đà Lạt và bà Nguyễn Thị Mai Trang chấm dứt kể từ ngày 28/02/2020.
2. Về án phí: Hợp tác Taxi Đà Lạt phải chịu 5.298.101đ án phí Lao
động sơ thẩm và 300.000đ án phí lao động phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào
số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo biên lai thu số AA/2016/0016881
ngày 14/11/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm
Đồng. Hợp tác Taxi Đà Lạt n phải nộp số tiền 5.298.101đ (năm triệu hai
trăm chín mươi tám nghìn một trăm lẻ mt đồng).
3. Về nghĩa vụ thi hành án:
Kể từ ngày Bản án hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp quan
thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi nh án (đối với các khoản tiền phải tr
25
cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất
quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân s
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi nh án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9
Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- Phòng KTNV&THA;
- TAND thành phố Đà Lạt;
- Chi cục THADS thành phố Đà Lạt;
- Các đương sự (02);
- Lưu hồ sơ vụ án; lưu án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Thanh
26
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Thanh
Huỳnh Châu Thạch
Bùi Hữu Nhân
Tải về
Bản án số 04/2020/LĐ-PT Bản án số 04/2020/LĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất